Du lịch sinh thái trong vấn đề phát triển kinh tế xã hội từ thực tiễn cù lao chàm, tỉnh quảng nam - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HOÀNG

DU LỊCH SINH THÁI TRONG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN
CÙ LAO CHÀM, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: VIỆT NAM HỌC
Mã số:

60 22 01 13

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS. TS. LẠI PHI HÙNG

HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, khoa
Việt Nam học và các phòng, ban chức năng trong Học
viện Khoa học xã hội đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình
học tập và thực hiện luận văn.
Đặc biệt, tôi xin được tỏ lòng biết ơn chân thành
tới người hướng dẫn khoa học - P G S . TS. Lại Phi
Hùng. Trong thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện

KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI CÙ LAO CHÀM ............................................... 29
2.1. Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của Cù Lao Chàm ....................... 29
2.2. Thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại CLC ....................................... 42
2.3. Ảnh hưởng phát triển du lịch sinh thái đến kinh tế - xã hội của CLC ..... 48
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
BỀN VỮNG TẠI CÙ LAO CHÀM ............................................................. 60
3.1. Phương hướng phát triển du lịch tại Cù Lao Chàm ................................. 60
3.2. Giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cù Lao Chàm .......... 64
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 76
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 78


DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CLC:

Cù Lao Chàm

DLST:

Du lịch sinh thái

KBT:

Khu bảo tồn

KBTB:

Khu bảo tồn biển

Sơ đồ cấu trúc DLST của Buckley (1994)

Trang 10

Bảng 2.1 :

Đa dạng sinh học ở khu vực Cù Lao Chàm

Trang 33

Bảng 2.2:

Tổng doanh thu du lịch CLC giai đoạn

Trang 44

2013-2015
Bảng 2.3:

Số hộ kinh doanh lưu trú 2010-2015

Trang 46

Biểu đồ 2.1:

Số lượt khách du lịch đến Cù Lao Chàm từ năm

Trang 43

2009 đến năm 2015

lượng du khách ra đảo ngày một tăng trở thành một trong những thách thức
lớn trong việc bảo tồn hệ sinh thái nơi này, nhất là chất lượng dịch vụ bởi hạ
tầng ở Cù Lao Chàm dù được cải thiện nhiều nhưng sẽ khó bảo đảm về nước
sạch, vệ sinh môi trường, kể cả vấn đề lương thực, vấn đề xử lý rác thải,
chống ô nhiễm môi trường cũng gặp nhiều khó khăn, vấn đề khai thác, bảo vệ
và phát huy bản sắc văn hóa địa phương cũng gặp nhiều hạn chế…
Làm thế nào để cân bằng các khía cạnh theo quan niệm bền vững trong
phát triển du lịch sinh thái tại Cù Lao Chàm là nguyên nhân để tác giả lựa
chọn đề tài: Du lịch sinh thái trong vấn đề phát triển kinh tế - xã hội từ
thực tiễn Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam làm đề tài luận văn tốt nghiệp
của mình.
1


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu và đánh giá DLST nhiều nơi trên thế
giới. Ví dụ như nhà khoa học Matley (1976), Clare Gun (1994) đề xuất các
nguyên tắc, phương pháp, vận dụng kinh nghiệm vào việc tổ chức không gian
du lịch cho các lãnh thổ Hector Ceballos và Lascurain (200 ) người Mexico
nghiên cứu DLST như là một công cụ giúp phát triển bền vững.
Việt Nam, việc nghiên cứu DLST đã được đề cập tới ở nhiều công
trình nghiên cứu của các nhà khoa học như: giáo trình Du lịch sinh thái những vấn đề về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” do PGS.TS. Phạm Trung
Lương chủ biên

Du lịch sinh thái – Ecotourism” do GS - TSKH. Lê Huy

Bá biên soạn …
Bên cạnh đó, nhiều dự án, hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế liên
quan đến DLST cũng được tổ chức như: Hội nghị quốc tế về du lịch bền vững
do Tổng cục Du lịch Việt Nam kết hợp với qu Hanns Seidel tổ chức tại Huế

với người dân và cộng đồng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã vận dụng kiến thức của một số
ngành như địa lý du lịch, sinh thái học, văn hóa học, xã hội học… để làm rõ
hơn cho vấn đề mình nghiên cứu.
5.2.2. Phương pháp khảo sát thực địa
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tiến hành nhiều lần thực địa để
thu thập thông tin, tài liệu, chụp ảnh, phỏng vấn, tham quan và đồng thời cũng
đến các điểm du lịch trên Cù Lao Chàm.
5.2.3. Phương pháp điều tra xã hội học
Đối tượng điều tra bằng bảng hỏi bao gồm:
- Các hộ dân địa phương ở cụm đảo Cù Lao Chàm (chủ yếu ở Hòn Lao).
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên.
- Các khách du lịch đến tham quan Cù Lao Chàm (khách nội địa và quốc tế).
- Ngoài ra, tác giả luận văn còn điều tra thông qua phỏng vấn trực
tiếp người dân, du khách và chuyên gia du lịch (đơn vị kinh doanh du lịch
ở địa bàn).

