BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN HOÀNG PHƯỚC TUYÊN
VẤN ĐỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA
DÂN TỘC CƠTU Ở TỈNH QUẢNG NAM
HIỆN NAY
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
MÃ NGÀNH: 60.22.80
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS- TS. ĐOÀN ĐỨC HIẾU
Huế, 2010
3
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là nền tảng sinh hoạt tinh thần của con người
trong xã hội, phản ánh trình độ phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi
dân tộc. Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, với xu thế hội nhập và quốc tế hóa ngày càng cao. Bên cạnh
những thay đổi, chuyển biến về mặt kinh tế nói chung, xã hội đã
đặt ra cho lĩnh vực văn hóa nhiều vấn đề mới. Đặc biệt là những
vấn đề nảy sinh do sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội
và sự biến đổi của cơ chế quản lý. Bên cạnh đó còn có những vấn
đề văn hóa nảy sinh từ quá trình đô thị hóa gắn liền với tiến trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mặt khác, trình độ dân trí được
nâng cao cũng làm cho nhu cầu hưởng thụ văn hóa gia tăng về
quy mô và chất lượng. Sự chuyển tiếp thế hệ còn đặt ra vấn đề
bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống sao cho đảm
bảo được sự phát triển bền vững của đất nước.
Cùng với việc tham gia Thập kỷ quốc tế về văn hóa trong
phát triển (1987-1996) và chủ trương bảo tồn, phát huy giá trị văn
hóa do UNESCO (Tổ chức văn hóa thế giới) phát động, Đảng ta
xác định: “văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, văn hóa vừa là
mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế- xã hội”. Trên cơ sở
chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan niệm
mới về văn hóa của phương Tây mà điểm cốt lõi là đề cao nhân tố
văn hóa trong phát triển, phát huy những giá trị văn hóa, coi trọng
5
6
việc bảo vệ bản sắc dân tộc, đã có nhiều công trình nghiên cứu về
văn hóa; trong số đó, có những công trình tiêu biểu sau đây:
Trong cuốn sách Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin
về văn hóa do Phạm Duy Đức chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, năm 2008), các tác giả đã bàn luận quan điểm của các
nhà triết học mácxít về xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa và
một số lĩnh vực cơ bản như văn hóa chính trị, vấn đề xây dựng
con người, đạo đức, lối sống, tín ngưỡng…
Trong cuốn Giá trị truyền thống trước những thách thức
của toàn cầu hóa (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, năm 2002),
các tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên đã phân
tích về thực chất của toàn cầu hoá nhìn từ góc độ triết học, giá trị
học, quan hệ của toàn cầu hoá với việc giữ gìn và phát huy các
giá trị văn hóa truyền thống, những giải pháp và dự báo về vị trí,
vai trò, khả năng của giá trị truyền thống trong sự phát triển nền
văn hoá nước ta hiện nay.
Tác giả Nguyễn Huy Hoàng trong cuốn Mấy vấn đề triết
học văn hóa (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 2002), đã
xem xét văn hóa trong sự phát triển của tri thức triết học từ góc độ
lịch sử đến góc độ phương pháp luận để trên cơ sở đó suy ngẫm
tộc, Hà Nội, năm 2006), tác giả Đinh Hồng Hải bằng việc mô tả
kiến trúc Gươl và các lễ hội văn hóa của người Cơtu, đã chỉ ra
những khía cạnh đời sống tinh thần của người Cơtu ở Quảng
Nam.
Tác giả Lưu Hùng trong cuốn Góp phần tìm hiểu văn hóa
Cơtu (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2006), đã giới thiệu
những nét chính của văn hóa dân tộc Cơtu, những giá trị tín
7
8
ngưỡng và tập tục lạc hậu diễn ra trong đời sống của người Cơtu
ở Quảng Nam.
Viết về chính bản thân mình cùng với những nét đặc
trưng của dân tộc mình, tác giả Bh’riu Liếc trong cuốn Văn hóa
người Cơtu (Nxb Đà Nẵng, năm 2009), đã trình bày một cách
sinh động về tộc danh, phạm vi cư trú, tính cách con người cùng
với những phong tục, tập quán và các lễ hội cổ truyền của người
Cơtu ở Quảng Nam.
Trong công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu
Thông, cuốn Katu- kẻ sống đầu nguồn nước (Nxb Thuận Hóa,
năm 2005), đã lý giải về nguồn gốc hình thành tộc người, phạm vi
cư trú và tộc danh của người Cơtu, đồng thời tác giả cũng nêu
một số phong tục, tập quán, lễ hội của dân tộc này.
