Quản lý nhà nước về Bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay - Pdf 38

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................. i
MỤC LỤC .............................................................................................................ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT................................................................. iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ .................................................................... v
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP.......................................... 4
1.1. Tổng quan các công trình đã công bố ở trong và ngoài nước liên quan đến
quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp............................................................. 4
1.1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài....................... 4
1.1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong nước liên quan
đến QLNN về BHTN ............................................................................................. 6
1.1.3. Những vấn đề luận án sẽ tập trung nghiên cứu giải quyết ............................... 12
1.2. Phương hướng giải quyết các vấn đề nghiên cứu của luận án............................ 13
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ...................................................................13
1.2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài ....................................................14
1.2.3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ................................................14
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO
HIỂM THẤT NGHIỆP...................................................................................... 15
2.1. Quan niệm quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ....................................... 15
2.1.1. Thất nghiệp và phân loại thất nghiệp .........................................................15
2.1.2. Bảo hiểm thất nghiệp và QLNN về BHTN ................................................ 24
2.1.3. Sự cần thiết phải tăng cường QLNN về BHTN ......................................... 40
2.2. Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về BHTN ............................... 43
2.2.1. Nội dung QLNN về BHTN ........................................................................43
2.2.2. Quan niệm về hiệu quả QLNN về BHTN và các tiêu chí đánh giá hiệu quả
QLNN về BHTN ..................................................................................................55
2.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về BHTN ...........................................61
2.3. Kinh nghiệm của một số quốc gia trong quản lý BHTN .................................... 64
2.3.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia ..............................................................64


: Quản lý kinh tế
: 62 34 04 10

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Nguyễn Văn Bích

HÀ NỘI – 2016


2.3.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam .................................................71
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT
NGHIỆP Ở VIỆT NAM..................................................................................... 74
3.1. Thực trạng thất nghiệp .......................................................................................... 74
3.2. Thực trạng BHTN và quản lý BHTN ................................................................. 80
3.2.1. Khái quát thực trạng BHTN ở Việt Nam ...................................................80
3.2.2. Thực trạng QLNN về BHTN............................................................................. 93
3.3. Đánh giá chung ...................................................................................................115
3.3.1. Thành tựu .................................................................................................115
3.3.2. Hạn chế và nguyên nhân trong quản lý BHTN ........................................118
3.3.3. Nguyên nhân của các hạn chế trong quản lý BHTN ................................120
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở NƯỚC TA .................... 123
4.1. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ................123
4.1.1. Dự báo những yếu tố thay đổi ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bảo
hiểm thất nghiệp thời kỳ đến năm 2025 .............................................................123
4.1.2. Mục tiêu phát triển BHTN ...............................................................................126
4.1.3. Phương hướng hoàn thiện QLNN về BHTN ở nước ta đến năm 2025 ...127

NLĐ

Người lao động

TTGTVL

Trung tâm giới thiệu việc làm

BHXH

Bảo hiểm xã hội

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

CNH

Công nghiệp hóa

HĐH

Hiện đại hóa

BHYT

Bảo hiểm y tế

NCS


2010-2014............................................................................................................. 86
Bảng 3.6. Đánh giá mức độ thủ tục hưởng TCTN ............................................... 90
Bảng 3.7. Nhận thức của NLĐ về quyền lợi được hưởng ................................... 92
Bảng 3.8. Cơ cấu thâm niên cán bộ BHTN.......................................................... 97
Bảng 3.9. Tổng số tiền thu BHTN giai đoạn 2009-2014 ................................... 103
Bảng 3.10. Tình hình nợ đóng BHTN từ 2009-2014 ......................................... 104
Bảng 3.11. Chi BHTN giai đoạn 2010 - 2014 ................................................... 106
Bảng 3.12.Tỷ lệ sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp .......................................... 108


