1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em là một trong những nhiệm vụ hàng
đầu trong chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước ta. Muốn
thực hiện tốt nhiệm vụ này, cần nắm vững các đặc điểm về thể lực, trí tuệ và
tâm sinh lý của trẻ. Vì vậy, nghiên cứu các chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em
luôn có ý nghĩa quan trọng.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các chỉ số thể lực, trí tuệ của con
người có thể thay đổi và phụ thuộc vào các kỳ điều tra, điều kiện kinh tế xã
hội và môi trường tự nhiên [12], [23], [44], [58], [63], [67], [71], [74], [75].
Do đó, các chỉ số thể lực, trí tuệ của con người nói chung, của trẻ em nói
riêng cần được tiến hành nghiên cứu thường xuyên và có sự tổng kết trong
một khoảng thời gian nhất định.
Đến nay, đã có một số tác giả nghiên cứu về thể lực, chức năng sinh lý,
năng lực trí tuệ của người Việt Nam [6], [10], [20], [23], [24], [28], [34], [40],
[43],… Tuy nhiên, những nghiên cứu trên đối tượng trẻ em lứa tuổi mầm non
còn ít và chủ yếu là nghiên cứu về chức năng sinh lý, tình trạng dinh dưỡng.
Việc nghiên cứu các chỉ số thể lực, sinh lý và trí tuệ ở trẻ em lứa tuổi mầm
non là cần thiết. Nó cung cấp dẫn liệu cho công tác nuôi dạy trẻ em ở bậc học
mầm non, cũng như tạo cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp hữu hiệu
nhằm phát triển thế hệ tương lai của đất nước một cách tốt nhất.
Kiến Xương là một huyện thuần nông của tỉnh Thái Bình. Trong những
năm gần đây, mức sống của người dân đã được nâng cao, nhưng ở một số xã,
đời sống của người dân vẫn còn nhiều khó khăn. Đến nay, chưa có một đề tài
nào nghiên cứu về thể lực, trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non của huyện để có
thể dựa vào đó đề ra biện pháp góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục và
chăm sóc sức khỏe cho trẻ em ở địa bàn này.
3
5. Phương pháp nghiên cứu
+ Các chỉ số: chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu, tần số tim, tần
số thở được xác định theo các phương pháp hiện hành.
+ Các chỉ số pignet, BMI được tính theo công thức:
Pignet = chiều cao đứng (cm) - [cân nặng (kg) + vòng ngực(cm)]
BMI = cân nặng (kg) / [chiều cao đứng (m)]2
+ Năng lực trí tuệ được xác định bằng test Ravent màu dùng cho trẻ em
từ 6 tuổi trở xuống.
+ Trí nhớ được xác định bằng phương pháp Nechaiev.
Kết quả nghiên cứu được phân tích và xử lý trên máy vi tính bằng
chương trình Microsoft Excel.
6. Những đóng góp mới của đề tài
- Là đề tài đầu tiên xác định được một số chỉ số về thể lực và trí tuệ của
trẻ em lứa tuổi mầm non tại xã Bình Thanh và xã Hồng Tiến của huyện Kiến
Xương, tỉnh Thái Bình.
- Bước đầu nghiên cứu mối liên quan giữa một số chỉ số nghiên cứu ở trẻ
em lứa tuổi mầm non.
- Kết quả trong luận văn có thể góp phần vào việc bổ sung số liệu cho
hướng nghiên cứu về thể lực, sinh lý, trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non,
cung cấp dẫn liệu cho quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và là dẫn liệu
cho công tác nuôi dạy trẻ em mầm non được tốt hơn.
4
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
lứa tuổi mầm non
1.2.1. Các chỉ số về thể lực của trẻ em lứa tuổi mầm non
Thể lực là một chỉ tiêu dùng để đánh giá sức khoẻ, tầm vóc, sự tăng
trưởng, phát triển và khả năng học tập, lao động của con người [63]. Để đánh
giá sự phát triển thể lực, người ta thường dùng các chỉ số về hình thái như
chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu… Trong đó, ba chỉ số cơ bản là
chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực đóng vai trò quan trọng nhất. Từ các
chỉ số cơ bản này, người ta có thể suy ra các chỉ số tổng hợp khác như chỉ số
pignet, BMI [36], [42], [66].