Cuốn tư liệu Người Cơtu ở Việt Nam (Nxb Thông tấn, Hà
Nội, năm 2009) của Trần Tấn Vịnh đã ghi lại bằng hình ảnh, miêu
tả văn hóa người Cơtu ở Quảng Nam trong cuộc sống hằng ngày
và các sinh hoạt lễ hội.
Có thể khẳng định, cho đến nay chưa có công trình nào
xuất bản và công bố mà trùng với hướng tiếp cận và nội dung đề
tài “Vấn đề phát huy giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng
Nam hiện nay”. Điểm mới của đề tài ở chỗ, vận dụng quan điểm
tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam và đề xuất giải pháp phát huy những
giá trị đó trong giai đoạn xã hội hiện nay.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu
thuộc lĩnh vực khoa học xã hội- nhân văn, nhất là những nghiên
cứu về văn hóa, góp phần tích cực cho việc tìm kiếm các giải
pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Quảng
Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,
Luận văn có 2 chương (5 tiết).
9
10
Chương 1
QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN VỀ VĂN HÓA
1.1. Khái niệm và bản chất của văn hóa
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Con người đã sáng tạo ra “giới tự nhiên thứ hai” bằng lao
động, hoạt động thực tiễn của mình. Ngay từ buổi bình minh của
nhân loại, con người đã thực hành văn hóa trong đời sống.
Khái niệm văn hóa thời cổ đại ở Trung Quốc được hiểu là
sự biến cải, biến đổi, bồi đắp cho đẹp ra. Còn trong xã hội
Phương Tây khái niệm văn hóa dùng để nói đến lĩnh vực của hiện
thực, lĩnh vực hoạt động của con người như một chủ thể tự do và
sáng tạo.
C. Mác và Ph. Ăng- ghen xem văn hóa là một dạng hoạt
động người và những thành tố văn hóa thuộc về ý thức xã hội, bị
quy định bởi tồn tại xã hội. Lênin cho rằng, văn hóa là kết quả
sáng tạo của tất cả các hoạt động của con người. Các nhà mácxít
cũng xem văn hóa là nền tảng sâu xa quy định sự phát triển của
đời sống xã hội.
và xã hội; giáo dục; thẩm mỹ; điều tiết quan hệ xã hội; dự báo
Chức năng nhận thức, cải tạo tự nhiên và xã hội giúp con
người nhận thức và hành động theo đúng quy luật của tự nhiên.
Chức năng giáo dục là chức năng bao trùm và quan trọng nhất
của văn hóa, qua đó văn hóa định hướng nhân cách và hành động
thực tiễn. Chức năng thẩm mỹ có tầm quan trọng đặc biệt, thúc
đẩy con người vươn đến giá trị chân- thiện mỹ.
11
12
1.3. Giá trị văn hóa và việc phát huy giá trị văn hóa
1.3.1. Giá trị văn hóa
Giá trị là một phạm trù triết học, chỉ những thành quả lao
động sáng tạo, là ý nghĩa của những hiện tượng vật chất hay tinh
thần có khả năng thỏa mãn nhu cầu tích cực của con người và nhu
cầu phát triển xã hội, chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm và
hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật, hiện tượng.
Giá trị văn hóa là cái hình thành trong quá trình vận động
của các cá nhân, nhóm và cộng đồng xã hội vươn tới thỏa mãn
nhu cầu của mình theo chiều hướng tích cực, thể hiện thái độ,
trách nhiệm và những quy tắc ứng xử của mỗi người trong quan
hệ của bản thân với gia đình, xã hội và thiên nhiên được cộng
đồng thừa nhận, duy trì, bảo vệ và phát triển.
Giá trị văn hóa mang tính lịch sử khách quan, tính phổ
biến và có thể biến đổi theo trình độ phát triển của nhận thức và
chuẩn mực xã hội. Các giá trị văn hóa biểu hiện trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội.
Giá trị văn hóa của mỗi dân tộc như là cái phổ biến trong
phạm vi mỗi cộng đồng dân tộc và là cái đặc trưng trong phạm vi
xã hội đa cộng đồng.
1.3.2. Phát huy giá trị văn hóa
nhân dân là vấn đề cần quan tâm hàng đầu của mỗi dân tộc ở mỗi
địa phương. Để tạo sự thống nhất trong tính đa dạng về bản sắc
văn hóa, cần chú trọng đến việc phát huy giá trị văn hóa của mỗi
13
14
dân tộc. Phát huy, trước hết phải bảo tồn, giữ gìn những giá trị và
trên cơ sở đó kế thừa và phát triển lên tầm cao hơn.