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Số người tham gia BHTN và tổng số tiền thu BHTN ..................... 81
Biểu đồ 3.2. Số lượng tiếp nhận và giải quyết BHTN ......................................... 83
Biểu đồ 3.3. Số lượng người thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm giai
đoạn 2010-2014 .................................................................................................... 86
Biểu đồ 3.4. Tổng số tiền thu BHTN giai đoạn 2009-2014 ............................... 103


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội mà hầu hết các nước trên thế
giới phải đương đầu. Trong nền KTTT, thất nghiệp được biểu lộ một cách rõ nét
nhất, nó là hệ quả tất yếu của phát triển công nghiệp. Chống thất nghiệp và bảo
vệ NLĐ trong trường hợp bị thất nghiệp không chỉ là nhiệm vụ riêng của từng
quốc gia mà trở thành mục tiêu chung của các tổ chức quốc tế, tổ chức liên kết
kinh tế và các khu vực... Thất nghiệp là tình trạng một bộ phận lao động xã hội
không tiếp cận được việc làm phù hợp với khả năng của bản thân họ, mặc dù họ
đã cố gắng tìm kiếm và chấp nhận mức thu nhập mang tính thịnh hành. Các nhà

ở Việt Nam là 1.344 ngàn người trong năm 2010, giảm xuống còn 926 ngàn
người năm 2012 nhưng sau đó có xu hướng tăng lên 1.038 ngàn người trong năm
2013 và 1.045 ngàn người năm 2014. Tỷ lệ thất nghiệp trong tổng số người trong
độ tuổi lao động ở nước ta trên 2% trong giai đoạn 2010-2014, riêng tỷ lệ thất
nghiệp trong thanh niên ở mức 5,5- 7,0%, ngoài ra còn khoảng trên 3,5 triệu
thanh niên đang ở trong tình trạng việc làm bấp bênh, không ổn định.
Thực hiện Luật BHXH (từ 01/01/2009) và chính sách BHTN của Nhà
nước, từ năm 2009 đến nay số người tham gia BHTN đã tăng nhanh từ 5,6 triệu
người năm 2009 lên trên 9,2 triệu người năm 2014 và trên 10 triệu người năm
2015; tổng số tiền thu BHTN tăng từ 3,5 ngàn tỉ đồng năm 2009 lên 14,8 ngàn tỉ
đồng năm 2014. Tuy nhiên tốc độ tăng số người người tham gia BHTN không
cao (chỉ từ 4-5%/năm); số người tham gia BHTN chỉ chiếm 81% tổng số người
tham gia BHXH bắt buộc và chỉ chiếm 16,9% tổng số lao động của cả nước
(năm 2014); tình trạng nợ đọng BHTN rất lớn và có xu hướng tăng nhanh từ 172
tỉ đồng năm 2011 lên 336,3 tỉ đồng năm 2014. Mặt khác công tác QLNN về
BHTN tuy đã đạt được những bước tiến quan trọng nhưng vẫn còn nhiều tồn tại,
bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu thực tiễn của xã hội về BHTN trong điều kiện
phát triển KTTT và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Một số chính sách về
BHTN ban hành còn chậm, chưa đồng bộ và còn chồng chéo. Các vướng mắc
phát sinh từ thực tiễn thực hiện chính sách, còn nhiều những văn bản hướng dẫn
chậm ban hành và chưa kịp thời nên chậm tháo gỡ những vướng mắc trong thực
tiễn. Một số hợp phần của nội dung chính sách BHTN chưa được thực hiện tốt.