4


5.2.4. Phương pháp phân tích thống kê và mô tả
Tác giả sử dụng các nguồn số liệu thứ cấp đáng tin cậy được thu thập từ
Sở VHTT-DL, Trung tâm xúc tiến du lịch, Ban quản lý đảo Cù Lao Chàm. Bên
cạnh đó còn sử dụng các nguồn dữ liệu từ báo, tạp chí, sách, internet... Với các
nguồn dữ liệu này tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích thống kê để phân
tích đánh giá thực trạng của hoạt động du lịch sinh thái tác động đến phát triển
kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

thể đóng vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta đạt các Mục tiêu phát triển
Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals) mà Liên hơp quốc đã đề ra từ
năm 2000.
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của xã hội hiện
tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương
lai (Ủy ban Brundtland, 198 ). Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở
Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã đưa vấn đề
du lịch bền vững (sustainable tourism) là một phần quan trọng của phát triển
bền vững (sustainable development) tại nước ta.
Cách tiếp cận du lịch theo hướng bền vững truyền thống” nhất là đi
theo ba trục nội dung của phát triển bền vững: Kinh tế - Xã hội - Môi trường.
1.1.1. Khái niệm về du lịch bền vững
Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa thống nhất quan niệm phát triển du lịch
bền vững. Machado, 2003 đã định ngh a phát triển du lịch bền vững là: Các
hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch, và
cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu
của các thế hệ mai sau. Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá hủy về tài
nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự
nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương” [19, tr.13].
Theo Hội đồng Du lịch Lữ hành Thế giới (WTTC) và Tổ chức Du lịch
Thế giới (UNWTO): Du lịch bền vững là loại hình du lịch đáp ứng được nhu
6


cầu hiện tại của du khách và của những điểm đến mà vẫn bảo đảm và cải thiện
nguồn lực cho tương lai. Du lịch bền vững dẫn tới một phương thức quản lý tất
cả các nguồn lực sao cho thỏa mãn nhu cầu kinh tế, xã hội, thẫm m và vẫn giữ
gìn được sự trọn vẹn của văn hóa và môi trường sống”.

Sơ đồ 1.1: Sự tiếp cận của phát triển bền vững là nền tảng

Du lịch sinh thái được quan niệm là một loại hình du lịch bền vững gắn
với môi trường tự nhiên. Định ngh a tương đối hoàn chỉnh về du lịch sinh thái
lần đầu tiên được Hector Ceballos và Lascurain đưa ra năm 198 : “Du lịch
sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những
mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang
dã và những giá trị văn hóa được khám phá”. [1, tr.8]
Năm 1993, Allen đưa ra một định ngh a đề cập sâu sát đến l nh vực hoạt
động trách nhiệm của du khách, đó là: “Du lịch sinh thái được phân biệt với
các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi
trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề.
Du lịch sinh thái tạo ra mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên hoang dã
đã cùng với ý thức giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành những người
đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường. Phát triển DLST sẽ làm giảm thiểu
tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường đảm bảo cho địa
8


phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến
những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên”. [1, tr.9]
Định ngh a của hiệp hội du lịch sinh thái quốc tế (TIES): Du lịch sinh
thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các cảnh quan thiên nhiên mà bảo tồn
được môi trường và bảo tồn phúc lợi cho người dân địa phương”. [1, tr.10]
Tại Việt Nam, trong hội thảo về Xây dựng chiến lược phát triển DLST
ở Việt Nam” tháng 9 năm 1999 có đưa ra định ngh a về DLST là: “Du lịch
sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với
giáo dục môi trường, có đóng góp cho n lực bảo tồn và phát triển bền vững,
với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.
Trong Chương 1 của Luật du lịch năm 2005, tại khoản 19 Điều 4, có
định ngh a khá ngắn gọn về DLST là: Du lịch sinh thái là hình thức du lịch
dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của

song căn cứ vào những đặc thù và mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia, tổ
chức quốc tế đều phát triển những định ngh a riêng của mình về DLST.
Từ các định ngh a trên về DLST, có thể khái quát những đặc trưng về
định ngh a của khái niệm này như sau:
- Dựa vào thiên nhiên và các nền văn hóa bản địa, chủ yếu là các khu bảo
tồn thiên nhiên.