Chiều cao của cơ thể là dấu hiệu được nhận xét sớm nhất trong hầu hết
các lĩnh vực ứng dụng của nhân trắc học. Chiều cao của mỗi người được
quyết định bởi đặc điểm di truyền, giới tính và chịu ảnh hưởng nhất định của
điều kiện sống [2], [10], [12], [36], [42], [48], [63], [74].
Ở trẻ em lứa tuổi mầm non, chiều cao phát triển rất nhanh, nhất là trong
những năm đầu. Chiều cao của các em tăng trung bình 7cm/năm ở giai đoạn
từ 1 đến 3 tuổi, và tăng trung bình 6 cm/năm từ 3 đến 6 tuổi [4], [7], [36].
Để theo dõi sự tăng trưởng về chiều cao ở trẻ em, có thể áp dụng công
thức tính gần đúng chiều cao trung bình cho trẻ em trên một tuổi [36], [72].
X (cm) = 75 + 5.n
Trong đó: X - chiều cao đứng (cm); n - số tuổi (năm); 75 - chiều cao trẻ
1 năm; 5 - chiều cao tăng trung bình/năm.
Cùng với chiều cao, cân nặng cũng được coi là một chỉ số quan trọng để
đánh giá sự phát triển của cơ thể. Cân nặng biểu thị mức độ và tỷ lệ giữa hấp
thụ với tiêu hao năng lượng của con người. So với chiều cao, cân nặng của cơ
thể ít phụ thuộc vào yếu tố di truyền hơn mà có liên quan chủ yếu tới điều
kiện dinh dưỡng [2], [12], [19], [27], [48]...
6
số tim và thể tích co tim. Vì vậy, tần số tim là một trong các chỉ số quan trọng
để đánh giá hoạt động của hệ tuần hoàn [41], [42], [45], (theo [83]).
Tần số tim là số lần tim co bóp trong một phút. Tần số tim có thể thay
đổi và phụ thuộc vào các trạng thái tâm sinh lý khác nhau [36], [46], [62]. Tần
số tim của trẻ em cao hơn nhiều so với của người trưởng thành. Trong quá
trình phát triển cá thể của trẻ em, tần số tim giảm dần theo tuổi. Tốc độ giảm
tần số tim của trẻ em không đều. Ở cùng một độ tuổi, tần số tim của nam và
của nữ khác nhau. Tần số tim của trẻ em dễ thay đổi khi khóc, sốt, sợ hãi,
gắng sức... [3], [36], [52].
1.2.2.2. Tần số thở của trẻ em lứa tuổi mầm non
Cơ thể luôn cần trao đổi khí với môi trường bên ngoài. Việc đổi mới
không khí trong phổi được thực hiện qua động tác thở nhờ cử động của các cơ
hô hấp với sự luân phiên nhịp nhàng giữa động tác hít vào và thở ra. Mỗi lần
thở ra và hít vào được gọi là một nhịp thở [36], [83].
Số lần thở trong một phút gọi là tần số thở. Tần số thở phụ thuộc vào
kích thước của cơ thể, lứa tuổi, trạng thái tâm sinh lý và khí hậu [36], [62].
Tần số thở của trẻ em giảm dần theo tuổi. Một số tài liệu cho thấy, lúc 1 tuổi
tần số thở của trẻ là 30 - 35 nhịp/phút, giảm xuống còn 25 - 30 nhịp/phút lúc 3
tuổi và 20 - 25 nhịp/phút lúc 6 tuổi [3], [4], [18], [36], [52]. Tần số thở của trẻ
em vào mùa hè cao hơn vào mùa đông khoảng 2 - 6 nhịp/phút. Do trung khu
hô hấp chưa phát triển hoàn chỉnh nên tần số thở của trẻ em hay bị rối loạn, có
lúc thở nhanh, có lúc thở chậm, lúc thở nông, lúc thở sâu. Tần số thở của trẻ
em cao hơn của người lớn. Dưới 2 tuổi, trẻ em nam thở nhanh hơn trẻ em nữ
[36], [52].