3

Còn có sự chồng chéo, thiếu thống nhất trong tổ chức thực thi chính sách BHTN.
Hệ thống tổ chức bộ máy QLNN về BHTN chưa thực sự hoàn thiện. Tình hình
nêu trên đang đòi hỏi phải đẩy mạnh tham gia BHTN của NLĐ và tăng cường
hoàn thiện QLNN về BHTN ở Việt Nam để bảo vệ lợi ích của NLĐ và nâng cao

đến quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài
Các công trình nghiên cứu ngoài nước về QLNN về BHTN thường tiếp
cận theo hai góc độ: Học thuật và tác nghiệp. Các nghiên cứu theo góc độ học
thuật chủ yếu nghiên cứu về BHTN và QLNN về BHTN; các nghiên cứu theo
góc độ tác nghiệp thường nghiên cứu về quản lý và cách thức quản lý, sử dụng
nguồn quỹ bảo BHTN sao cho hiệu quả nhất. Dưới đây là một số công trình
nghiên cứu tiêu biểu:
i) Sách “Các Chương trình bảo đảm xã hội các nước trên thế giới” do Cơ
quan Quản lý Bảo đảm xã hội Mỹ xuất bản đã đề cập các vấn đề về:
- Khoản TCTN như là một hình thức “đền bù sự mất mát thu nhập do kết
quả của tình trạng thất nghiệp bắt buộc” tạo ra. Các chương trình TCTN thường
được áp dụng ở các nước công nghiệp phát triển như đã nêu ở trên và được thực
hiện dưới hình thức bắt buộc ở hầu hết các nước. Có một vài nước áp dụng
phương thức TCTN thông qua hình thức trợ cấp khó khăn, thanh toán một lần do
cơ quan đại diện của Chính phủ hoặc chủ sử dụng lao động chi trả và chủ sử
dụng lao động thường chi một lần khoản tiền đền bù khi sa thải NLĐ.
- Khái niệm thực hiện chương trình TCTN được hiểu là: “TCTN là sự trợ
giúp cho người thất nghiệp nhằm đảm bảo cuộc sống của họ trong thời gian mất
việc làm từ nguồn quỹ được hình thành do sự đóng góp của NLĐ, người sử dụng
lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước, của toàn xã hội”; Về bản chất, TCTN cũng như
các chế độ trợ cấp khác cùng xuất phát từ quan hệ lao động, cùng bù đắp rủi ro cho
NLĐ nhưng lại có những đặc điểm riêng khác biệt về đối tượng, mục đích và cách
thức giải quyết; đối tượng của TCTN chủ yếu là NLĐ trong độ tuổi lao động, có
sức lao động nhưng bị mất việc làm và có nhu cầu đi làm việc. Việc NLĐ bị mất
việc làm là do yếu tố khách quan, tức là không tự nguyện. Chính điều này dẫn đến
đối tượng hưởng của TCTN hẹp hơn đối tượng thất nghiệp thực tế. Tuy nhiên,


5

Malaysia về hình thành Quỹ tiết kiệm chung cho các loại hình bảo hiểm (hưu trí,
sức khỏe, thất nghiệp) đều do quỹ này chi trả và cho rằng, về bản chất thì quỹ


6

này là hình thức tiết kiệm bắt buộc, nên nó là công cụ để Chính phủ định hướng
tỷ lệ tiết kiệm của tất cả mọi NLĐ trong dài hạn để đảm bảo nguồn nhân lực cho
tăng trưởng kinh tế.
Đối với Việt Nam, tác giả cho rằng, hệ thống BHXH trong đó có BHTN đã
bắt chước hệ thống ASXH của Mỹ mà đã bỏ qua kinh nghiệm thành công của
Singapore và Malaysia về hình thành quỹ tiết kiệm chung cho các loại hình BHXH.
Ngoài ra còn có một số nhà khoa học đã công bố những công trình nghiên
cứu của mình liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp. Điển
hình như: Ở Cộng hoà Liên Bang Đức có Schmid, G; ở Mỹ có Wernev, H và
Wayne Nafziger, E; ở Anh có DaVid, W và Pearce, ở Nga có V.Pap Lốp;.v.v .
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu của các tác giả mới chỉ tập trung chủ
yếu vào phản ánh thực trạng thất nghiệp, nguyên nhân và hậu quả thất nghiệp
trong một giai đoạn nào đó, ở những nước và những khu vực nào đó trên thế
giới. Một số nghiên cứu khác đã tiếp cận với BHTN và TCTN, song mới chỉ đưa
ra những định hướng về đối tượng tham gia, mức trợ cấp và thời gian TCTN. Do
đây là một vấn đề kinh tế – xã hội đặc thù của từng nước, cho nên chưa có một
công trình nào bàn về tổ chức BHTN. Chính vì vậy, những nghiên cứu của các
tác giả kể trên có chăng chỉ là để tham khảo trong quá trình tổ chức BHTN ở
Việt Nam. Tóm lại, các nghiên cứu nước ngoài mới chỉ đề cập đến một số khía
cạnh của BHTN và TCTN.
1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong nước liên quan
đến QLNN về BHTN
1.1.2.1 Các nghiên cứu có nội dung liên quan đến BHTN tại Việt Nam
i). Công trình nghiên cứu của TS Trịnh Thị Hoa -Trung tâm Nghiên cứu

