DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC CỦA
HỌC SINH
NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Giải pháp cũ thường làm
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT mà đặc biệt là giảng
dạy những tác phẩm văn học thuộc thể loại thơ trữ tình trước đây, bản thân tôi cùng
các đồng nghiệp vẫn quen sử dụng phương pháp dạy học truyền thống. Dạy học vẫn
nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết và truyền thụ tri thức một chiều vẫn là
phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên. Số giáo viên thường xuyên chủ
động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các
phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn
chưa nhiều. Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực
tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được
quan tâm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông, sử dụng các phương
tiện dạy học chưa được thực hiện rộng rãi và hiệu quả trong các trường trung học
phổ thông. Những giờ dạy học Ngữ văn trước đây tôi thấy dù có thành công mấy đi
chăng nữa thì học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ lĩnh hội, tiếp thu và ghi nhớ tri
thức một cách máy móc mà chưa phát huy hết được năng lực chủ động, sáng tạo
trong quá trình chiếm lĩnh tri thức mới.
Là một giáo viên đứng trên bục giảng tôi luôn băn khoăn suy nghĩ, trăn trở làm
cách nào có thể nâng cao được chất lượng giáo dục học sinh và điều quan trọng hơn
là học sinh qua mỗi bài học các em có thể khám phá được những tri thức mới như
thế nào và có thể ứng dụng được gì vào trong thực tiễn cuộc sống. Chính vì điều đó
tôi muốn cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để có thể đưa ra được một phương pháp dạy
học phù hợp với thực tiễn dạy học Ngữ văn ngày nay.
2. Giải pháp mới cải tiến
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển năng lực của học
sinh là phương hướng phù hợp với nhịp độ phát triển của thời đại đổi mới của đất
nước. Nắm được phương pháp trên và đưa nó ứng dụng vào giảng dạy, học tập môn
Đổi mới PPDH môn ngữ văn ở trường THPT là kết quả của một quá trình
nghiên cứu, thực hiện kiên trì và được nghiệm thu. Khâu đột phá về chất lượng đổi
mới phương pháp dạy học Ngữ văn là bồi dưỡng năng lực thực hành nghề nghiệp
của đội ngũ giáo viên. Trước hết đội ngũ giáo viên phải nhận thức việc đổi mới
phương pháp dạy học bộ môn thường xuyên là lẽ sống, là trách nhiệm, lương tâm,
danh dự của người thầy. Thầy giỏi mới đào tạo được trò giỏi. Thầy giỏi ở trường
THPT là người có khả năng tự nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ theo xu thế quốc tế, đáp ứng những đòi hỏi của đất nước trong thời kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, biết thường xuyên vận dụng kết quả tự nghiên cứu của
mình vào quá trình dạy học bộ môn.
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ
quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì
qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy
học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn
luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong
nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan
trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ
năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp
liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Đối với giáo viên Trung học, đó là cách hiểu mới về môn học, về bản chất
của khoa học và nghệ thuật của văn chương. Không hiểu văn không thể dạy văn.
Yêu cầu nắm vững kiên thức cơ bản về ngữ văn vẫn là một trong những nhân tố
quan trọng về tiềm năng của người giáo viên trong quá trình thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học.
Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp
dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng
việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao
chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bào yêu cầu rèn
luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho
người học.
- Cần sử dụng đủ, hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiếu đã quy
định. Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung
học và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin
trong dạy học.
2. Một số đặc điểm tâm lí của Học sinh THPT
Muốn tìm ra được phương pháp phù hợp để giáo dục học sinh phát triển
theo đúng hướng, đúng với mục tiêu, nội dung giáo dục, chúng ta cần phải hiểu tâm
lý lứa tuổi học sinh. Tâm lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông có những đặc
trưng khác so với tâm lý lứa tuổi học sinh trung học cơ sở hoặc tiểu học.
