1
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC S PHM
Lấ TH THANH PHNG
TNG CNG VN DNG CC BI TON Cể NI DUNG THC TIN
VO DY HC MễN TON
I S NNG CAO 10 - THPT
2
Công trình đ-ợc hoàn thành tại:
Tr-ờng đại học SƯ PHạM
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS NGUYN NGC UY
Phản biện 1:............................................................................
.............................................................................
Phản biện 2:............................................................................
.............................................................................
Chuyờn ngnh: Lý lun v phng phỏp dy hc
Mó S: 60.14.10
Luận văn sẽ đ-ợc bảo vệ tr-ớc Hội đồng chấm Luận văn:
...............................................................................................
TểM TT LUN VN THC S GIO DC
Bắc, Tiếng sóng, Hai nửa yêu thương. Các nhà thơ khác như Nguyễn Bính,
chính trị lớn, chi phối toàn diện đời sống xã hội và đã đạt được những
Lưu Trọng Lư, Hoàng Trung Thông… đều có những tập thơ của riêng mình
thành tựu đáng ghi nhận.
được bạn đọc yêu thích.
Nhìn lại chặng đường thơ hơn nửa thế kỷ qua, có thể nói thời kì 1954 -
Thực tế sáng tác, số lượng và chất lượng thơ thời kỳ 1954 – 1964 đã
1964 được đánh giá là giai đoạn chuyển tiếp, giai đoạn “bản lề” giữa thơ ca
tạo nên phẩm chất mới cho thơ: cảm xúc thơ phong phú, nhuần nhị, nghệ
thời kì chống Pháp và chống Mĩ. Sau những năm kháng chiến chống Pháp,
thuật thơ có nhiều tìm tòi khám phá, đội ngũ sáng tác đông, có trình độ vốn
thơ viết về đất nước mở ra nhiều hướng khai thác và có nhiều sáng tạo mới
sống vững vàng.
mẻ. Đây là giai đoạn mà thơ ca có nhiều mùa gặt bội thu. Nhiều nhà thơ tìm
Qua tìm hiểu thơ Việt Nam 1954 - 1964 chúng tôi nhận thấy thơ ca thời
Xuân Diệu giải quyết vấn đề “riêng - chung” qua ba tập thơ: Riêng chung,
nghiên cứu đặc điểm của thơ ca giai đoạn này gắn liền với việc nghiên cứu
Mũi Cà Mau - Cầm tay, Một khối hồng. Huy Cận ngợi ca đất nước đổi mới
quá trình hình thành và phát triển của cả nền thơ Việt Nam sau Cách mạng
và dựng xây bằng ba tập thơ: Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài ca
5
6
tháng Tám. Nhìn chung, có thể chia lịch sử nghiên cứu thơ thời kỳ 1954 -
đạo trong thơ ca suốt một giai đoạn mới. Trong thơ ca có tiếng nói da diết nhớ
1964 theo những mảng chính như sau:
thương về tình cảnh đất nước còn bị chia cắt hai miền. Nhưng trước hết bài ca
2.1. Những công trình bàn trực tiếp về thơ thời kỳ 1954 - 1964
về đất nước là bài ca thắng lợi, bài ca xây dựng”.
Trước hết là các công trình nghiên cứu thể hiện trong các giáo trình Đại
- 1964. Đáng chú ý có bài viết của Xuân Diệu Mười lăm năm thơ Việt Nam
Huỳnh Lý và Trần Văn Hối. Trong đó, các tác giả đã nêu ra ba đặc điểm của
dân chủ cộng hoà. Đây là lời nói đầu của tập Thơ Việt Nam 1954 - 1960.
thơ ca giai đoạn này là: thơ đi vào hai loại đề tài là đấu tranh thống nhất nước
Mặc dù ở điểm nhìn trong khoảng 5 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ
nhà và lao động kiến thiết xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc. Những năm về sau
nhưng Xuân Diệu đã nhận ra rằng: “…thơ của ta, những năm gần đây 1958,
trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả của hai trường Đại học
1959, 1960 có một bước nhảy quan trọng về chất lượng”.
(Sư phạm và Tổng hợp) tiếp tục có Chương, Mục đánh giá về thơ giai đoạn
Nhân kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh (1960), Hồ Tuấn
1954 - 1964 như Văn học Việt Nam 1954 - 1964 của Mã Giang Lân- Lê Đắc
Niêm có bài trên Tạp chí Nghiên cứu văn học “Mười lăm năm văn học Việt
Đô (1990). Văn học Việt Nam 1945 -1975, tập I của GS. Nguyễn Đăng Mạnh
Nam dưới chế độ dân chủ cộng hoà” cũng biểu dương thành tựu của thơ ca
nước anh hùng, về tổ quốc xã hội chủ nghĩa giàu đẹp vẫn là cảm hứng chủ
Giang, Lê Đình Kỵ viết về tập Gió Lộng (1961) của Tố Hữu. Các bài của Xuân
7
8
Diệu, Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức viết về tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960)
phạm vi thơ trẻ nhưng ít nhiều bài viết của Chế Lan Viên đã mang tính chất
của Chế Lan Viên. Các bài của Phan Cự Đệ, Lê Nhuệ Giang, Vũ Đức Phúc viết
đánh giá phong trào của một thời kỳ thơ.
về các tập thơ Riêng chung (1960), Một khối hồng (1964) của Xuân Diệu. Các
2.3. Các công trình nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp của các nhà thơ, trong đó có
bài của Chế Lan Viên, Lê Đình Kỵ, Đào Xuân Quý, Nguyễn Hoành Khung viết
chặng đường 1954 - 1964. Tiêu biểu là các công trình; Nhà thơ Việt Nam
về các tập Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời
hiện đại [56], Thơ những gương mặt [53], Thơ những cuộc đời [46] Nghệ
(1963) của Huy Cận. Các bài của Lê Đình Kỵ, Đỗ Hữu Tấn, Nguyễn Đình,
cách riêng lẻ (nhất là các bài viết về từng tập thơ).
Đó là chưa kể nhiều bài viết giới thiệu các nhà thơ có tác phẩm ra đời
trong nền thơ dân tộc, mà không tiếp cận ở góc độ văn học sử - dựng diện
mạo của giai đoạn thơ.
vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, thời điểm được mệnh danh là “mùa
Nhìn lại lịch sử nghiên cứu thơ 1954 - 1964 ta có thể thấy
gặt” của văn học ta nói chung và thơ ca nói riêng.