1.3. Đặc điểm về trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non
Trí tuệ là khả năng hoạt động trí óc đặc trưng của con người. Theo tiếng
Latinh, trí tuệ (Intellectus) có nghĩa là hiểu biết, thông tuệ [51]. Theo từ điển
9
thể...[30], [61]. Phương pháp phổ biến hiện nay là dựa vào trắc nghiệm tâm
lý. Trong đó trắc nghiệm khả năng trí tuệ được dùng phổ biến hơn cả. Mục
đích của các trắc nghiệm trí tuệ là xác định chỉ số thông minh, mức trí tuệ...
Năm 1912, W. Stern đã đưa ra cách tính chỉ số thông minh
(Intelligence Quotient) viết tắt là IQ, bằng thương số giữa tuổi trí tuệ (MA Mental Age) và tuổi thực (CA - Chrorological Age) (theo [60]).
IQ =
MA
×100
CA
Trong đó: MA - tuổi trí khôn được tính theo kết quả bài trắc nghiệm;
CA - tuổi thời gian tính theo ngày tháng năm sinh.
D. Wechsler (theo [60]) lại cho rằng, sự phát triển trí tuệ diễn ra trong
suốt đời người một cách không đồng đều nên một đại lượng như cách tính của
Stern không thể đánh giá được sự phát triển của trí tuệ. Ông đưa ra khái niệm
IQ bằng công thức sau:
IQ =
X−X
× 15 + 100
SD
Trong đó: X - điểm trắc nghiệm cá nhân; X - điểm trắc nghiệm trung
bình trong cùng một độ tuổi; SD - độ lệch chuẩn.
Dựa trên chỉ số IQ, D.Wechsler phân thành 7 mức trí tuệ khác nhau [77].
Để tính được chỉ số IQ, người ta thường sử dụng các loại test khác nhau
Một trong các điều kiện cần thiết để phát huy trí tuệ là khả năng ghi
nhớ. Có nhiều cách hiểu về trí nhớ. Theo nhiều tác giả, nhớ là sự tiếp nhận,
gìn giữ và tái hiện những sự vật, hiện tượng mà con người đã cảm giác, đã
suy nghĩ, tưởng tượng ra. Trí nhớ phản ánh những sự vật, những hiện tượng
trước đây đã tác động vào cơ thể mà hiện tại không cần sự tác động đó nữa
[32], [33], [36]. Trí nhớ được xem như là một bước chuyển tiếp từ nhận thức
cảm tính lên nhận thức lí tính vì trong quá trình nhớ, não đã thực hiện việc
khái quát hoá các hình ảnh đã cảm giác, tri giác trước đây thành các biểu
tượng [13].
11
Căn cứ vào thời gian tồn tại của trí nhớ, người ta phân biệt hai loại trí
nhớ là trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn. Trí nhớ ngắn hạn là sự lưu thông
hưng phấn trong các vùng nơron, chỉ tồn tại trong vòng vài giây hoặc một
phút sau khi tiếp nhận một sự kiện hay hiện tượng nào đó. Trí nhớ dài hạn tồn
tại trên cơ sở sự hình thành các prôtêin hoạt hoá vùng xinap, có khả năng lưu
giữ hình ảnh trong vòng nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm [33].
Về cơ chế nhớ, có nhiều quan điểm khác nhau. Theo Anôkhin, trí nhớ
là một hệ thống chức năng phức tạp. Cùng quan điểm với Anôkhin, Luria cho
rằng, trí nhớ được thực hiện bằng sự phối hợp hoạt động của cả một loạt các
vùng trên vỏ não, mỗi vùng giữ một nhiệm vụ chuyên biệt [15]. Theo Pavlov,
cơ sở sinh lý của trí nhớ là sự hình thành, lưu giữ và tái hiện lại những đường
liên hệ thần kinh tạm thời. Hyden lại cho rằng, cơ sở của trí nhớ là sự thay đổi
trong cấu trúc phân tử của axit ribonucleic. Còn theo Conell và Jacobson, thì
trí nhớ có liên quan đến lượng axit deoxyribonucleic [33]. Cơ chế của sự lưu
giữ thông tin ngày càng được nghiên cứu sâu hơn. Tuy nhiên, chưa có một cơ
chế lý thuyết thống nhất về cơ chế của trí nhớ.