2.1. Đặc điểm về sự hình thành thế giới quan
Trong tâm lý của học sinh THPT thì sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu
vì các em sắp bước vào cuộc sống xã hội với bao điều đang đón đợi các em ở phía
trước, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá để có quan điểm về tự nhiên, xã hội, về
các nguyên tắc và quy tắc ứng xử trong cuộc sống, những định hướng giá trị về con
người. Các em quan tâm đến nhiều vấn đề như: thói quen đạo đức, cái xấu cái đẹp,
cái thiện cái ác, quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa cống hiến với hưởng thụ,
giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm… Tuy nhiên vẫn có em chưa được giáo dục
đầy đủ về thế giới quan, chịu ảnh hưởng của tư tưởng bảo thủ lạc hậu như: có thái
độ coi thường phụ nữ, coi khinh lao động chân tay, ý thức tổ chức kỉ luật kém, thích
có cuộc sống xa hoa, hưởng thụ hoặc sống thụ động…
Ở lứa tuổi học sinh THPT thì các em đã có ý thức xây dựng lý tưởng sống
cho mình, biết xây dựng hình ảnh con người lý tưởng gần với thực tế sinh hoạt hàng
ngày. Các em có thể hiểu sâu sắc và tinh tế những khái niệm, biết xử sự một cách
đúng đắn trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau nhưng có khi các em lại thiếu
tin tưởng vào những hành vi đó. Vì vậy, giáo viên phải khéo léo, tế nhị khi phê phán
năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính. Vì vậy
giáo viên cần hướng dẫn, giúp đỡ các em tư duy một cách tích cực độc lập để phân
tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng. Việc phát triển khả năng nhận
thức của học sinh trong dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người
giáo viên.
2.3. Đặc điểm về hoạt động học tập
Cũng như học sinh Trung học cơ sở hay Tiểu học thì hoạt động học tập vẫn
là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPT nhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với
tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em. Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học,
các em phải có một trình độ phát triển tư duy khái quát cao hơn. Những khó khăn
trở ngại mà các em gặp thường gắn với sự thiếu kĩ năng học tập trong những điều
kiện mới chứ không phải không muốn học như nhiều người nghĩ. Hứng thú học tập
của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thú
mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn.
Tình cảm và thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển
biến rõ rệt. Học sinh THPT đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các
em ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời đầy thử thách
mà đòi hỏi các em phải tự lập. Thái độ, ý thức đối với việc học tập của các em được
tăng lên mạnh mẽ. Học tập mang ý nghĩa sống còn trực tiếp vì các em đã ý thức rõ
ràng được rằng: vốn tri thức, kĩ năng và kĩ xảo hiện có, được hình thành trong nhà
trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao
động của xã hội. Điều này đã làm cho học sinh THPT bắt đầu đánh giá hoạt động
chủ yếu theo quan điểm riêng của mình. Các em bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với
từng môn học. Rất hiếm xảy ra trường hợp có thái độ như nhau với các môn
học. Do vậy, giáo viên phải làm cho các em học sinh hiểu ý nghĩa và chức năng
giáo dục phổ thông đối với giáo dục nghề nghiệp và đối với sự phát triển nhân cách
toàn diện của học sinh.
Mặt khác,ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các em đã
trở nên xác định và được thể hiện rõ ràng hơn. Các em thường bắt đầu có hứng thú
các năng lực, đáp ứng với các yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việc rèn
luyện và phát triển các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói. Với đặc trưng của môn học,
môn Ngữ văn triển khai các mạch nội dung bao gồm các phân môn Văn học, Tiếng
Việt, Làm văn, nhằm hướng dẫn học sinh đọc hiểu các văn bản và tạo lập được các
văn bản theo các kiểu loại khác nhau.
Trong quá trình hướng dẫn học sinh tiếp xúc với văn bản, môn ngữ văn giúp
học sinh từng bước hình thành và nâng cao các năng lực học tập của môn học, cụ
thể là năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe, đọc) và năng lực tạo lập văn
bản (gồm kỹ năng nói và viết). Năng lực đọc-hiểu văn bản của học sinh thể hiện ở
khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức về Tiếng Việt, về các loại hình văn bản
và kỹ năng, phương pháp đọc, khả năng thu thập các thông tin, cảm thụ cái đẹp và
giá trị của tác phẩm văn chương nghệ thuật.