10


- Chú trọng vào sự nâng cấp và duy trì thiên nhiên, quản lý tài nguyên
bền vững.
Hỗ trợ cho công tác bảo tồn thiên nhiên. Du lịch sinh thái là một hình
thức du lịch diễn ra trong khu vực tự nhiên (đặc biệt là trong các khu vực cần
được bảo vệ và môi trường xung quanh nó) và kết hợp tìm hiểu bản sắc văn
hóa - xã hội của địa phương có sự quan tâm đến vấn đề môi trường. Nó thúc
đẩy một hệ sinh thái bền vững thông qua một quá trình quản lý môi trường có
sự tham gia của tất cả các bên liên quan.
- Mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương.
- Nâng cao hiểu biết của du khách về môi trường thiên nhiên và văn hóa
bản địa thông qua hoạt động giáo dục diễn giải môi trường. Từ đó, nâng cao
nhận thức tự giác bảo vệ môi trường.
- Đảm bảo cho nhu cầu thưởng thức của các thế hệ mai sau không bị ảnh
hưởng tiêu cực bởi các du khách hôm nay (du lịch sinh thái bền vững). Du lịch
sinh thái thường được xem xét là bộ phận quan trọng nhất của du lịch bền vững.
Du lịch sinh thái bền vững là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn
với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm đáp ứng
được nhu cầu hiện tại của du khách và của những điểm đến mà vẫn bảo đảm và
cải thiện nguồn lực cho tương lai.
1.2.

Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được sự hiểu biết cho khách du lịch
sinh thái, người hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am
hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương. Điều
này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động du lịch
sinh thái, khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự
mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn
viên. Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân địa
phương để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ
đóng vai trò là một người phiên dịch giỏi.
Hoạt động du lịch sinh thái đòi hỏi phải có được người điều hành có
nguyên tắc. Các nhà điều hành du lịch sinh thái phải có được sự cộng tác với
các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm
mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn
12


hoá khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân
địa phương và du khách.
1.2.1.3. Yêu cầu 3: nh m hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của
hoạt động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường.
Theo đó du lịch sinh thái cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ cả
quy định về sức chứa”. Khái niệm sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật
lý, sinh học, tâm lý và xã hội. Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới
lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm.
Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa
khách du lịch mà khu vực có thể tiếp nhận. Điều này liên quan đến những tiêu
chuẩn về không gian đối với mỗi du khách cũng như nhu cầu sinh hoạt của họ.
Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó
bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời
sống văn hoá - xã hội, kinh tế - xã hội của khu vực. Cuộc sống bình thường của

nhằm giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường.
- Hướng mọi khả năng đến việc góp phần bảo vệ môi trường.
Từ những cơ sở nền tảng trên, DLST khi hướng đến mục tiêu bền vững
đã xây dựng các nguyên tắc cơ bản sau đây:
1.2.2.1. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững: bao gồm
tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn. Cân đối hài hòa trong việc sử
dụng một cách bền vững nguồn tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất của việc
phát triển DLST.
1.2.2.2. Bảo tồn tính đa dạng về tự nhiên, văn hóa,… (chủng loài các hệ
động thực vật, bản sắc văn hóa dân tộc,…) vì DLST lấy bảo tồn là tiêu chí
hàng đầu trong hoạt động, khai thác du lịch chỉ là hoạt động thứ yếu.
1.2.2.3. Thúc đẩy chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản
lý di sản và các loại tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả. Tác động giảm
14


thiểu mức tiêu thụ tài nguyên hiện có, giảm thiểu lượng chất thải một cách triệt
để nhằm nâng cao chất lượng môi trường.
1.2.2.4. Trong quá trình khai thác hoạt động DLST, cần phối hợp mục
tiêu hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương, vì trách nhiệm của DLST là đóng
góp vào phúc lợi của cộng đồng địa phương như là một sự đầu tư gián tiếp
cho bảo tồn, góp phần tạo tính tương tác bền vững cho hoạt động DLST từ địa
bàn sở tại.
1.2.2.5. Phối hợp lồng ghép hài hòa giữa chiến lược phát triển du lịch
của địa phương, vùng và của quốc gia.
1.2.2.6. Tạo điều kiện thu hút sự tham gia của cộng đồng địa
phương.Với sự tham gia tích cực của cộng đồng sở tại không chỉ đem lại lợi ích
cho riêng cộng đồng, cho môi trường sinh thái mà còn góp phần tăng cường
khả năng đáp ứng tính đa dạng sản phẩm của DLST.
1.2.2.7. Triển khai các họat động tư vấn các nhóm lợi ích và công chúng.