Trẻ sơ sinh chưa có trí nhớ, đến cuối tháng thứ sáu, trẻ mới bắt đầu tái
là của một số tác giả Mondiere (1875), Huard, Bogot (1938) và Đỗ Xuân Hợp
(1943) (theo [42]). Sau năm 1954, đã có nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu
các đặc điểm hình thái, giải phẫu, sinh lý của người Việt Nam. Năm 1975,
cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” do giáo sư Nguyễn Tấn Gi
Trọng chủ biên được xuất bản. Đây là một công trình khá hoàn chỉnh về các
chỉ số sinh học, sinh lý, sinh hóa của người Việt Nam [68]. Năm 1976 - 1980,
Vũ Thị Chín nghiên cứu về các chỉ số phát triển sinh lý, tâm lý của trẻ em từ
0 đến 3 tuổi và đã xây dựng được biểu đồ phát triển về chiều cao, cân nặng
của trẻ [5].
Năm 1980, 1982, 1987, Đoàn Yên và cộng sự (cs) [74] nghiên cứu một
số chỉ số sinh học của người Việt Nam từ 3 đến 110 tuổi. Phân tích kết quả
13
nghiên cứu, các tác giả nhận thấy chiều cao và cân nặng trung bình của người
Việt Nam thấp hơn của người Âu, Mỹ ở mọi lứa tuổi.
Năm 1989, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs [10] đã nghiên cứu chiều cao,
vòng đầu, vòng ngực, chỉ số dài chi dưới... trên 8000 người Việt Nam từ 1
đến 55 tuổi ở ba miền Bắc - Trung - Nam. Các tác giả nhận thấy có quy luật
gia tăng về chiều cao của người Việt Nam, tăng 4 cm/20 năm.
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng [58] đã tiến hành nghiên cứu 17 chỉ số
hình thái của người Việt Nam từ 1 - 25 tuổi ở Nghệ Tĩnh. Kết quả nghiên cứu
cho thấy, các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu… của cư
dân Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn so với các chỉ số này của dân cư vùng đồng
bằng Bắc Bộ. Tác giả còn nhận thấy, có sự khác biệt về các chỉ số hình thái
thể lực theo giới tính. Theo tác giả, điều kiện sống đã ảnh hưởng đến sự sinh
trưởng và phát triển các chỉ số hình thái của con người.
Trong hai năm 1995 - 1996, Hàn Nguyệt Kim Chi và cs nghiên cứu
trên 10339 trẻ em từ 1 - 36 tháng tuổi và 11985 trẻ em từ 37 - 72 tháng tuổi
cho thấy, việc rèn luyện thể chất có ý nghĩa rất lớn đối với chức năng của hệ
tim - mạch [17].
Nhiều công trình nghiên cứu khác cho thấy, tần số tim thay đổi theo tuổi
và theo trạng thái chức năng của cơ thể. Những thay đổi này có liên quan đến
sự giảm hoạt động của nút xoang và giảm ảnh hưởng của dây thần kinh ngoài
tim [50], [62], [66].
Nhìn chung, tần số tim đã được nhiều tác giả nghiên cứu và đạt được
những kết quả nhất định, nhưng nghiên cứu chưa nhiều ở trẻ em lứa tuổi
mầm non.
1.4.2.2. Những nghiên cứu về tần số thở
Nghiêm Xuân Thăng [58] nghiên cứu một số chỉ số chức năng sinh lý
của người Nghệ Tĩnh cho thấy, khí hậu có ảnh hưởng đến chức năng hô hấp,
trong đó tần số thở và dung tích sống chịu ảnh hưởng nhiều nhất của khí hậu.
15
Vương Thị Hòa [20] nghiên cứu trên trẻ em từ sơ sinh đến 4 tuổi ở một
số xã vùng nông thôn của tỉnh Thái Bình nhận thấy, mức chênh lệch giữa tần
số thở của trẻ em nam và của trẻ em nữ không đáng kể. Dưới 3 tuổi, tần số
thở của trẻ em nam cao hơn của trẻ em nữ.