- Đây là một thời kỳ phát triển mới giàu thành tựu (xét trên nhiều
Với sự xuất hiện của tuyển tập thơ: Tiếng hát miền Nam, Sức mới
phương diện từ đội ngũ sáng tác, số lượng tác phẩm, phẩm chất thơ, phong
(Tập thơ bạn trẻ)… cũng có những bài phê bình giới thiệu kịp thời. Trong bài
cách sáng tạo…) trong tiến trình của nền thơ Cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên
Tựa tập thơ Sức mới, Chế Lan Viên khẳng định sự phát triển của phong trào
việc tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá này còn chưa tương xứng với vị trí, thành
thơ, thành công của một hướng đi: từ cuộc sống gắn bó với cuộc sống “nồng
tựu và những đóng góp của nó. Phần lớn các công trình, các bài viết, các bài
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu đặc điểm thơ thời kỳ 1954 1964 trong tiến trình thơ VNHĐ, từ phương diện cảm hứng và các xu hướng
khám phá thể hiện. Trên cơ sở đó đánh giá, khẳng định thành tựu nổi bật của
Qua đó nhằm góp phần khẳng định vai trò - vị trí của giai đoạn thơ
1954 - 1964 trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh - lịch sử: phương pháp này nhằm so sánh tìm ra
thơ thời kỳ này.
những đặc điểm tiêu biểu của thơ thời kỳ 1954 - 1964 trong tương quan với
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
đặc điểm thơ các giai đoạn khác.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ thời kỳ 1954 - 1964, chủ yếu
là phong trào sáng tác thơ của ba lực lượng: Thơ của các nhà thơ có sáng tác
từ trước Cách mạng tháng Tám, thơ của các nhà thơ trưởng thành trong kháng
chiến chống Pháp và thơ của các nhà thơ trẻ xuất hiện sau 1954.
Chủ yếu khảo sát những bài thơ có giá trị về nội dung tư tưởng và nghệ
thuật và một số tập thơ của các nhà thơ tiêu biểu.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các tác phẩm thơ của các tác giả
tiêu biểu từ 1954 - 1964 với trọng tâm là thơ Cách mạng, thơ kháng chiến.
Luận văn chưa có điều kiện đề cập tới mảng thơ ở các đô thị miền Nam được
sáng tác theo những cảm hứng nội dung tư tưởng khác. Bên cạnh đó để làm rõ
các đặc điểm thơ Việt Nam thời kỳ 1954 - 1964 luận văn lấy các tác phẩm
tiêu biểu trong thơ các giai đoạn khác để tiến hành so sánh.
THƠ THỜI KÌ 1954 - 1964 TRONG TIẾN TRÌNH THƠ
VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
mới chất đời mới. “Ông không chịu chung quy luật chín lại với thực tế mới
của một số nhà thơ lớp trước và đã vượt qua được bước sôi nổi ban đầu nhưng
còn chưa vững chắc của lớp nhà thơ mới lớn lên với cách mạng tháng Tám”
[22, 134]. Là người cùng thế hệ với nhiều nhà Thơ mới, Tố Hữu trước khi
1.1. ĐỘI NGŨ SÁNG TÁC VÀ SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA Ý THỨC NGHỆ
THUẬT MỚI
1.1.1. Đội ngũ các nhà thơ
Như một sự tất yếu của mỗi thời kì lịch sử, mỗi giai đoạn văn học, đều
cần có một đội ngũ sáng tác văn học của mình.
Hợp thành đội ngũ thơ 1954 - 1964 là ba lực lượng chính: Thế hệ các
nhà thơ tiền chiến được rèn luyện thử thách và “lột xác” từ trong lò lửa của
cuộc kháng chiến chín năm, những nhà thơ trưởng thành trong phong trào thơ
ca kháng chiến chống Pháp và đáng chú ý là lớp nhà thơ mới xuất hiện, được
nuôi dưỡng và trưởng thành sau hoà bình (1954).
Đối với các thế hệ nhà thơ có quá trình sáng tạo nghệ thuật trước cách
mạng tháng Tám: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh, Thế Lữ, Lưu
Trọng Lư, Nguyễn Bính, Anh Thơ… đội ngũ ấy bao gồm những nhà thơ đã
trải qua cuộc đời nô lệ của người dân mất nước, hồ hởi đến với cách mạng
“Như chờ vang tiếng sét giữa trời mây” (Chế Lan Viên), đây là giai đoạn
phát triển đến đỉnh cao trên nhiều phương diện: Ý thức nghệ thuật, cá tính
sáng tạo và thành tựu thơ.
Đến với Tố Hữu - một thi sĩ có “tầm cỡ khai sáng cho cả nền thơ trữ
tình cách mạng” [45,280], con chim đầu đàn vạch hướng cho cả một nền
thơ, là người “mở đường” và tiêu biểu nhất cho nền thơ cách mạng. Ngay từ
tiếng nói thơ ca đầu (trước cách mạng), Tố Hữu đã thể hiện rõ một con đường
Hỡi người bạn! Hãy nhập vào đại chúng
mới trong kháng chiến chống Pháp còn rất hạn chế. Cái tôi trữ tình của nhà
Cuộc đời riêng hoà với cuộc đời chung.
thơ thường vẫn bị khuất lấp sau hiện thực và đối tượng miêu tả. Thành quả
Như con sông dặm ngàn tìm lẽ sống
chưa nhiều nhưng mỗi nhà thơ đều có những bài thơ ý nghĩa “đánh dấu” sự
Vào đại dương cho thoả chí vô cùng
chuyển biến của nhận thức, xúc cảm và bút pháp góp phần vào thành tựu
Ta là một, ta vừa là tất cả
và “lột xác” từ trong lò lửa của cuộc kháng chiến chín năm. Giờ đây sau
chung. Chỉ từ sau hoà bình (1954) các nhà thơ mới được rèn luyện, thử thách
Nhập vào đời, ta ấy “Tôi” hơn.
(Tâm sự - Tế Hanh)
Sự chuyển hướng của nhà thơ lãng mạn sang thơ hiện thực, lấy sự gắn
bó với cuộc sống, cuộc kháng chiến cứu nước làm cốt lõi của thơ, là đáp ứng
một đòi hỏi có tính quy luật, một điều không cưỡng lại được. Con đường đi
đến với cách mạng của những nhà thơ lớp trước khá vất vả, không phải là một
vài năm mà hàng chục năm. Đó không chỉ là sự giác ngộ về lí trí mà quan
trọng là ở sự rung động thực sự về tình cảm. Một cuộc tìm đường “trầy trật”
Diệu qua: Riêng chung (1960), Mũi cà mau - Cầm tay (1962), Một khối
hồng (1964); sức mạnh trí tuệ trong những suy tưởng triết lí qua Gửi các anh (1955),
Ánh sáng và phù sa (1960) của Chế Lan Viên, liên tiếp ngợi ca đất nước Trời
mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963) của
Huy Cận, xúc động cao độ và thực tế nỗi xót xa, lòng thương nhớ, niềm tin
15
16
tưởng của miền Bắc đối với Lòng miền Nam (1956), Gửi miền Bắc (1958),
về (1961). Nông Quốc Chấn nhà thơ Tày, năm 1943 đã kể chuyện Việt Bắc
Nhân dân một lòng (1960), Tiếng sóng (1960) Hai nửa yêu thương (1963)
đánh giặc nay hoà bình được hân hoan với Tiếng ca người Việt Bắc (1962)
của Tế Hanh, Đồng tháp mười (1955), Gửi người vợ Miền Nam (1955),
và Người núi hoa (1961)…
Đêm sao sáng (1962) của Nguyễn Bính…
Sự bổ sung, tiếp nối các thế hệ nhà thơ là quy luật tự nhiên, tất yếu của
Bên cạnh đội ngũ sáng tác có tên tuổi trước cách mạng, là lớp nhà thơ
mỗi nền thơ. Đến giai đoạn thơ 1954 - 1964, cùng với hai lực lượng chủ đạo:
như chín năm kháng chiến chống Pháp đã tạo sự quyết định trong tư tưởng
tình cảm của các nhà thơ, thì hiện thực những năm xây dựng hoà bình và đấu
tranh thống nhất đã bồi đắp vững chắc cho tư tưởng, tình cảm và mở rộng
nguồn cảm xúc. Họ đạt đến một độ “chín” thực sự xét trên cả hai phương
thắm lí tưởng mới con người mới, họ mang đến cho thơ hơi thở nồng ấm của
của cuộc sống dựng xây náo nức trên miền Bắc sau hoà bình. “Họ ở trong
nhiều ngành nghề, địa phương khác nhau, đứng từ nhiều góc độ khác nhau để
nhìn cuộc sống. Do đó, gộp tất cả các cái nhìn riêng của họ lại, ta có một số
thành không đơn điệu, một cái nhìn chung khá phong phú về cuộc đời [59,6]. Và
đây, chính là đội ngũ chủ lực của thơ chống Mỹ. Thời kì này, thơ còn được tiếp
sức bằng một đội ngũ các nhà thơ trực tiếp sống trong cuộc chiến đấu gian khổ ở
miền Nam. Lực lượng này sẽ mang đến cho thơ những Tiếng hát miền Nam với
âm hưởng riêng, đau thương nhưng vô cùng anh dũng, thuỷ chung.