Năng lực tạo lập văn bản của học sinh thể hiện ở khả năng vận dụng tổng hợp
kiến thức về các kiểu văn bản, với ý thức và tình yêu Tiếng Việt, văn học, văn hóa,
cùng kỹ năng thực hành tạo lập văn bản, theo các phương thức biểu đạt khác nhau,
theo hình thức trình bày miệng hoặc viết. Thông qua các năng lực học tập của bộ
môn để hướng tới các năng lực chung và các năng lực đặc thù của môn học.
3.2. Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển
năng lực học sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là chuyển những kết quả về đổi mới
phương pháp dạy học của chương trình Ngữ văn hiện hành từ "mặt bên ngoài" vào
"mặt bên trong" để phát huy hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học, đáp ứng mục
tiêu hình thành và phát triển năng lực của học sinh.
Đối với môn Ngữ văn, khi vận dụng các phương pháp dạy học phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh như giải quyết vấn đề, dạy học
khám phá, dạy học theo dự án,...cần chú ý đến sự khác biệt về năng lực và sở thích
của mỗi học sinh trong tiếp nhận văn bản, nhất là các văn bản văn học để có cách tổ
chức dạy học phân hóa phù hợp; đặc biệt chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học,
đưa ra là những tình huống xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, tình huống đó đã gặp
hoặc có thể gặp hàng ngày. Những tình huống đó chứa đựng vấn đề cần giải quyết.
Để giải quyết các vấn đề đó đòi hỏi có những quyết định dựa trên cơ sở những giải
pháp được đưa ra để giải quyết. Trong nghiên cứu trường hợp, học sinh không phải
ghi nhớ lý thuyết mà quan trọng là vận dụng kiến thức đã học vào việc giải quyết
những tình huống cụ thể. Trong môn học Ngữ văn, nghiên cứu tình huống thường
được thực hiện trong một số nội dung sau: Phân tích một tình huống giao tiếp, tìm
hiểu một văn bản văn học tiêu biểu cho một kiểu loại, tìm hiểu một vấn đề thực tiễn
cuộc sống để tạo lập một văn bản.
Phương pháp dạy học theo dự án là một hình thức dạy học trong đó người học
thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn,
thực hành. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn
bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự
án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Dạy học theo dự
án là phương pháp học tập mang tính xây dựng, trong đó học sinh hoàn toàn chủ
động tham gia hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên để tạo ra một sản phẩm
hay vận dụng những kiến thức đã học để tìm hiểu, thực hành nghiên cứu một vấn đề
trong học tập hay giải quyết một vấn đề trong cuộc sống. Nói khác, học theo dự án
là một hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho người học tổng hợp kiến thức từ
nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống. Quá
trình học theo dự án giúp người học củng cố kiến thức, xây dựng các kỹ năng hợp
tác, giao tiếp và học tập độc lập, chuẩn bị hành trang học tập suốt đời cho người
học, đặc biệt là cho thế hệ trẻ và đối mặt với thử thách trong cuộc sống. Học theo dự
án là hoạt động tìm hiểu sâu về một chủ đề cụ thể với mục tiêu tạo cơ hội để người
học thực hiện nghiên cứu vấn đề thông qua việc kết nối các thông tin, phối hợp
nhiều kỹ năng giá trị và thái độ nhằm xây dựng kiến thức, phát triển khả năng.
3.2.2. Hình thức tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh.
Hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh là một trong những
Phần 2
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
HUY NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG BÀI DẠY ĐÂY THÔN VĨ DẠ
1. Định hướng thiết kế bài học ngữ văn theo hướng phát triển năng lực của học
sinh
Một giờ dạy học thành công là do sự chi phối của nhiều yếu tố. Chuẩn bị một
giờ dạy học là một trong những yếu tố quan trọng, nó quyết định không nhỏ tới
thành công của một giờ dạy. Có chuẩn bị tốt, chu đáo, kĩ càng thì hiệu quả của một
giờ dạy sẽ được nâng lên một cách rõ ràng.
Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực
hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học,
tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học.
Để phát triển năng lực của học sinh trong giờ Ngữ văn cấp THPT, cần đổi mới
mạnh mẽ việc thiết kế bài học từ phía giáo viên. Trong thiết kế, giáo viên phải cho
thấy rõ các hoạt động của học sinh chiếm vị trí chủ yếu. Với giáo viên, phương
pháp thuyết trình nên giảm thiểu tới mức tối đa, thay vào đó là tổ chức hoạt động
cho học sinh bằng việc nêu vấn đề, đề xuất các tình huống, dự án.