Nhìn chung, những nghiên cứu về chức năng hô hấp của người Việt
Nam khá phổ biến, nhưng chủ yếu là trên đối tượng người trưởng thành
với các chỉ tiêu phân áp các chất khí trong máu, khuếch tán khí, chỉ tiêu
chức năng thông khí phổi như dung tích sống, dung tích sống thở mạnh,
thể tích khí lưu thông, thể tích khí cặn... [8], [22], [25], [49], [66], [70], ít
thấy những nghiên cứu về tần số thở.
1.4.3. Những nghiên cứu về trí tuệ
Mở đầu cho những nghiên cứu đầy đủ, khoa học về trí tuệ là những
nghiên cứu theo thuyết liên tưởng về tư duy, đại diện là các nhà triết học Anh
cứu về các chỉ số có liên quan với trí tuệ như trí nhớ. Trên thế giới, có rất
nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này như L.X. Vưgotxki, A.N. Leonchiev,
A.A. Smirnov, P.M. Xêtrênov… [15]. Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả
nghiên cứu về trí nhớ [34], [35], [38], [40], [42], [55], [57], [59]...
Trần Trọng Thuỷ và cs nghiên cứu trí nhớ của trẻ em trung học ở thành
phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Huế và tỉnh Hoà Bình nhận thấy, khả năng ghi
nhớ thính giác ngắn hạn của trẻ em Việt Nam thuộc loại khá và tương đối
đồng đều, không có sự khác biệt giữa trẻ em nam và nữ nhưng có sự khác biệt
giữa trẻ em thành thị và nông thôn [59].
Nghiêm Xuân Thăng [58] nghiên cứu khả năng ghi nhớ của học sinh và
sinh viên Nghệ Tĩnh cho thấy, khả năng ghi nhớ của đối tượng nghiên cứu
biến đổi theo sự biến động của nhiệt độ, độ ẩm, cường độ bức xạ và đối lưu
không khí của môi trường.
Trịnh Văn Bảo và cs (theo [42]) nghiên cứu khả năng ghi nhớ của học
sinh lớp 6, trường Năng khiếu Marie - Curie và trường Phổ thông cơ sở Tô
17
Hoàng (Hà Nội) nhận thấy, trí nhớ của nhóm học sinh trường năng khiếu tốt
hơn của nhóm học sinh bình thường.
Trần Thị Loan [42] nghiên cứu trí nhớ của học sinh từ 6 - 17 tuổi tại
quận Cầu Giấy - Hà Nội cho thấy, khả năng ghi nhớ ngắn hạn của học sinh
tăng dần theo tuổi, nhưng tốc độ tăng không đều và không có sự khác biệt về
khả năng ghi nhớ của trẻ em theo giới tính. Từ 6 đến 11 tuổi, khả năng ghi
nhớ của cả nam và nữ đều tăng nhanh, nhanh nhất là lúc 9 - 11 tuổi.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về thể lực, sinh lý và trí tuệ của
người Việt Nam khá phong phú, nhưng chủ yếu là ở học sinh, sinh viên, thanh
niên. Ở trẻ em lứa tuổi mầm non, các nghiên cứu mới chỉ được tiến hành về
các chỉ số hình thái như chiều cao, cân nặng, vòng đầu, vòng ngực hay chức
và theo giới tính được thể hiện qua bảng 2.1.
Bảng 2.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu
Tuổi
1
2
3
4
5
6
Tổng
số
Chung
126
134
137
128
134
122
Tổng số
Nam
63
67
67
68
68
61
Nữ
32
31
33
33
34
33
34
30
34
33
31
30
387
204
190
199
188
19
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
Mẫu nghiên cứu được chọn bằng cách bắt thăm ngẫu nhiên để chọn hai
chạm vào thước đo. Thước đo bằng polyme có vạch chia độ chính xác đến 0,1
cm do Trung tâm thiết bị trường học, Bộ Giáo dục và Đào tạo sản xuất.
- Cân nặng được xác định bằng cân y học Trung Quốc, có vạch chia đến
0,1 kg. Đo xa bữa ăn. Khi đo, đối tượng chỉ mặc quần áo mỏng, không mang
giày dép. Đối tượng đứng yên ở vị trí giữa bàn cân, hai bàn chân sát nhau.