Chương 2
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN
VỀ VĂN HÓA VÀO VIỆC PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA
DÂN TỘC CƠTU Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
2.1. Những giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở Quảng Nam
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và lịch sử của dân tộc Cơtu
Miền núi Quảng Nam chiếm 81,27% diện tích tự nhiên
toàn tỉnh, với 6 huyện vùng cao, 03 huyện miền núi, là địa bàn
chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng.
Số dân trên 410.000 người, trong đó gần 56 ngàn người
dân tộc Cơtu (xếp thứ 26 trong danh mục thành phần dân tộc Việt
Nam) sinh sống bằng kinh tế nương rẫy là chủ yếu.
Đặc điểm tự nhiên của vùng đất người Cơtu sinh sống
nằm trong khu vực tương đối thống nhất của điều kiện tự nhiên
nối liền các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên- Huế với
Tây Nguyên.
Theo nhiều cứ liệu điều tra, dân tộc Cơtu là cư dân có mặt
tại bán đảo Đông Dương từ lâu đời, là chủ thể của vùng núi
Quảng Nam với phân nhánh ngữ hệ “Cơtu- ít” của ngữ hệ Môn
Khơmer.
2.1.2. Những nội dung cơ bản của văn hóa dân tộc Cơtu từ góc
nhìn triết học
2.1.2.1. Văn hóa vật thể
15
16
tính tiện dụng. Tính cộng đồng cũng thể hiện rất rõ trong ăn uống
của người Cơtu.
Từ khía cạnh văn hóa vật thể của dân tộc Cơtu, nổi bật
lên là mô hình cư trú của cộng đồng mà điểm nhấn cho giá trị văn
hóa này là nhà làng (gươl). Gươl là công trình kiến trúc văn hóa
đặc sắc, biểu hiện giá trị về mặt nghệ thuật (điêu khắc, trang trí),
chứa đựng những yếu tố tâm linh và chuyển tải những quan niệm
của đồng bào Cơtu trong việc nhận thức thế giới. Trang phục,
trang sức của người Cơtu cũng nói lên quan niệm thẩm mỹ và sự
thích nghi của con người trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên.
2.1.2.2. Văn hóa phi vật thể
Quan niệm về thế giới, thần linh
Thế giới trong quan niệm của người Cơtu bao gồm Trời,
Đất và con người. Người Cơtu đặc biệt coi trọng Trời, Đất, họ
cho rằng đó là nơi sinh ra con người.
Người Cơtu tôn thờ rất nhiều vị thần như thần tốt, thần
chết, thần ác, trong đó vị trí hàng đầu là thần chết.
Quan niệm về thế giới, thần linh trong đời sống văn hóa
tinh thần của người Cơtu chứa đựng nhiều mâu thuẫn, đan xen giữa
yếu tố duy vật và duy tâm, đan xen giữa kinh nghiệm và mê tín, ma
thuật.
Quan niệm về con người
Con người là một bộ phận của giới tự nhiên, dựa vào tự
nhiên để sống, tuy nhiên vai trò của con người có phần nhỏ bé
trước vũ trụ bao la.
Người Cơtu tin rằng, mỗi con người có phần xác và phần
hồn. Từ quan niệm hồn xấu của người chết là lực lượng gây ra
16
18
tương thân, tương trợ trong phạm vi làng và tuân thủ luật tục của
làng, tinh thần đoàn kết trong cộng đồng và với các cộng đồng
dân tộc khác.
Văn hóa dân tộc Cơtu mang tính triết lý sâu sắc. Những
phong tục, tập quán, lối sống, những sinh hoạt tinh thần, sáng tạo
nghệ thuật… của họ thể hiện nhận thức về thế giới và quan niệm
sống.
Văn hóa dân tộc Cơtu thể hiện phong phú về đời sống
tâm linh. Thể hiện qua việc cúng tế, cầu nguyện trong các lễ hội,
quan niệm sống và sinh hoạt hằng ngày
Từ các khía cạnh văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
của dân tộc Cơtu ta thấy môi trường sinh hoạt làng, phạm vi cư
trú chính là không gian văn hóa của dân tộc Cơtu, những sinh
hoạt hằng ngày, hoạt động giao tiếp, ứng xử của người Cơtu cũng
chính là hành vi đạo đức. Kể cả trong sinh hoạt tinh thần, những
tác phẩm nghệ thuật toát lên tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống
và những ước vọng, hoài bảo rất nhân bản.