- Mức đóng góp cho phát triển kinh tế địa phương.
- Sự phát triển phù hợp với mục tiêu đề ra trong quy hoạch phát triển
kinh tế xã hội của quốc gia và địa phương.
1.3.2. Tiêu chuẩn về xã hội, con người
Tính bền vững đó phải mang tính nhân văn hay nói một cách khác là
phải đem lại phúc lợi và chia sẻ công bằng cho mọi cá nhân trong xã hội. Phát
triển phải được gắn liền với một xã hội ổn định, hoà bình, mở rộng và nâng cao
năng lực lựa chọn cho mọi người cùng với đó là việc nâng cao sự tham gia của
cộng đồng vào quá trình phát triển. Tiêu chuẩn đánh giá là:
- Sự khai thác hợp lý các giá trị văn hóa-xã hội
- Giáo dục, xây dựng, phục hồi và phát triển văn hóa truyền thống của
dân tộc
- Sự hưởng thụ về văn hóa, mức sống và sinh hoạt của cộng động được
cải thiện.

16


1.3.3. Tiêu chuẩn về môi trường
Môi trường sống có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống và sự phát triển của
mỗi cá thể và của cộng đồng, nó bao gồm toàn bộ các điều kiện vật lý, hoá học,
sinh học...và xã hội bao quanh. Bền vững về mặt môi trường là ở đó con người
có cuộc sống chất lượng cao dựa trên nền tảng sinh thái bền vững. Tiêu chuẩn
đánh giá là:
- Mức độ khai thác và bảo vệ tài nguyên.
- Sức chứa của các điểm đến DLST, mật độ phát triển cho phép.
- Quản lý môi trường của những hoạt động phát triển, quản lý chất thải.
- Bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái bằng việc giáo dục nâng cao
nhận thức tôn trọng, bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái cho các địa phương tham
gia vào hoạt động phát triển.

luyện và chuyển giao công nghệ, được hỗ trợ các khâu tiếp thị, xúc tiến bán
hàng…
Các trung tâm nghiên cứu và đào tạo nghệ nhân cũng được lập ra.
Các chính sách khuyến khích khôi phục và bảo tồn giá trị văn hóa địa
phương cũng được chú ý. Đặc biệt là việc lưu giữ và chuyển hóa các giá trị này
vào trong các sản phẩm.
Các sản phẩm gắn nhãn OTOP, được trưng bày trong hội chợ thương
mại quốc tế, được hưởng chính sách miễn hoặc giảm thuế. Những sản phẩm
nào từ 3 sao trở lên được chính quyền đặc biệt hỗ trợ, cấp 5 sao được ưu tiên
nhất. Đây là lý do để các sản phẩm không ngừng được cải thiện và nâng cao
chất lượng nhằm nhận được sự hỗ trợ từ Chính phủ.
Thông qua sự khôi phục và phát triển của các làng nghề, việc giữ gìn bản
sắc giá trị tri thức văn hóa truyền thống thực hiện tốt hơn, cũng góp phần tạo
công ăn việc làm cho người dân ở địa phương, …
Phát triển du lịch với các hình thức chợ đường phố (kad), chợ đêm
(night ba aar) giúp các làng nghề giới thiệu và bán sản phẩm của làng mình
cho du khách.

18


Việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế sản phẩm,
cải tiến và nâng cao chất lượng các sản phẩm OTOP, xây dựng các trang thông
tin của địa phương… có sự kết hợp giữa các địa phương, doanh nghiệp du lịch
kết hợp với các trường đại học và viện nghiên cứu tạo kết quả cao.
Những doanh nghiệp lữ hành thường xuyên tổ chức các chương trình du
lịch đến các làng nghề để khách du lịch được tận mắt thấy sinh hoạt làng nghề,
quy trình sản xuất các sản phẩm OTOP và có thể tự mình thực hiện tạo ra các
sản phẩm ấy.
Môi trường du lịch thân thiện tại các làng nghề được tạo ra từ đội ngũ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status