Sự phát triển vững chãi về lực lượng sáng tác này là cơ sở chắc chắn để
diện: cảm hứng sáng tạo và nghệ thuật thơ, đặc biệt đạt đến sự hài hoà, nhuần
tạo nên những thành tựu xuất sắc của thơ giai đoạn 1954 - 1964.
nhị giữa hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng, một số nhà thơ đã xuất
1.1.2. Sự trưởng thành của ý thức nghệ thuật mới
bản những tập thơ có giá trị riêng, tiêu biểu như: Nguyễn Đình Thi với Người
Năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng đem lại sự biến đổi kì
chiến sĩ (1956) và Bài thơ Hắc Hải (1959), Hoàng Trung Thông với Quê
hiện đại. Trước hết, đó là sự đổi mới trong quan niệm về bản chất và chức
nghĩ hình tượng, chất cảm xúc, chất nhạc điệu” [13.172]. “Những con ong hút
năng thơ ca. “Thơ lúc này không còn là ngôi đền thiêng cách biệt của cái tôi
nhuỵ từ những bông hoa của đời sống” [20,169] đã ý thức rõ ràng và sâu sắc
cô đơn, thu về trong cái vỏ cá nhân với nỗi buồn uỷ mị chán chường mà chỉ
hơn về tính chất “chuyên nghiệp” của cả một nền thơ. “Nói cho cùng thơ là
các thi nhân bước vào mà thơ thuộc về quần chúng, về mọi người cả trong
kết quả của sự nhập tâm” đời sống trí tuệ, tài năng của nhân dân, nhập tâm
sáng tác cũng như tiếp nhận” [61] Nếu như thơ ca giai đoạn kháng chiến
được bao nhiêu là nhờ ở cuộc đời của mình gắn bó được bao nhiêu với nhân
chống Pháp, nằm trong yêu cầu phục vụ kháng chiến đã xác định được nhiệm
dân mình. Nhập tâm từ tâm hồn, tình cảm, đến dáng đi, giọng nói, tiếng khóc,
vụ chức năng thơ ca “Thơ ca phải thể hiện tính chiến đấu cách mạng, trở
tiếng cười. Nhập tâm đến một mức độ nào đó thì thơ ấy hình thành. Có thể
thành một vũ khí tinh thần góp phần giáo dục động viên quần chúng kháng
nhận đường qua chặng quá độ để đến được sự định hình khuôn mặt nền thơ ca
người mới góp phần giáo dục và động viên nhân dân đấu tranh cho cách mạng
mới, để đạt tới sự chân thực nghệ thuật. Như giáo sư Hà Minh Đức đã nhận
xã hội chủ nghĩa và cho sự nghiệp thống nhất nước nhà”. Các văn nghệ sĩ đã
xét: Thơ ca kháng chiến có một vẻ đẹp chân thực, giản dị, hồn nhiên, nhưng
nỗ lực không ngừng “đi lên hàng đầu của cuộc sống, học tập và sáng tạo
chưa phong phú, đa dạng. Phong trào thơ có chiều rộng nhưng chưa có chiều
sâu, có thành tựu đáng kể nhưng chưa đều. Hình thức trong thơ nhiều lúc còn
đơn giản sơ lược [22.144] Đến giai đoạn này (Giai đoạn 1954 - 1964) cùng
với những chuyển đổi nội dung, các nhà thơ đã thật sự quan tâm tìm đến một
hướng tìm tòi hình thức vận động nội tại của thơ. Cùng với cuộc sống xây
dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà tiến không ngừng lên
không ngừng để có nhiều hơn nữa những tác phẩm sâu sắc về nội dung đẹp đẽ
về nghệ thuật nhằm đưa mức tư tưởng của thơ cao hơn nữa” [52, 409]. Thư
của ban chấp hành Trung ương gửi Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai
(1957) cũng nhấn mạnh: “Giá trị của tác phẩm không phải chỉ ở nội dung tư
tưởng mà còn ở phẩm chất nghệ thuật”. Đến giai đoạn này vấn đề cơ bản
được đặt ra: Các văn nghệ sỹ cần chú trọng nâng cao chất lượng nghệ thuật.
19
mãi vẫn là chưa hết, Nói đến chết cũng hãy đang còn”. Trên con đường lớn đi
những nhịp sống chung gần gặn nhất của mỗi con người. Thơ không thể
sâu vào hiện thực, thơ cũng trăn trở tìm một tiếng nói một giọng điệu phù
không đi vào cuộc sống, sống trong cuộc sống bởi nếu tách khỏi nó thì thơ ca
hợp, đòi hỏi những cách nhìn cách nghe và những cách biểu hiện mới. Cách
sẽ như “cây nhổ khỏi đất ”, “cá ra ngoài nước”. “Thơ là sự thể hiện con người
biểu hiện ở đây không chỉ có một cách nói, mà trái lại tìm về cuộc sống thực
và thời đại một cách cao đẹp. Thơ không chỉ nói lên tình cảm riêng của nhà
thơ cũng tìm ra nhiều cách nói của cuộc đời. Ở Tố Hữu, ngày càng quan tâm
thơ mà nhiều khi thông qua tình cảm đó nói lên… ước mơ của nhân dân, vẽ
sâu sắc hơn đến nghệ thuật thơ. Ông đòi hỏi tình cảm trong thơ phải bộc lộ
lên những nhịp đập của trái tim quần chúng”(Sóng Hồng).Các nhà thơ quan
hết vẻ đẹp của nó. “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn trước cuộc
đời nhưng không phải lẽ tự nhiên”: “Thơ ta cần “say”mới thích… Tôi rất
thèm trong thơ một chất lãng mạn mới, một chất men mới làm sao cho thơ
bay bay”. Cái “chất mem mới” là những cảm xúc chín ngọt đủ sức để “đốt
cháy hiện thực thành những vần thơ óng ánh” (Tế Hanh). Những phẩm chất
trên của thơ cũng đòi hỏi một tư duy thơ ca phù hợp. Thơ vẫn đi theo đường
trong lòng quần chúng:
giai đoạn này mỗi nhà thơ đều có chung tâm sự:
Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi
Tôi đâu dám tủi buồn quên nhiệm vụ
Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu,
Mỗi câu thơ đều phải vượt lên mình
Tôi sống với cuộc đời chiến đấu
(Chế Lan Viên)
Sau hoà bình, miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội nhà thơ
Của triệu người yêu dấu gian lao
Cùng yêu thương, gắn bó với con người như “ruột thịt”:
Những người ấy với tôi là ruột thịt
Tố Hữu đã đặt nhiệm vụ cho thơ ca:
Thơ ta ơi hãy cất cao tiếng hót
Trong lời thơ tôi gửi hết yêu thương
(Tiếng sóng - Tế Hanh)
Ca ngợi trăm lần tổ quốc chúng ta
Phải ngợi ca những thành quả tổ quốc ta, nhân dân ta đã đạt được. Để
đón nhận sự chở che nâng cánh của con người:
nghệ sĩ đã có được quan niệm rõ ràng về thơ ca, có được sự chín muồi trong ý
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
thức nghệ thuật là cơ sở để đánh dấu sự trưởng thành của một nền thơ.