Để phát huy được vai trò chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
THPT trong quá trình học tập cần vận dụng lý thuyết kiến tạo của J. Bruner vào
trong quá trình dạy học. Thuyết kiến tạo của J. Bruner là lý thuyết về sự nhận thức
được bắt nguồn từ tư tưởng của J. Piaget. Đây là một trong những lý thuyết dạy học
vượt trội được sử dụng trong giáo dục hiện nay. Tư tưởng cốt lõi của thuyết kiến tạo
là: con người kiến tạo những sự hiểu biết và tri thức về thế giới thông qua trải
nghiệm và phản ánh...Trong bất cứ trường hợp nào, mỗi người thật sự là nhà kiến
tạo tri thức cho chính bản thân. Để làm điều này, chúng ta phải đưa ra những nghi
vấn, khám phá và đánh giá cái mà chúng ta biết...Trong một lớp học kiến tạo, tâm
- Giúp giáo viên tìm hiểu xem học sinh có hiểu biết như thế nào về những vấn
đề trong cuộc sống có liên quan đến nội dung bài học.
* Nội dung, hình thức trải nghiệm
- Câu hỏi, bài tập: có thể là quan sát tranh/ảnh để trao đổi với nhau về một vấn
đề nào đó có liên quan đến bài học; hoặc trực tiếp ôn lại kiến thức đã học ở cấp/lớp
dưới, thiết kế dưới dạng kết nối hoặc những câu hỏi đơn giản, nhẹ nhàng.
- Thi đọc, ngâm thơ, kể chuyện, hát...: một số hoạt động yêu cầu học sinh đọc
diễn cảm, ngâm thơ, kể chuyện hoặc hát về chủ đề liên quan đến bài học. Các hoạt
động này trong một số trường hợp được thiết kế thành các cuộc thi, nhằm tạo ra
không khí sôi nổi, hứng thú trước khi tiến hành học bài mới.
- Trò chơi: một số trò chơi trong hoạt động khởi động giúp tạo ra hứng thú
trước khi vào bài học mới. Các trò chơi này cũng cần có nội dung gắn với mỗi bài
học.
1.2. Hoạt động hình thành kiến thức mới
* Mục đích của hoạt động
Hoạt động này giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua hệ thống
các bài tập/nhiệm vụ.
* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ
Các tri thức ở hoạt động này thuộc các phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập
làm văn trong sách giáo khoa hiện hành được tiến hành theo trình tự sau:
1.2.1. Đọc hiểu văn bản
Bước này yêu cầu học sinh đọc văn bản và chú thích. Giáo viên có thể giao
nhiệm vụ cho học sinh đọc trước ở nhà. Đến lớp chỉ đọc một đoạn hoặc bài ngắn và
một vài lưu ý trong chú thích. Sau đó giáo viên thiết kế những hoạt động hướng dẫn
học sinh tìm hiểu văn bản bằng việc sử dụng một số câu hỏi tập hợp thành một bài
tập/nhiệm vụ lớn hơn; thiết kế các bài tập trắc nghiệm, kết hợp tự luận; thiết kế các
hoạt động kích thích, sáng tạo... Nội dung các bài tập/nhiệm vụ trong mục này nêu
lên các yêu cầu tìm hiểu về đặc điểm thể loại, nội dung, nghệ thuật của văn bản.
hình thành các kỹ năng cho học sinh, khác với bài tập trong Hoạt động hình thành
kiến thức mới chủ yếu hướng tới việc khám phá tri thức. Đây là hoạt động gắn với
thực tiễn bao gồm những nhiệm vụ như: trình bày, viết văn...
Lưu ý:
Học sinh có thể được hướng dẫn hoạt động cá nhân hoặc nhóm để hoàn thành
các câu hỏi, bài tập, bài thực hành...Hoạt động cá nhân để học sinh hiểu và biết
được mình hiểu kiến thức như thế nào, có góp gì vào hoạt động nhóm và xây dựng
các hoạt động của tập thể lớp. Hoạt động nhóm để trao đổi, chia sẻ kết quả mình
làm được, thông qua đó học sinh có thể học tập lẫn nhau, tự sửa lỗi cho nhau, giúp
cho quá trình học tập của học sinh hiệu quả hơn. Kết thúc hoạt động này học sinh sẽ
trao đổi với giáo viên để được bổ xung, uốn nắn những nội dung chưa đúng.