theo nguyên tắc số đông cùng chia sẻ rủi ro với số ít và thực hiện các mục tiêu cụ
thể bao gồm: Cung cấp nguồn tài chính hỗ trợ thu nhập cho NLĐ bị thất nghiệp;
ổn định kinh tế; tạo điều kiện để Doanh nghiệp cơ cấu lại hoạt động kinh doanh;
khuyến khích NLĐ nâng cao tay nghề; tăng cường các kỹ năng tìm kiếm việc
làm... Theo thời gian, Quỹ BHTN được hình thành với sự đóng góp của: NLĐ,
người sử dụng lao động và nhà nước nhằm hỗ trợ về mặt thu nhập cho NLĐ
trong thời gian bị mất việc làm, tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm mới
trong thị trường lao động.
- Gợi ý cho Việt Nam. Tác giả đã cho rằng, trong điều kiện Việt Nam hiện
nay, việc thiết lập chế độ BHTN là cần thiết, đáp ứng yêu cầu bảo vệ NLĐ, nhưng
cần có những bước đi thận trọng, tiếp thu kinh nghiệm của các nước.


8

ii). PGS.TS Mạc Văn Tiến với công trình nghiên cứu về “Lý luận về
BHTN”. Công trình nghiên cứu đã đề cập những vấn đề về sau:
- Bản chất của thất nghiệp. Tác giả cho rằng, thất nghiệp được coi là hiện
tượng tất yếu của nền KTTT. Tuy nhiên do ảnh hưởng của ý thức hệ và nhận thức
xã hội nên vấn đề thất nghiệp, đặc biệt là nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp được các
nhà kinh tế lý giải rất khác nhau. Người đầu tiên nghiên cứu về thất nghiệp là
Uyliam Petty. Do ảnh hưởng của chủ nghĩa trọng thương nên Uyliam Petty cho
rằng để giảm bớt tình trạng thất nghiệp thì phải đẩy mạnh xuất khẩu ra bên ngoài để
thu hút lực lượng dân cư thừa trong xã hội (đây cũng là một trong những nguyên
nhân để các nước tư bản mở rộng thuộc địa). Adam Smith nghiên cứu một cách có
hệ thống về việc làm và thất nghiệp, những nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp.
Ricardo và Adam Smith khẳng định rằng nạn nhân khẩu thừa (tức thất nghiệp) là
không thể tránh khỏi trong nền KTTT. Adam Smith cho rằng do việc sử dụng máy
móc đã gạt bớt công nhân ra khỏi quá trình sản xuất; đồng thời sự biến động của sản
xuất làm cho công việc của NLĐ trở nên bấp bênh, dễ bị thất nghiệp; Công ước