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
1.1.2.2. Đổi mới trong ý thức nghệ thuật
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.
Đất nước hồi sinh đã tạo ra nguồn cảm hứng lớn cho thơ, quyết định
đến sự chuyển biến tư tưởng của nhà thơ. Khơi gợi những tình cảm tốt đẹp,
những nhận thúc đúng đắn và cách cảm cách nghĩ về đối tượng của văn học.
Với nhà thơ Xuân Diệu bằng nỗ lực của tinh thần chủ động sáng tạo lại
luôn được sự cổ vũ của đường lối văn nghệ của Đảng và nhiệt tình của quần
Thực tế, ngay sau Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, hiện thực cuộc sống đã cuốn hút các nhà thơ, thực sự đã đưa các nhà
23
24
cuộc kháng chiến chống Pháp, hoà nhập vào dòng thác cách mạng các nhà thơ
qua một “mùa gặt” với nhiều ấn tượng và nhiều kỉ niệm thì với họ sự đổi thay
“tiền chiến” còn không ít những điều “bất ổn”, kìm hãm sức sáng tạo nghệ
không hề đơn giản. Sự đổi thay của một cách nhìn cách cảm trong sáng tạo
thuật. Ở họ đã mang khuynh hướng nghệ thuật khác nhau, quan niệm thơ khác
nghệ thuật là quá trình nhiều trăn trở, đấu tranh nhưng cuộc đời mới đang dần
nhau thậm chí đối lập nhau. Nếu như các nhà thơ cách mạng quan niệm: “Thơ
thay da đổi thịt, những tấm gương những hành động, những tâm trạng mà nhà
và cách mạng không thể tách rời”, “thơ là vũ khí đấu tranh cách mạng”, thì
thơ bắt gặp trong hiện thực tươi mới, quyết liệt sẽ dần dà làm chín lại cảm
các nhà thơ mới lại quan niệm cực đoan “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, nhà thơ
hứng sáng tạo. Cách mạng tạo nên một sự đổi thay kì diệu với sức mạnh tái
chỉ “Là con chim đến từ núi lạ - Ngứa cổ hót chơi” (Xuân Diệu). Dường như
tạo hồi sinh, đã mở rộng cánh của căn phòng cá nhân để đón lấy ngọn gió của
họ chưa thoát ra khỏi quỹ đạo của cái tôi, bởi cái tôi xưa cũ đã trở thành một
Một tiếng gà lên tiễn nguyệt tà
Từ quỹ đạo nghệ thuật cũ đến với một quỹ đạo nghệ thuật mới, các nhà
Bước chuyển biến ấy diễn ra và kéo dài suốt thời kỳ kháng chiến chống
thơ mới chưa kịp chuyển phương pháp sáng tác cũng chưa đủ thời gian và
Pháp. Phải làm sao để có sự ăn nhập với cuộc sống mới, tâm tình chung của
điều kiện để có được sự chuyển đổi “nhuần nhị” trong ý thức nghệ thuật của
nhà thơ phù hợp với tâm tình chung của quần chúng cách mạng. Chế Lan Viên
mình để cất cao tiếng nói trữ tình của thời đại mới. Nói như nhà thơ Tế Hanh:
đã nói lên chân thực những băn khoăn của lớp nhà thơ lớp trước khi đi theo
25
26
cách mạng: “Nhớ những ngày mới cách mạng rồi trải qua những năm tháng
tưởng tình cảm, trong quan niệm nghệ thuật của buổi đầu đi với Cách mạng.
đầu kháng chiến nữa, gần như có một sự chuệch choạc, một khoảng cách gần
thơ chống Pháp. Nhà thơ Xuân Diệu đã thành thực trong suốt quá trình
Pháp, Chế Lan Viên đã hỏi một bạn thơ trẻ hơn mình: “Ông đọc thơ mình
chuyển đổi dai dẳng, vật vã của mình: “Cái đau trong cõi tinh thần - Đã đau
xem mình có viết được nữa không?”. Điều đó cho thấy Chế Lan Viên đã
một lúc dần dần lại đau”. Ông nhận thấy: “Tôi rộng mở bước vào kháng
chuyển mình từ biển thơ siêu hình sang thơ cách mạng khó khăn và vất vả
chiến trường kỳ và tư tưởng của tôi còn gặp gỡ, trải qua nhiều chặng lên
biết nhường nào.Bởi, “Muốn đến được nắng vàng đất mật - Phải trên lòng
xuống không phải là đơn giản” [71,71]. Ông tự ý thức “Con đường có rất
bao trận gió mưa qua”. Cách mạng đến “Dĩ vãng đau thương” vẫn trở về
nhiều đau đớn, nhưng không qua đó thì không đi được tới đâu”. Vì vậy, ông
“cắm lá cờ đen”, vẫn ám ảnh nhà thơ suốt chặng đường dài hoà nhập với cách
đến với cách mạng đến với kháng chiến bằng một niềm vui lớn, đó là “tự nhấc
mạng, với dòng thơ cách mạng. Ông hiểu rõ lắm tâm hồn mình: “Hồn tôi là
ra được khỏi một hệ thống chết, mà vào hệ thống sống, nghĩa là tự cứu được
Đó là thời điểm mà nhà thơ “…Đi giữa lòng mình, mà mình không
Từ dĩ vãng trở về hiện tại, từ mộng ảo trở về hiện thực, từ chán nản rã
hiểu nữa”. Và nhà thơ Tế Hanh cũng không tránh khỏi cái không khí chung
rời đi đến niềm tin và ý chí chiến đấu, Chế Lan Viên tự nhận định: “Đi xa về
ấy: “Tôi đi từ lệch lạc này qua lệch lạc khác”. Từ chỗ chỉ nói đến tâm tình
hoá chậm - Biết bao là nhiêu khê” đó là những trăn trở trong đời sống tư
mình, đến cái “Tôi” của mình, đến chỗ chỉ nói đến người việc chung quanh
27
28
và cho đó là khách quan, là có cái nhìn hiện thực hơn… Khi lòng ta hoà hợp,
thơ “Trước hết vượt qua cái tôi cá nhân để xây dựng một nhân vật trữ tình
gắn bó ước mơ với quảng đại quần chúng thì có nói đến lòng mình cũng
mới mang tinh thần quần chúng tập thể và thời đại đậm đà sắc thái dân tộc.