2.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy giá trị văn hóa
dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay
2.2.1. Các giải pháp về kinh tế
Với tư cách là nhân tố thúc đẩy sự phát triển đời sống tinh
thần của xã hội, văn hóa được đặt trong mối quan hệ biện chứng
với chính trị, kinh tế, xã hội. Trước những thuận lợi và khó khăn
ở miền núi Quảng Nam, để phát huy những giá trị văn hóa dân tộc
Cơtu thì phải thực hiện giải pháp về phát triển kinh tế như sau:
Thứ nhất, đầu tư hoàn thiện dần cơ sở hạ tầng kinh tế:
điện- đường- trường- trạm cho từng xã vùng cao.
18
19
giáo dục về chính trị tư tưởng, giúp đồng bào nâng cao nhận thức,
tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách- pháp
luật của Nhà nước.
Thứ hai, giải quyết hài hòa vấn đề dân tộc, tôn giáo.
2.2.3. Các giải pháp về văn hóa, giáo dục
Giải pháp này đề ra những cách thức trực tiếp, cụ thể chú
trọng vào vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc Cơtu
trên cơ sở nhận thức điểm mạnh và khó khăn trong công tác văn
hóa ở địa phương.
Thứ nhất, chú trọng khôi phục không gian sinh hoạt văn
hóa làng.
Thứ hai, khôi phục và phát triển ngành nghề truyền
thống.
Thứ ba, đẩy mạnh phát triển y tế, giáo dục là giải pháp
hết sức quan trọng trong điều kiện hiện nay ở vùng cao.
Thứ tư, quy hoạch và tạo nguồn nhân lực tại chỗ.
Thứ năm, vận động xóa bỏ những hủ tục trong cưới xin,
tang ma là giải pháp cụ thể và trực tiếp đối trong việc xóa bỏ
những phong tục, tập quán lạc hậu trong đời sống người Cơtu.
Kết luận chương 2.
Dân tộc Cơtu là một dân tộc ít người sinh sống ở miền
núi Quảng Nam. Tuy điều kiện kinh tế còn khó khăn nhưng tộc
người này có nền văn hóa truyền thống với những giá trị đặc sắc.
Nền văn hóa dân tộc Cơtu thể hiện sinh động những nét đẹp đời
thường, trong phong tục, tập quán và những tri thức có giá trị tích
cực về cuộc sống. Những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
20
21
này thể hiện trong các di sản văn hóa, trong hành vi và cách thức
sinh hoạt hằng ngày của mỗi cá nhân, trong đời sống tâm tinh,
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị-
xã hội và ý thức xã hội. Trên phương diện giá trị, văn hóa được
xem là sản phẩm của hoạt động con người, những thành tựu sáng
tạo bởi con người trong sự khác biệt với tự nhiên.
Văn hóa là khái niệm có nội hàm rất rộng, liên quan đến
toàn bộ đời sống vật chất và cả đời sống tinh thần của xã hội.
Trên cơ sở lập trường mácxít, có thể hiểu văn hóa là hệ thống
những giá trị vật chất và tinh thần của con người, biểu thị trình độ
phát triển lịch sử nhất định của một xã hội, thể hiện sự sáng tạo
của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn và được đúc kết
thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội làm nên bản sắc của một dân
tộc, một cộng đồng xã hội mà nó có khả năng chi phối toàn bộ đời
sống tâm lý và hoạt động của con người trong cộng đồng ấy.
Khi nói đến những thành tựu văn hóa hay những giá trị
của văn hóa, người ta chia văn hóa thành hai lĩnh vực: văn hóa vật
chất và văn hóa tinh thần. Khi xét đến hình thức tồn tại, người ta
chia văn hóa thành văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Giữa
hai mặt này luôn tác động biện chứng với nhau trong hoạt động
sống của con người. Về mặt cấu trúc, văn hóa gồm những yếu tố
như tri thức- tư tưởng, tín ngưỡng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm
mỹ, lối sống, luật tục của con người
Phát huy giá trị văn hóa là lĩnh vực hoạt động có tính thực
tiễn nhằm giữ gìn và nâng cao những giá trị truyền thống của văn
hóa dân tộc. Phát huy là quá trình trong đó chú trọng đến yếu tố
bảo tồn, giữ gìn và kế thừa giá trị, tạo điều kiện cho giá trị văn
22
23
hóa phát triển trong điều kiện mới.
Trên cơ sở quan điểm triết học Mác- Lênin về văn hóa,
nhận thấy rằng việc bảo tồn và phát huy những giá trị, bản sắc