quẫn không có khả năng thanh toán cho các chi phí thường ngày, như: Tiền nhà,
tiền điện, tiền nước, tiền học cho con cái, tiền lương thực, thực phẩm... Đối với
quốc gia, thất nghiệp là sự phí phạm nguồn nhân lực, không thúc đẩy sự phát triển
kinh tế, đồng thời dễ dẫn đến những xáo trộn về xã hội
- Các giải pháp giải quyết vấn đề thất nghiệp. Tác giả đề ra giải pháp kiểm soát
thất nghiệp ở tỷ lệ cho phép. Để giảm tỷ lệ thất nghiệp và hạn chế hậu quả, cần triển
khai hai nhóm giải pháp gồm: Nhóm giải pháp tích cực là tạo việc làm cho NLĐ.
Đó là các giải pháp tác động vào chủ các DN để tạo ra nhiều chỗ làm việc cho
NLĐ, liên quan đến các giải pháp này cần có các dự án phát triển. Để thực hiện thu
hút đầu tư, Chính phủ các nước đều có các chính sách khuyến khích đầu tư (trong
nước và nước ngoài). Tác giả cho rằng, đầu tư là biện pháp tích cực nhất để tăng số
chỗ làm việc trong nền kinh tế. Tuy nhiên, để đầu tư tốt cần phải có môi trường đầu
tư tốt. Tuy nhiên, giải pháp hỗ trợ người thất nghiệp tham gia lại thị trường lao động
không chỉ ảnh hưởng tích cực, mà chứa đựng cả ảnh hưởng tiêu cực, đó là thúc đẩy
tính ỷ lại của NLĐ vào những khoản hỗ trợ từ Quỹ BHTN.
1.1.2.2 Các nghiên cứu có nội dung liên quan đến QLNN về BHTN tại Việt Nam
Đối với nội dung nghiên cứu này có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu sau:
i, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ về “Đánh giá và hoàn thiện cơ chế chính sách
BHTN nhằm tăng cường tính bền vững” do Lê Quang Trung làm Chủ nhiệm.


10

Công trình nghiên cứu này đã đề cập gián tiếp về các vấn đề liên quan tới QLNN
về BHTN gồm:
- Trình tự, thủ tục triển khai hoạt động BHTN.
Trong nội dung này, tác giả đã phân tích quy trình thực hiện BHTN phải
được mở rộng từng bước để tránh tăng đột ngột các chi phí và gây ra khó khăn
đối với các chủ Doanh nghiệp trong việc tham gia đóng phí BHTN, ảnh hưởng
tiêu cực đến duy trì việc làm cho NLĐ của Doanh nghiệp. Vì vậy, chính sách

dịch vụ hướng nghiệp và đào tạo nghề;
+ Thực hiện các dịch vụ điều tiết việc làm đối với người thất nghiệp.
Công trình này cũng đề cập tới cơ quan thực hiện dịch vụ việc làm là các
TTGTVL, thực hiện chức năng cầu nối giữa NLĐ và người sử dụng lao động, thực
hiện sắp xếp việc làm cho NLĐ và người sử dụng lao động thông qua các hoạt động
môi giới. TTGTVL làm là nơi cung cấp các dịch vụ tư vấn cho NLĐ về: Lựa chọn
nghề, trình độ đào tạo, nơi học nghề, lựa chọn công việc phù hợp với khả năng và
nguyện vọng; về kỹ năng thi tuyển; về tự tạo việc làm, tìm việc làm trong và ngoài
nước; tư vấn cho người sử dụng lao động về tuyển dụng lao động; về quản trị và
phát triển nguồn nhân lực; về sử dụng lao động và phát triển việc làm; tư vấn về các
chính sách, pháp luật lao động cho NLĐ, người sử dụng lao động.
QLNN về BHTN sẽ phát huy tác dụng và đạt hiệu quả tối đa khi thực hiện
tốt các hoạt động dịch vụ việc làm cho NLĐ đang thất nghiệp. Vì vậy, công tác
QLNN về BHTN cần gắn với hoạt động của TTGTVL.
Ngoài công trình nghiên cứu trên còn có một số công trình nghiên cứu khác
như: Công trình nghiên cứu của TS Nguyễn Huy Ban: “Nghiên cứu những nội
dung cơ bản của BHTN hiện đại. Vấn đề lựa chọn hình thức TCTN ở Việt Nam”.
Công trình nghiên cứu đã đưa ra và phân tích các nội dung cơ bản của BHTN hiện
đại. Đồng thời tác giả cũng đề cập tới các hình thức TCTN ở Việt Nam.
Chuyên đề luận án Tiến Sĩ của tác giả Nguyễn Quang Vinh về “Các mô hình
và kinh nghiệm thực hiện BHTN trên thế giới”. Trong công trình nghiên cứu này, tác
giả đã đưa ra các mô hình BHTN trên thế giới, đặc biệt là nhấn mạnh đến kinh
nghiệm thực hiện BHTN của các nước từ đó đưa ra các khuyến nghị cho Việt Nam.
Công trình nghiên cứu:“Thực trạng, giải pháp phòng chống lạm dụng quỹ
BHTN trên địa bàn tỉnh Bình Dương” của tác giải Lê Minh Lý. Công trình
nghiên cứu này chủ yếu tập trung phân tích thực trạng quỹ và các giải pháp
chống lạm dụng quỹ BHTN trên địa bàn Bình Dương.
Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về