ngân vang trong lòng mọi người và có nói đến người khác thì cũng có lòng
Thứ hai, nền thơ này hướng về học tập và các giá trị truyền thống. Thứ ba,
tạo. Từ chỗ là những thi sĩ say sưa trong Đài thơ riêng biệt, họ lại trở thành
chiến sĩ đam mê trên mặt trận văn hóa, mang ba lô đi theo các đoàn dân công,
(Chế Lan Viên)
Để xây dựng nền văn nghệ nói chung và nền thơ Cách mạng nói riêng,
bộ đội ra tiền phương. Có khi theo sát từng chiến dịch lớn, từng trận công đồn
mỗi người nghệ sĩ phải biết “Nối cuộc đời mình với những đau khổ, vui
nhỏ, quan sát từng chiếc lô cốt, từng ụ súng đơn sơ, thì giờ đây họ lại được
sướng, căm thù mong ước của nhân dân” [42,31] để hoà vào dòng đời và sống
hoà mình vào cuộc sống mới, gắn bó thiết tha với cuộc sống mới, con người
hết lòng với cuộc sống bởi: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta khi cuộc sống đã
mới được thâm nhập vào đời sống, lao động sản xuất làm cho nhà thơ thấy rõ
thật đầy”(Tố Hữu) và biết “nhìn đời bằng đôi mắt xanh non”, biết “Hái những
hơn bước đi của lịch sử, sức mạnh của quần chúng. Đi lâu dài kiên nhẫn với
sắc trời xa viễn vọng - Những biển cồn hãy mang đến cho thơ” để “Dòng
nhân dân, với kháng chiến, các nhà thơ mới có được sự chín muồi thực sự
thơ… lấp lánh những ánh trời hi vọng” (Chế Lan Viên). Có thể nói, các nhà
30
Với đội ngũ nhà thơ đông đảo, trưởng thành nhanh chóng với ba thế hệ
hưởng thực sự trong một quan niệm chín muồi về nghệ thuật, về thơ. Đó cũng
nối tiếp nhau: Thế hệ nhà thơ Tiền chiến được rèn luyện, thử thách nay như
chính là cơ sở để tạo nên sự biến đổi cơ bản về “chất” trong sáng tạo thơ ca và
được “hồi xuân” sung sức, sáng tác nhiều, đều và có chất lượng cao. Lớp nhà
cũng là vấn đề cơ bản trong ý thức nghệ thuật.
thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã định hình, tiếp tục
1.2. THÀNH TỰU THƠ CA THỜI KÌ 1954 - 1964
phát huy tài năng. Hai lớp nhà thơ này đã tạo nên những phong cách và là lực
Nếu như thành tựu của thơ ca kháng chiến chống Pháp không được tính
lượng nòng cốt của phong trào sáng tác thơ ca và sẽ tạo nên gương mặt mới
bằng những tập thơ, sự độc đáo của nhiều phong cách, của nhiều cá tính sáng
của thơ. Lớp nhà thơ trẻ mới hình thành được nuôi dưỡng và trưởng thành
tạo. Khuôn mặt các tác giả chưa đủ thời gian định hình, đang chuyển đổi đang
nhiều cách biểu hiện đa dạng về sự tìm tòi và định hình nhiều phong cách.
nằm trong mạch thơ ca ngợi đất nước giàu đẹp sau những năm tháng vất vả
Trong cuốn Dao có mài mới sắc nhà thơ Xuân Diệu đã nhận định:
gian nan. Song niềm vui chưa trọn vẹn, đất nước chưa thống nhất, miền Nam
“Giữa cái đà thơ của kháng chiến và phấn đấu lao động liên tục, thơ của ta
còn trong tình trạng nước sôi lửa bỏng dưới ách bọn Mĩ - Nguỵ. Có thơ viết
những năm gần đây có một bước nhảy quan trọng về chất lượng. Các thi sĩ đã
về đất nước về Đảng, Bác về tình cảm bạn bè quốc tế, có thơ viết về niềm vui
thấy trong tài thơ của mình, cái kết quả của sự tích luỹ tư tưởng, tình cảm
nỗi buồn, những ăn năn sám hối rất chân tình.
cách mạng trong hơn 10 năm. Chế độ ta giúp các nhà thơ tích luỹ và đi đến
Bên cạnh việc coi trọng những chất liệu, hình ảnh được khai thác trực
thành tựu. Sự tiến bộ chung của cả một phong trào thơ, đến một lúc nào đó
tiếp từ đời sống hiện thực. Các nhà thơ ở thời kì này còn chú ý đến việc sáng
cũng tích luỹ, kết lại trong một số nhà thơ. Các hiện tượng sáng tác tập trung
mở rộng sự tự do hoá hình thức thơ. Về thể loại cũng có nhiều cách tân táo
Hoa lúa (Hữa Loan), 728 (Trinh Đường), Lại về tỉnh nhỏ (Yến Lan)…
bạo, các thể thơ dân tộc được sử dụng và có những đổi mới. Thơ tự do phát
Một số bài thơ văn xuôi xuất hiện: Lúa mới, Irắc ơi!, Gửi người bạn
triển mạnh tiến đến thơ văn xuôi. Và thơ dài đều được nhiều nhà thơ sử dụng:
thơ Irắc (Huy Cận). Trong tập Ánh sáng và phù sa, Chế Lan Viên giới thiệu
Tố Hữu, Ba mươi năm đời ta có Đảng - 1960; Huy Cận, Người thợ ảnh -
ba bài thơ: Cành phong lan bể, Tàu đến, Tàu đi gọi chung là văn xuôi về
1962; Tế Hanh, Câu chuyện quê hương - 1963.
một vùng thơ… Và thơ dài đã bộc lộ được nhiều vấn đề ôm chứa được nhiều
Trong mười năm này, thơ đã có những biến đổi rõ rệt. Người sáng tác
mặt cuộc sống, thể hiện khả năng bao quát và tài nghệ vững vàng của các nhà
có nhu cầu đổi mới nâng cao chất lượng thơ, vừa đáp ứng được yêu cầu khách
thơ: Ba mươi năm đời ta có Đảng (Tố Hữu), Người thợ ảnh (Huy Cận), Đi
quan vừa làm cho thơ hoà vào mặt bằng thơ thế giới. Người đọc cũng muốn
Việt, Ngô Văn Phú, Võ Văn Trực, Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân)… đưa vào thơ
có ý thức tìm tòi, hiện đại hoá ngôn ngữ thơ. Tính đa dạng của ngôn ngữ thơ đủ
chất khoẻ khoắn, tươi vui cho cuộc sống. Các nhà thơ có quá trình sáng tác từ
sức để tâm tình, trò chuyện, sôi nổi chính luận hay trầm tư triết lý.
trước Cách mạng tháng Tám đến lúc này lại sung sức, mở rộng đề tài, tìm tòi
Đặc biệt trong thơ thời kì này đã định hình nhiều phong cách sáng tạo.
cách thể hiện. Ngay cả ở các bài thơ sử dụng thể cách luật dân tộc, cũng đã
Những năm kháng chiến trước đây thơ có phong trào, có mặt bằng, nhưng ít
biến hoá đi nhiều nhất là trong cách nhắt câu, ngắt nhịp, tạo không khí cho
có đỉnh, có phong cách. Lúc này phong trào thơ sôi nổi, rộng khắp và trên nền
phù hợp với hiện thực cuộc sống. Thơ tự do lại tiếp tục “phá” để chứa đựng
thơ ấy đã in dấu ấn những cá tính sáng tạo độc đáo tạo nên những nét riêng cơ
được nhiều chi tiết, ôm sát thực tại hơn và nhờ vậy thơ cũng thực hơn. Trước
bản nhất ở mỗi nhà thơ. Hầu hết các nhà thơ đều xuất bản những tập thơ riêng
đấy thơ tự do dù phát triển mạnh, phù hợp với việc thể hiện nội dung, nhưng
phần làm nên thành tựu thơ ca thời kì này.
Một người - đâu phải nhân gian?
Từ tập Việt Bắc (1954) đến tập thơ Gió lộng (1961), cho thấy thơ Tố
Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi!
Hữu có bước phát triển quan trọng, chứng tỏ nhà thơ vẫn sáng tạo không
(Tiếng ru)
ngừng. Ở Việt Bắc cuộc sống trở lên phong phú, dựng cảnh, dựng người, tả
tình tinh tế, tình cảm dần dần đa tuyến. Các bài thơ cuối tập như Việt Bắc, Ta
Sống trong cát, chết vùi trong cát
đi tới… đã báo hiệu khả năng khái quát tổng hợp. Ở Gió lộng cảm hứng chủ
Những trái tim như ngọc sáng ngời!
đạo gắn liền với sự kiện tiêu biểu trong đời sống dân tộc. Tập thơ phản ánh
cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân ta để xây dựng miền Bắc, giải phóng
miền Nam và biểu hiện một cách sâu sắc chủ nghĩa yêu nước, anh hùng của
dân tộc ta trong thời kỳ mới.
Tố Hữu đề cập đến hầu hết những vấn đề lớn của thời đại trên tinh thần
trách nhiện và bản lĩnh nghệ thuật vững vàng. Mở đầu thời giai đoạn mới của
đất nước “Xưa là rừng núi là đêm - giờ thêm sông biển lại thêm ban ngày”.
Nhiều bài thơ vươn tới chiều cao của niềm vui của nhà thơ và cũng là của
Khái quát, tổng hợp thể hiện ở cách xây dựng hình tượng thơ, ở câu chữ,
Huế, nhớ mẹ, xót xa vời vợi giọng thơ bùi ngùi: “Mây núi hiu hiu, chiều lặng
hình ảnh và âm hưởng chung của toàn bài. Trường hợp này tạo nên những bài
lặng - Mưa nguồn gió biển, nắng xa khơi…” mà vượt nghìn dặm đến bạn bè,
thơ có dáng dấp sử thi như Thù muôn đời muôn kiếp không tan, Ba mươi năm
tiếng thơ vẫn là tiếng nhạc du dương: “Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan - Đường
bạch dương sương trắng nắng tràn” giàu yêu thương, tình nghĩa, ngọt ngào.
35
36
Cho nên cái căm thù được dồn nén lại ở bên trong không ồn ào nhưng day dứt,
ông muốn nói lên mối thống nhất giữa cái riêng của tác giả và những cái
giục giã hành động, cái nhiệt tình sôi nổi lại hiện ra ở giọng trầm, dõng dạc,
chung của chế độ. Cá nhân hoà nhập với tập thể, tập thể tạo điều kiện cho cá
Trong cuộc sống nhiều điều sâu sắc chỉ có thể nói bằng giọng tâm tình, ân
nhân phát triển. Mũi Cà Mau - Cầm tay hai chùm thơ đấu tranh thống nhất
Tôi đã nghe nhiều, những khúc ca
Ngói mới
đồng chí” (Trả lời phỏng vấn về thơ. Tạp chí Văn nghệ số 48 tháng 5 năm 1961).
(Ngói mới)
Tố Hữu có nhiều bài thơ hay theo thể thơ 7 chữ: Quê mẹ, Mẹ Tơm, Em
ơi… Ba Lan, Lá thư Bến Tre, Miền Nam… Ở đây từ ngữ và lối nói quen
thuộc với dân tộc, những so sánh ví von truyền thống nhưng lại có khả năng
biểu hiện nội dung mới của thời đại. Các từ láy, cách phối hợp âm thanh, nhịp
điệu, vần, tạo nên chất nhạc phong phú chứa đựng được cảm xúc dân tộc, tâm
hồn dân tộc.
Như vậy, phong cách thơ Tố Hữu rất đa dạng, kế thừa được truyền
Trong những năm này, Xuân Diệu đi nhiều, chịu khó quan sát lắng
nghe. Thơ ông giàu chất sống, qua cái cảm, cái nghe, cái thấy và muốn chiếm
lĩnh thực tại rộng lớn. Trong nhiều bài thơ ông muốn đưa cái hàng ngày vào
làm cho lời thơ gần gũi với tiếng nói hàng ngày. Năng lực quan sát, lắng
nghe, đi sâu vào quần chúng, hoà nhập với cuộc sống, lấy hiện thực là thước
đo giá trị tác phẩm, nhà thơ tạo nên những hình tượng thơ độc đáo, mà hình
ảnh nhịp điệu có sẵn trong thực tế:
thống thơ ca dân tộc, kết hợp một cách nhuần nhị hai yếu tố cách mạng và dân
Lối cũ ngựa thồ đường tức ngực
tộc trong nghệ thuật. Sức thu hút của thơ Tố Hữu chính là ở niềm say mê lý
Mười một chữ chi quanh quất liền
sôi nổi mãnh liệt thì đề tài tình yêu không dễ gì sao nhãng. Sau cách mạng,
Vì anh vụng ngượng, hay là vì em?
Trăng còn đợi gió chưa lên
kháng chiến chống thực dân Pháp, nhất là đến những ngày miền Bắc hoà bình,
xây dựng cuộc sống mới, tình yêu vẫn là một thi đề đắc địa trong thơ Xuân
Hay là trăng đã tròn trên mái rồi?
(Hỏi)
Nhưng thơ lục bát vẫn có những tung phá, những câu thơ lục bát chen
một câu bốn chữ:
Diệu. Và thực sự Xuân Diệu đã viết nhiều bài thơ hay về tình yêu (Hỏi, Tình
yêu san sẻ, Mưa, Hoa nở sớm, Tình yêu muốn hoá vô biên, Nguyện, Áo em,
Biển…) nhưng là tình yêu trên nền tư tưởng mới, tình yêu lứa đôi hoà cùng
niềm vui, lo toan của xã hội, có ý thức trước cuộc đấu tranh của xã hội, tình yêu
Đỉnh non cao vút em ơi
hoà với mọi người chứ không phải chỉ của hai cá thể.
Cao vút em ơi
Cũng có thể thấy rõ khi đi vào cuộc sống lớn, cảm hứng chủ đạo của nhà
Là trên đỉnh chót tình người yêu nhau
(Trên đỉnh non cao)
Cách chọn chữ gieo vần trong thơ Xuân Diệu có nhiều tìm tòi, và sự
hành trình tâm trạng của nhà thơ để hoà vào cuộc hành trình chung của cả dân
mơ mộng, tình yêu cá nhân, thiên nhiên đẹp, buồn được thay bằng cuộc sống
tộc trong quá trình phát triển đi lên. Nhờ vậy nghệ thuật cũng trở nên phóng
lớn của nhân dân lao động, đất nước dựng xây (Ngói mới, Cao, Ba năm cửa
khoáng, đa dạng. Câu thơ có thêm cái gân guốc, xốc vác của cuộc đời thực,
sổ, Mã Pí Lèng…), những vấn đề thời sự (Phú Lợi, Thép cứng nhất là thép
ngôn ngữ thơ gần với ngôn ngữ quần chúng, hồn nhiên trong sáng hơn. Đề tài
người, Tội ác phá rừng…), những suy nghĩ về Đảng, về cách mạng và thái độ
thơ được mở mang đến nhiều vấn đề của cuộc sống đang đặt ra. Tình yêu đất
của nhà thơ trước cuộc sống (Gánh, Đầu tranh, Lệ, Mười lăm năm, Đi với
nước có khi là cảm xúc mạnh mẽ toát lên từ những tứ thơ phóng khoáng,
39
40
dòng thơ trải rộng (Văn xuôi về một vùng thơ) có lúc là tiếng nói thầm thì
hết, chất thơ và hình thức thích hợp để chứa đựng tư tưởng triết lý. Từ đó đưa
thương làm nên chiến thắng diệu kỳ:
Bắc, Lá nguỵ trang, Ngủ rừng Lào 1952. Có những bài thơ mới lạ như Tàu
Ở đâu? Ở đâu? Có sự diệu kỳ
đến, Tàu đi… Có những bài nhẹ nhàng thanh thoát như Đêm tập kết, Mẹ và
Ta xé vải chôn ta để may cờ chiến thắng?
có những bài chở nặng tâm tư như Nhật ký một người chữa bệnh, Ngoảnh
Những vết thương đỏ chói sắc quân kỳ
lại mười lăm năm, Hai câu hỏi, Nhớ Bế Văn Đàn...
Ta nấu xích xiềng ta làm súng đạn
Thơ Chế Lan Viên nghiêng về thế giới nội tâm, có chút ngậm ngùi, xót
xa ân hận nhưng khẳng định cái mới, cái thực tại rộn ràng nhiều mơ ước,
(Ở đâu? Ở đâu? Ở đất anh hùng )
Trong thơ Chế Lan Viên chú ý đến nhiều yếu tố trí tuệ, trữ tình, triết
đồng thời đấu tranh đẩy lùi cái cũ, cái “dĩ vãng buồn thương” vẫn quẩn quanh
học, cùng với yếu tố đời sống, hàng ngày như ông đã từng tâm sự. Thơ ông
ám ảnh. Đó là một nỗ lực vượt qua bản thân mình để tìm đến chân lý, khép lại
mãn nhận thức. Ông kết hợp tình cảm và lý trí để xây dựng những hình ảnh,
sống, lao động và chiêm nghiệm. Tất nhiên, triết lý trong thơ Chế Lan Viên
những tâm trạng chân thật của cuộc sống có tính triết lý, nhưng yếu tố trữ tình
nhiều khi là những điều bất khả giải, phi lý nhưng vẫn hấp dẫn bởi cách nói,
gợi cảm vẫn là nền tảng. Đó là thi pháp riêng của ông. Ông chú trọng, trước
41
42
cách dùng hình ảnh buộc người đọc phải suy nghĩ, liên hệ, tưởng tượng, suy
thật của chi tiết, thêm vào đó là nghệ thuật kể tự nhiên dung dị mà hấp dẫn, ngôn
đoán, có khi lại phải biện luận, suy nghĩ và tìm lời giải đáp.
ngữ trong sáng, lớp lang rõ ràng… Anh Tài Lạc, Chuyện anh Phòng đấu
Huy Cận thành công nhiều trong chủ đề lao động. Ông đến với cuộc
tranh, Sập lò cái Đá… Đó là những bài thơ hay chứng tỏ sự lao động nghệ thuật
đời mới bằng niềm vui và tin tưởng: Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở
điểm nhân dân nhưng theo cách riêng của Huy Cận.
Trước cách mạng, thơ Huy Cận hướng vào nội tâm, bộc lộ tâm trạng cá
nhân mình. Đến lúc này thơ ông mở rộng cảm xúc hoà vào cuộc sống khách
quan vừa sâu lắng biểu hiện vừa miêu tả thực tế. Kết hợp cả hai phương thức tự
sự và trữ tình, đó là nét mới trong phong cách thơ Huy Cận. Thơ ông có sự chân
chấm phá, gợi suy nghĩ:
Em bé thuyền ai ra dỡn nước
Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm
(Mưa xuân trên biển)
Huy cận đã khẳng định: “Cảm xúc thơ bao gồm cả cảm và nghĩ. Cố
nhiên sự suy nghĩ mà xã hội nói ở đây là suy nghĩ thực sự bắt nguồn từ cuộc
sống sống động dào dạt và suy nghĩ bằng cảm xúc, bằng hình tượng, suy nghĩ
ở đây như hoa thắm lá tươi, nở ra từ nhựa sống, khác hẳn với lối suy nghĩ trên
sách, tách rời cuộc sống. Vì thế hướng suy nghĩ trong thơ phải gắn chặt với
cảm xúc và xuất phát từ sự thực của đời sống”. Đúng là như thế, những suy
nghĩ, suy tưởng trong thơ Huy Cận đều thấm đẫm cảm xúc và được gợi hứng
từ sự thực của đời sống sinh động, Nhà thơ nhớ lại, ngày nhỏ, cùng bạn lên
chùa, vào phía trong hậu tự xem cảnh thiên đường, địa ngục. Đằng sau những
triết lý cao siêu có phần huyễn hoặc là suy tưởng của nhà thơ mang nặng tấm
lòng nhân hậu ấm áp, cảm thông sâu sắc với nhân dân lao động:
Bạn tôi nhìn kỹ mới hay rằng
Họ giống bà con trong xóm làng
Cũng áo quần nâu, gầy guộc mặt
Ở đây không thấy kể giàu sang
(Cảnh địa ngục)
43
Trong sâu lắng của đất, trong sâu thẳm của lòng người, cuộc sống vẫn
cuộn trào sức sống bất diệt:
nhất đất nước. Tế Hanh tìm được sự hoà hợp của hồn mình với chất thơ của
đời sống. Chiêm bao, Nhớ con sông quê hương, Vườn xưa, Em chờ anh…
Trong lòng sâu của đất mặt trời triệu năm đã lắng đọng
thành dầu trong tinh khiết
chứa chan tình cảm nhớ thương thấm thía đến xót xa.
Và như vậy, hồi tưởng là âm điệu chủ đạo. Hồi tưởng về miền Nam xa
Trong sâu thẳm của anh, Irắc ơi!... cuộc sống đang ủ mầm
bất diệt
cách, về những con người và cảnh vật quê hương. Ông chú ý nhiều đến những
người lao động miền biển, những con người đã “lớn lên cùng cách mạng”,
(Irắc ơi!)
Từ sự quan sát tỉ mỉ và xuất phát từ những cảm xúc về cuộc sống, Huy
Cận viết bài thơ Lúa mới với nhiều suy tưởng. Cấu trúc câu thơ mở rộng, tầng
tầng lớp lớp đầy sức gợi về cuộc đời đầm ấm:
Như cánh mũi em bé phập phồng thở sữa mẹ khi bình minh ngủ dậy
quả cảm “xây cái sống nơi đầu gềnh cuối bãi”, những bà con dân chài vật lộn
sinh tử với thiên nhiên và quân thù để giành giật sự sống (Ngoài khơi trong
lộng), những em thiếu nhi thà hi sinh, không chịu đầu hàng giặc (Cái chết
của em Ái)… Đó là những con người mà ông hết sức yêu mến:
Những người ấy với tôi là ruột thịt
Hình ảnh bên Cái giếng đầu làng
càng nhớ thêm em”. Mùa thu qua những hình ảnh tượng trưng của gió, của
… Em đi gánh nước đôi vai mịn
mây, của nắng… có gì xao xuyến tận bên trong:
Đôi gánh cong cong uốn dẻo mềm
… Em múc trao anh gầu nước mát
Mùa thu đã đi qua còn gửi lại
Một ít vàng trong nắng trong cây
Mặt nước hoà đôi bóng chúng mình
Những hình ảnh tài hoa và tinh tế ấy đã góp phần tạo nên phong cách
Một ít buồn trong gió trong mây
nghệ thuật của Tế Hanh - phong cách trữ tình trong trẻo giãy bày đến tận cùng
Một ít vui trên môi người thiếu nữ
lòng mình trên trang thơ. Chủ thể trữ tình luôn hiện diện như ở giữa mọi
(Bài thơ tình ở Hàng Châu)
người trực tiếp tâm sự:
- Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Phong cách một thời của Tế Hanh, thực ra là phong cách cả đời thơ ông
cuộc đời:
Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu
Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy
Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy
Bầy chim non bơi lội trên sông
từ cuối những năm 30 đến những năm cuối thể kỉ XX này. Tức là một phong
cách thơ tương đối bền vững đã làm nên một đời thơ, một nhà thơ trong
những nhà thơ tiêu biểu của thơ ca hiện đại Việt Nam.
Ngoài những phong cách sáng tạo trên, chúng ta có thể kể thêm những
thành công mới những nét riêng đặc sắc của Lưu Trọng Lư, Nguyễn Xuân
(Nhớ con sông quê hương)
Sanh, Anh Thơ, Trinh Đường, Phạm Hổ, Trần Hữu Thung. Đặc biệt Hoàng
Trung Thông trong Đường chúng ta đi (1960), Những cánh buồm (1964)
47
giữ được hơi thơ trẻ, khỏe, giàu chất sống. Cuộc sống được chú ý khắc hoạ
trong quá trình vận động để trưởng thành. Tâm hồn đôn hậu mực thước, nghệ
thuật vững vàng, chặt chẽ. Và, cũng có nghĩa là ít biến hoá. Nguyễn Đình Thi
48
Chương 2
tin và lòng quyết tâm giành lấy tương lai, phải làm sao thể hiện được sự vận
đông đảo. Một đội ngũ bao gồm các nhà thơ đã sáng tác từ trước cách mạng
động biện chứng của tâm hồn phù hợp với sự vận động biện chứngcủa quy
tháng Tám, các nhà thơ ra đời và lớn lên trong cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp. Các nhà thơ trẻ xuất hiện trong những năm này như: Nguyễn Bao,
Xuân Quỳnh, Ngô văn Phú, Võ Văn Trực, Ca Lê Hiến (Lê Xuân Anh)… báo
hiệu nhiều hứa hẹn nhưng chưa được khẳng định. Lớp trẻ này thực sự nổi lên
và có đóng góp tích cực là khi đất nước bước vào thời kì mới: chống Mỹ cứu
nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trên đây chúng tôi đã tiếp cận, tìm hiểu từ những góc độ: Đội ngũ sáng
luật phát triển cách mạng đang từng ngày giành được thắng lợi. Nền thơ xã
hội chủ nghĩa là khúc ca mới ca ngợi chế độ xã hội mới kiến lập, nhân dân
làm chủ vận mệnh của mình, đang từng ngày sáng tạo ra những kì công mới
từ trong những sự kiện long trời lở đất và cả trong những công việc ngỡ như
bình thường, quen thuộc. Trong thời điểm đó cảm hứng sáng tạo trở nên rộng
mở khi trực tiếp gắn chặt với hiện thực cuộc sống, hoà mình vào cuộc sống
tác, bản chất chức năng thơ ca, ý thức nghệ thuật chín muồi, và một số phong
của tập thể của cộng đồng một cách tự nguyện, tự giác, cảm hứng thơ trước
cách nghệ thuật định hình góp phần làm nên thành tựu thơ ca thời kỳ này. Với
hết là những rung động, những cảm xúc có tính chất cộng đồng. Nhà thơ trở
một đội ngũ thơ đông đảo sống và viết trên mọi vùng miền của Tổ quốc, có sự
50
với niềm tin lạc quan và đầy cảm hứng lãng mạn cách mạng. Đến 1954, sau
tranh hoạ đồ” cho đến “Nam quốc sơn hà”, “Bạch Đằng Giang Phú”… tới thơ
“Chín năm làm một Điện Biên - Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”, miền
hiện đại đều là niềm rung cảm tự hào của mỗi nhà thơ. Đất nước là nguồn
Bắc đã hoàn toàn giải phóng. Đất nước ta bước vào giai đoạn khẩn trương hàn
cảm hứng lớn nhất mà bất kì một thi sĩ ở một thời đại nào khai thác và hoà
gắn vết thương chiến tranh xây dựng cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa. Theo
nhập được là đã tạo cho thơ mình một giá trị cao đẹp. Bao nhiêu nhà thơ say
hiệp nghị Giơnevơ, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Cả dân tộc lại
sưa về đất nước. Nó trở thành hình tượng tập trung cảm xúc của các nhà thơ.
tiếp tục đấu tranh giành thống nhất trọn vẹn non sông Tổ quốc. Nhiệm vụ cách
Nguyễn Khuyến thường được xem là nhà thơ của làng quê nhưng trong chiều
mạng mới đặt ra cho văn học nghệ thuật nói chung và thơ nói riêng những
sâu chính là với non sông đất nước. Những câu thơ chan chứa niềm đau
cảm hứng sáng tạo chính.
riêng gì ở Tố Hữu mà là của cả một thế hệ. Xuân Diệu viết Ngọn quốc kỳ và
2.1. CẢM HỨNG VỀ ĐẤT NƯỚC, VỀ TỔ QUỐC THÂN YÊU
Hội nghị non sông với cảm hứng công dân sâu sắc với cảm hứng thi sĩ nồng
Nhìn vào tiến trình lịch sử của văn học dân tộc, văn học dân gian với
nàn. Tình sông núi của Trần Mai Ninh ca ngợi vẻ đẹp của Tổ quốc và từng
những thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ca dao - dân ca cho tới văn học thành
miền đất quê hương một vẻ đẹp như chưa bao giờ từng được thấy. Đất nước
văn qua suốt hàng nghìn năm, người đọc không thể không quan tâm tới một
của Nguyễn Đình Thi, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Tây Tiến của
dòng chảy hết sức mạnh mẽ nhiều lúc gợi lên thành những thác ghềnh, những
Quang Dũng… là những tác phẩm viết về tình yêu quê hương đất nước. Theo
khúc ngoặt của lịch sử dân tộc, dòng chảy của cảm hứng về đất nước, của
sự phát triển của thời gian và qua nhiều thử thách lớn lao của lịch sử, đất
mạch cảm xúc dồi dào mãnh liệt về đất nước. Viết về đất nước, trong trái tim