1.4. Hoạt động ứng dụng
* Mục đích của hoạt động
Hoạt động này giúp học sinh sử dụng kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyết
các vấn đề, nhiệm vụ trong thực tế. "Thực tế" ở đây được hiểu là thực tế trong nhà
trường, trong gia đình và trong cuộc sống của học sinh. Hoạt động này sẽ khuyến
khích học sinh nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra cái mới theo sự hiểu biết của mình; tìm
phương pháp giải quyết vấn đề và đưa ra những các giải quyết vấn đề khác nhau;
góp phần hình thành năng lực học tập với gia đình và cộng đồng.
* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ
Các bài tập ứng dụng gồm các loại:
- Vận dụng kiến thức đọc hiểu để giải thích, phân tích một hiện tượng văn học,
văn hóa khác tương ứng. Ví dụ: giải thích các câu tục ngữ, phân tích các bài ca dao,
nêu ý kiến về một hiện tượng văn hóa...
- Vận dụng kiến thức, kỹ năng Tiếng Việt để giải quyết một số vấn đề như: giải
nghĩa, từ loại, xác định cấu tạo từ...trong các hiện tượng ngôn ngữ của cuộc sống.
- Tiếp tục rèn luyện kỹ năng làm văn.
Lưu ý:
động cho cá nhân, hoạt động cho cặp đôi, hoạt động nhóm, hoạt động chung cả lớp,
hoạt động với cộng đồng.
+ Hoạt động cá nhân: là hoạt động yêu cầu học sinh thực hiện các bài
tập/nhiệm vụ một cách độc lập. Loại hoạt động này nhằm tăng cường khả năng hoạt
động độc lập của học sinh, diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là đối với các bài
tập/nhiệm vụ có yêu cầu khám phá, sáng tạo, hoặc rèn luyện đặc thù. Giáo viên cần
đặc biệt coi trọng hoạt động cá nhân vì nếu thiếu nó, nhận thức của học sinh sẽ
không đạt tới mức độ sâu sắc và chắc chắn cần thiết, cũng như các kỹ năng sẽ
không được rèn luyện một cách tập trung.
+ Hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm: là những hoạt động nhằm giúp học
sinh phát triển năng lực hợp tác, tăng cường sự chia sẻ và tính cộng đồng.
Khi tổ chức hoạt động này, giáo viên cần xác định rõ mục đích, nội dung bài
tập/nhiệm vụ cho phù hợp với hoạt động cặp đôi hay hoạt động nhóm. Thông
thường, hình thức hoạt động cặp đôi được sử dụng trong những trường hợp, những
bài tập cần sự chia sẻ. Ví dụ: kể cho nhau nghe, nói với nhau một nội dung cần chia
sẻ, đổi bài cho nhau để đánh giá chéo,...Hình thức hoạt động nhóm được sử dụng
trong trường hợp cần sự hợp tác.
+ Hoạt động chung cả lớp: là hình thức hoạt động phù hợp với số đông học
sinh. Đây là hình thức nhằm tăng cường tính cộng đồng, giáo dục tinh thần đoàn
kết, sự chia sẻ, tinh thần chung sống hài hòa.
+ Hoạt động cộng đồng: là hình thức hoạt động cue học sinh trong mối tương
tác với xã hội. Hoạt động với cộng đồng bao gồm các hình thức từ đơn giản như:
tham gia bảo vệ môi trường, tìm hiểu các di tích văn hóa, lịch sử ở địa phương....
Định hướng thiết kế bài học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực của học
sinh cấp THPT trên đây là một hướng đi mới. Đổi mới phương pháp dạy học hiện
nay nên đi theo định hướng thiết kế bài học ngữ văn như trên.