tắc có tính quy luật nào?


13

Thứ hai, kinh nghiệm QLNN về BHTN ở nước ngoài có thể đem lại
những gì bổ ích cho Việt Nam?
Thứ ba, thực trạng QLNN về BHTN đặt ra những vấn đề gì?
Thứ tư, giải pháp giúp cải thiện chất lượng công tác QLNN về BHTN
thích hợp với điều kiện Việt Nam?
Để giải quyết các vấn đề nêu trên, việc triển khai nghiên cứu trong luận án
dựa trên khung phân tích sau:

Hoàn cảnh,
Khung lý

xu hướng
Đánh giá

thuyết

thực trạng
Đề xuất
xu hướng,
Kinh nghiệm

giải pháp

quốc tế


đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025.
1.2.3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, chủ yếu là các
phương pháp phân tích chứng minh, tổng hợp, thống kê, so sánh, mô hình dựa
trên các tài liệu, báo cáo thứ cấp. Trong một số vấn đề đánh giá cụ thể có sử
dụng việc thu thập, xử lý các số liệu điều tra, phỏng vấn các cá nhân trực tiếp
tham gia quản lý BHTN, các chuyên gia, các nhà quản lý. Luận án sử dụng tổng
hợp các phương pháp nghiên cứu, kết hợp các kỹ thuật phân tích theo nhiều
chiều khác nhau về QLNN về BHTN để rút ra các nhận xét, đánh giá chân thực.


15

Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
2.1 Quan niệm quản lý nhà nước về Bảo hiểm thất nghiệp
2.1.1 Thất nghiệp và phân loại thất nghiệp
2.1.1.1 Quan điểm về thất nghiệp
Thất nghiệp là một khái niệm đã xuất hiện từ rất lâu và ngày nay đã trở
thành phổ biến trong nền KTTT. Thất nghiệp được đề cập đến trong các giáo
trình kinh tế, trong thống kê kinh tế quốc dân, trong sinh hoạt hàng ngày.
Theo quan điểm của P.ĂngGhen, trong quá trình phát triển của xã hội loài
người, lao động luôn được coi là nhu cầu cơ bản nhất, chính đáng nhất và lớn nhất
của con người. P.Ăng Ghen đã khẳng định “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên
của toàn bộ đời sống con người, đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta
phải nói rằng: Lao động đã tạo ra chính bản thân con người”. Thực tế cho thấy, ai
sinh ra cũng phải sống, muốn sống phải có ăn, mặc, muốn có ăn, mặc phải lao động
và được lao động, lao động là cách thức duy nhất để tạo ra thu nhập. Nhưng trong
điều kiện KTTT không phải ai cũng được đáp ứng và được đáp ứng một cách đầy đủ.