- Vòng ngực được đo bằng thước dây quấn quanh ngực qua mũi ức,
dưới núm vú sao cho mặt phẳng của thước dây tạo ra song song với mặt đất.
Đối tượng ở tư thế đứng thẳng. Thước dây không co dãn và có vạch chia độ
chính xác đến 0,1 cm.
- Vòng đầu được đo bằng thước dây vòng quanh đầu, phía trước dây
nằm trên cung lông mày, phía sau qua ụ chẩm để lấy kích thước tối đa. Đối
tượng ở tư thế đứng thẳng. Thước dây không co dãn và có vạch chia độ chính
xác đến 0,1 cm.
- Chỉ số pignet được tính theo công thức:
Pignet = Chiều cao đứng (cm) - [Cân nặng (kg) + Vòng ngực (cm)]
So sánh chỉ số pignet của trẻ với chỉ số pignet theo thang phân loại của
Nguyễn Quang Quyền và cs [56], (theo [83]) để đánh giá thể lực.
Bảng 2.2. Phân loại chỉ số pignet
Số TT
Chỉ số pignet
Loại
1
< 23,0
Cực khỏe
7
> 53,0
Cực yếu
21
- BMI được tính theo công thức:
BMI = Cân nặng (kg) / [Chiều cao đứng (m)]2
Căn cứ vào BMI, tuổi và giới tính của trẻ em từ 2 - 6 tuổi, xác định
điểm tương ứng trên biểu đồ BMI riêng cho nam và nữ từ 2 đến 20 tuổi của
Trung tâm quốc gia phòng bệnh mạn tính và tăng cường sức khỏe (National
Center for Chronic Disease Prevention and Health Promotion), gọi tắt là
CDC, của Mỹ (phụ lục 1 và 2) để so sánh và đánh giá mức độ gầy béo của cơ
thể [81], [82].
Bảng 2.3. Phân loại BMI đối với nam từ 2 - 6 tuổi
BMI
(kg/m
Tuổi
Bách
Phân
loại
2
13,8 - 17,0
Từ 5 - 85
18,2 - 19,4
17,4 - 18,3
17,0 - 17,8
16,8 - 17,9
17 - 18,4
Từ 85 - 95
≥ 19,4
≥ 18,3
≥ 17,8
≥ 17,9
≥ 18,4
Trên 95
Suy dinh
< 14,4
< 14,0
< 13,7
< 13,5
< 13,4
Dưới 5
14,4 - 18,0
14,0 - 17,2
13,7 - 16,8
13,5 - 16,8
13,4 - 17,0
Từ 5 - 85
18,0 - 19,1
17,2 - 18,3
16,8 - 18,0
Với trẻ em 1 tuổi, căn cứ vào tháng tuổi và cân nặng, xác định điểm
tương ứng trên biểu đồ phát triển trẻ em dành cho trẻ dưới 2 tuổi của Trung
tâm quốc gia phòng bệnh mạn tính và tăng cường sức khỏe (CDC), của Mỹ
(phụ lục 3) để so sánh và đánh giá mức độ gầy béo của cơ thể [79], [80].
Bảng 2.5. Phân loại mức độ phát triển cơ thể đối với trẻ dưới 2 tuổi
Tháng tuổi
Phân loại
12
13
14
15
16
17
18
7,1 - 8,4
7,3 - 8,7
Suy dinh
dưỡng
vừa
7,6 - 10,0
7,8 - 10,1
7,9 - 10,4 8,0 - 10,8
8,2 - 10,9
8,4 - 11,1
8,7 - 11,5
Bình
thường
>10,0
>10,1
>10,9
một lần thành bụng của trẻ nâng lên, hạ xuống thì tính là một nhịp thở.
2.2.2.4. Phương pháp nghiên cứu trí tuệ
Trí tuệ được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm và sử dụng test
Raven màu với từng trẻ mẫu giáo từ 4 - 6 tuổi vì test phù hợp với lứa tuổi này.