2. Thiết kế bài học Đây thôn Vĩ dạ theo hướng phát triển năng lực của học
sinh
Phần này giáo viên tổ chức học sinh hình thành kiến thức mới bằng cách giao
cho các nhóm các câu hỏi, bài tập, tập hợp thành các câu hỏi theo một hệ thống
logic, có thể kết hợp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm và tự luận. Giáo viên định hướng
và kiểm tra học sinh trong quá trình tự chiếm lĩnh kiến thức mới. Học sinh trên cơ
sở thảo luận đi đến thống nhất trong nhóm và cử đại diện trình bày sản phẩm của
nhóm mình. Sau đó giáo viên sẽ nhận xét phần trình bày của các nhóm và đi đến
thống nhất rồi chốt lại kiến thức cơ bản.
Giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi trắc nghiệm kết hợp với câu hỏi tự luận để
các nhóm thảo luận như sau:
* Đối với phần hình thành kiến thức chung về bài thơ đây thôn Vĩ Dạ
- Dòng nào nhận xét đúng về âm điệu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ?
a. Trầm hùng, bi phẫn trang trọng
b. Hào sảng, khoan thai dõng dạc
c. Nhẹ nhàng, da diết, khắc khoải
d. Chậm buồn, ảo não, nghẹn ngào
- Đề tài của bài thơ là:
a. Tình yêu thiên nhiên
b. Tình yêu quê hương đất nước
c. Tình yêu lứa đôi
d. Cả A, B,C
* Đối với việc hình thành kiến thức mới về khổ thơ đầu của bài thơ đây thôn Vĩ Dạ
- Xác định Hình thức? Sắc thái? Chủ thể trữ tình trong câu thơ đầu?
- Bức tranh thôn Vĩ trong hoài niệm của thi nhân hiện lên như thế nào?
- Xác định hình thức nghệ thuật và tác dụng của hình thức nghệ thuật ấy?(từ ngữ,
hình ảnh, biện pháp tu từ)
- Hình ảnh người thôn Vĩ hiện lên qua chi tiết nào? sức gợi của chi tiết đó? Từ bức
tranh ngoại cảnh em hiểu gì về cảm xúc của thi nhân?
2.3. Hoạt động thực hành
định cấu tạo từ...trong các hiện tượng ngôn ngữ của cuộc sống và trong giao tiếp
hàng ngày.
2.5. Hoạt động bổ xung
Hoạt động này yêu cầu hoc sinh làm ở nhà: giáo viên giao nhiệm vụ/bài tập về
nhà yêu cầu học sinh tìm đọc sách, báo mạng và sưu tầm những tác phẩm văn
chương, đặc biệt là thơ viết về Huế nói chung và thôn Vĩ Dạ nói riêng, từ đó nêu
cảm nhận về giá trị của những tác phẩm đó.
3. Giáo án thực nghiệm
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
(Tiết 1)
Hàn Mặc Tử
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
Giúp học sinh:
Về kiến thức:
- Nắm được những nét cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Hàn Mặc Tử.
- Cảm nhận được những nét đặc sắc của bài thơ nói chung và của khổ thơ đầu nói
riêng: khổ thơ đầu của bài thơ là bức tranh phong cảnh và cũng là tâm cảnh, thể
hiện nỗi buồn cô đơn của nhà thơ trong một mối tình xa xăm, vô vọng. Hơn thế, đó
còn là tấm lòng thiết tha của nhà thơ với thiên nhiên, cuộc sống trần thế và con
người.
- Nhận biết được sự vận động của tứ thơ, của tâm trạng chủ thể trữ tình và bút pháp
tài hoa, độc đáo của Hàn Mặc Tử.
Về kĩ năng:
- Rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu văn bản thuộc thể loại thơ trữ tình, có thể vận dụng
kĩ năng đó vào trong nhiều văn bản mà các em sẽ gặp sau này
của thơ mới nói riêng và cũng là một trong những nhà thơ bất hạnh nhất của nền
văn học Việt Nam hiện đại. Tuy cuộc nhân duyên giữa thi sĩ tài hoa này với Thơ
mới chỉ vỏn vẹn 9 năm nhưng cũng đủ để hồn thơ ấy thăng hoa thành một ngôi sao
sáng trên thi đàn dân tộc. Tiết học hôm nay, thầy trò chúng ta sẽ cùng nhau khám
phá thế giới thơ của Hàn Mặc Tử qua bài Đây thôn Vĩ Dạ
Hoạt động của GV và HS
Nội dung cần đạt