- Luật BHTN của Cộng hòa liên bang Đức định nghĩa: Người thất nghiệp
là NLĐ tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện những công việc
ngắn hạn.
Ở Việt Nam, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Thất nghiệp là
những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm,
đang không có việc làm”. Quan điểm này có điểm hợp lý là bao hàm được nhiều
dạng thất nghiệp nhưng không đề cập đến thị trường lao động và không đưa ra
căn cứ tính toán tỷ lệ thất nghiệp. Bộ Luật Lao động (được sửa đổi năm 2002),
ngoài việc quy định về việc làm, người có việc làm, người thiếu việc làm, đã quy
định về thất nghiệp và người thất nghiệp như sau:
- Người không có việc làm là người hoàn toàn không làm công việc gì để
hưởng lương, tiền công hay lợi nhuận vì nhiều lý do khác nhau như không tìm
được việc làm, không muốn làm việc, không có nhu cầu làm việc mặc dù trong
độ tuổi lao động.
- NLĐ có việc làm là người trong độ tuổi lao động, đang làm việc trong
các ngành kinh tế quốc dân, với thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy
định cho NLĐ có việc làm trong tuần lễ điều tra. Tùy theo tình hình kinh tế - xã


17

hội và đặc điểm của từng nhóm ngành nghề, Nhà nước quy định mức thời gian
làm việc chuẩn để được coi là có việc làm.
- NLĐ thiếu việc làm là người trong khoảng thời gian điều tra, có thời
gian làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu
làm việc thêm. Mức thời gian chuẩn tùy thuộc vào ngành nghề và tính chất công
việc do Nhà nước quy định cụ thể cho từng thời kỳ.
- Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi có một số người trong lực lượng lao
động, có khả năng lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm
ở mức tiền lương tối thiểu.

những người chưa từng đi làm, có nhu cầu tìm việc nhưng hiện không có việc làm.
NLĐ thiếu việc làm không được coi là người thất nghiệp.
Điều 3 của Luật BHXH năm 2006 của Việt Nam quy định người thất
nghiệp là: “Người đang đóng BHTN mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp
đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm”. Quan điểm
này chưa đề cập đến lý do thất nghiệp là chủ quan hay khách quan. Do đó
thường đẫn đến những nhầm lẫn trong việc xử lý BHTN.
Có thể thấy rằng, dù các cách tiếp cận có khác nhau, nhưng đều thống nhất
rằng, một NLĐ được coi là thất nghiệp phải thể hiện đầy đủ các đặc trưng sau: (1) Là
NLĐ, có khả năng lao động, (2) Đang không có việc làm, (3) Đang đi tìm việc làm.
Kế thừa các quan điểm về thất nghiệp nêu trên, dưới góc độ tiếp cận
QLNN về BHTN, có thể hiểu thất nghiệp như sau: Thất nghiệp là tình trạng
những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang tích cực tìm
việc làm nhưng chưa tìm được việc làm theo nhu cầu, đã đăng ký ở các cơ sở
quản lý lao động xã hội.
Nội hàm của khái niệm này cho thấy, các nội dung như trong độ tuổi lao
động, có khả năng lao động, đang tích cực tìm việc làm được coi là những đặc
trưng, dấu hiệu nhận diện cơ bản của thất nghiệp. Nội dung đã đăng ký ở các cơ
sở quản lý lao động xã hội nhấn mạnh hơn nữa đến khía cạnh tích cực tìm việc
làm của người thất nghiệp, đồng thời chỉ ra cơ sở, phương thức tính toán thực tế
số lượng người thất nghiệp. Khái niệm này cũng phân biệt được người thất
nghiệp thật sự với người không có việc làm nhưng không muốn đi tìm việc làm
và người làm không hết thời gian ở khu vực nông thôn.
2.1.1.2 Phân loại thất nghiệp
Có nhiều hình thái thất nghiệp khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu
và việc lựa chọn tiêu thức phân loại. Căn cứ vào tính chất thất nghiệp, người ta
phân ra các loại thất nghiệp sau:




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status