Test Raven màu gồm 36 khuôn hình, chia thành 3 bộ (A, AB, B), cấu trúc
theo nguyên tắc có độ khó tăng dần. Mỗi bộ gồm 12 bài tập, được bắt đầu
bằng khuôn hình đơn giản (khuôn hình 1) và kết thúc bằng khuôn hình phức
tạp (khuôn hình 12). Do đó, bài tập dễ nhất trong toàn bộ test Ravent là khuôn
hình A1 và khó nhất là khuôn hình B12 [1]. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu với
từng cá nhân trẻ. Thời gian tiến hành với mỗi trẻ không quá 15 phút.
Mỗi bài test gồm hai phần. Phần hình vẽ lớn và phần 6 hình nhỏ. Hình
vẽ lớn luôn bị thiếu một phần. Phần thiếu có cùng kích thước với các hình nhỏ
và là một trong 6 hình. Nghiệm thể cần tìm đúng hình nhỏ duy nhất đó. Để trẻ
hiểu bài tập, chúng tôi hướng dẫn cụ thể ở khuôn hình A 1. Trắc nghiệm viên
chỉ vào hình vẽ lớn và phần bị thiếu, nói hình vẽ đã bị cắt một miếng. Nếu lắp
các hình nhỏ vào phần bị cắt, thì đều đúng kích thước, nhưng không phải hình
nhỏ nào cũng phù hợp với hình vẽ lớn, chỉ có đúng một hình nhỏ phù hợp.
Nói trẻ quan sát kỹ hình lớn và các hình nhỏ, rồi chọn xem hình nhỏ phù hợp
là hình nào. Nếu trẻ còn lúng túng, trắc nghiêm viên tiếp tục giải thích cho
đến khi trẻ thực sự hiểu.
Khi trẻ làm các bài từ A 2 đến A5, AB1 đến AB5 và B1 đến B5, dù trẻ chọn
đúng hay sai, trắc nghiệm viên chỉ vào phần bị thiếu của hình vẽ lớn, hỏi hình
nhỏ trẻ đã chọn có lắp đúng vào đó không. Nếu trẻ trả lời có, trắc nghiệm viên
chấp nhận dù sai. Nếu trẻ chọn hình khác, trắc nghiệm viên hỏi trẻ hình mới
chọn cũng đúng à? Nếu trẻ nói là đúng thì trắc nghiệm viên chấp nhận. Nếu
24
trẻ vẫn còn do dự, trắc nghiệm viên hỏi trẻ hình nào mới đúng, và ghi lại kết
3
110 - 119
III
Khá
4
90 - 109
IV
Trung bình
5
80 - 89
V
Tầm thường
6
70 - 79
VI
2.2.3.1. Xử lý thô
- Xử lý số liệu về thể lực: Dựa vào cân nặng, chiều cao, vòng ngực để tính
chỉ số pignet và BMI .
- Xử lý bài test Raven: Điểm được tính theo khoá chấm điểm của
Raven [1], mỗi bài tập đúng được một điểm. Tính tổng số điểm của mỗi bộ
bài tập của từng cá nhân trừ điểm trung bình kỳ vọng của từng bộ bài tập
tương ứng trong bảng kỳ vọng. Nếu hiệu này dao động trong khoảng ± 2 SD
và hiệu giữa tổng điểm làm được của cả ba bộ bài tập trừ điểm kỳ vọng của
tất cả các bài ≤ 6 thì kết quả trắc nghiệm đạt yêu cầu và được xử lý tiếp. Với
những bài đạt yêu cầu, tính chỉ số IQ theo công thức của D. Wechsler và phân
loại các mức trí tuệ theo tiêu chuẩn phân loại trí tuệ của D. Wechsler [77].
- Xử lý điểm trí nhớ: Mỗi con vật nhớ đúng được 1 điểm, tổng điểm trí
nhớ của trẻ là số các con vật mà trẻ trả lời chính xác.
2.2.3.2. Xử lý số liệu bằng phuơng pháp thống kê xác suất dùng cho y, sinh học
Các số liệu được xử lý theo toán xác suất thống kê dùng trong y, sinh
học [29], [47]. Việc tính toán số liệu được thực hiện trên máy vi tính bằng
phần mềm Microsoft Excel 2003. Các giá trị thống kê gồm có: giá trị trung
bình ( X ), độ lệch chuẩn (SD), hệ số tương quan (r).
- Tính giá trị trung bình: