BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề tài:
Điều tra kinh tế xã hội và đánh giá hiện trạng
nuôi trồng thuỷ sản của các xã Long Điền và
Long An, huyện Phú Long, tỉnh Thừa Thiên
Huế
MỤC LỤC
BÁO CÁO THỰC TẬP.........................................................................................................1
Đề tài:.....................................................................................................................................1
Điều tra kinh tế xã hội và đánh giá hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản của các xã Long Điền và
Long An, huyện Phú Long, tỉnh Thừa Thiên Huế..................................................................1
MỤC LỤC..............................................................................................................................2
PHẦN 1..................................................................................................................................3
MỞ ĐẦU...............................................................................................................................3
PHẦN 2..................................................................................................................................6
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU....................................................................6
PHẦN 3................................................................................................................................14
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................14
PHẦN 4................................................................................................................................16
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..................................................................................................16
Tần suất thay nước...............................................................................................................34
Các yếu tố kiểm tra...............................................................................................................34
Lượng nước thay..................................................................................................................34
Thiết bị sử dụng....................................................................................................................34
PHẦN NĂM : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.....................................................................42
PHẦN SÁU : TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................44
Mục tiêu của đề tài:
- Nắm được tình hình kinh tế - xã hội của hai xã tiến hành nghiên cứu.
- Nắm được tình hình nuôi trồng thuỷ sản, so sánh hiệu quả kinh tế từ hoạt động nuôi
trồng của hai xã và tìm ra mô hình nuôi hiệu quả.
- Bước đầu xác định nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp khắc phục và nâng cao
hiệu quả sản xuất.
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tình hình nuôi trồng thủy sản trên thế giới
2.1.1. Tình hình chung
Trong thời gian gần đây, nuôi trồng thuỷ sản liên tục tăng mức đóng góp vào sản
lượng thuỷ sản trên thế giới, từ chỗ chỉ chiếm 7,3% sản lượng trong năm 1970, hiện nay đã
lên tới 33,92% (Trong tổng số 142,1 triệu tấn thuỷ sản thế giới sản xuất được trong năm
2001, nuôi trồng thuỷ sản đạt 48,42 triệu tấn). Các loài cá nước ngọt vẫn chiếm ưu thế
trong nuôi trồng thủy sản. Sản lượng năm 2001 đạt 20,80 triệu tấn, chiếm 85,2% tổng sản
lượng cá nuôi đạt giá trị 22,122 tỷ USD. Tiếp theo là cá di cư hai chiều (2,543 triệu tấn,
chiếm 10,4%, trị giá 7,435 tỷ USD) và cá biển (1,091 triệu tấn, chiếm 4,1%, trị giá 4,088 tỷ
USD). Mức tăng trung bình của các nhóm trên gần giống nhau, cụ thể là trong giai đoạn
1970-2000, cá nước ngọt có mức tăng trung bình hàng năm là 9,9%, trong khi cá di cư đạt
10,6% và cá biển đạt 10,6%. [14]
Bảng 2.1 :Sản lượng và giá trị của một số loài
Nhóm cá
Sản lượng
Trị giá
(tấn)
715.091.100
Chình (2000)
232.815
975.005.700
Cá biển (2001)
1.091.085
4.088.894
( Nguồn: Bộ Thủy sản)
Nuôi tôm luôn chiếm ưu thế trong nuôi giáp xác và trong nuôi trồng thủy sản, tính
đến năm 2003, sản lượng nuôi tôm trên thế giới đạt 1.804.932 tấn trong đó có 666.071 tấn
tôm sú, 723.858 tấn tôm thẻ chân trắng, còn lại là các đối tượng khác (FAO,2004). Cũng
theo FAO, báo cáo “Tình hình nuôi trồng thủy sản trên thế giới” năm 2007, sản lượng tôm
nuôi trên thế giới đạt vào khoảng 3,3 triệu tấn. [14]. Tuy tôm nuôi mới chỉ chiếm 4,3% sản
lượng và 15,3% giá trị trong cơ cấu các sản phẩm nuôi trồng thủy sản (FAO,2003) nhưng
có một vai trò đặt biệt quan trọng trong thương mại thủy sản thế giới, đặt biệt là các nước
đang phát triển. [1].
2.1.2. Tình hình nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
Hoạt động nuôi trồng thủy sản ở nước ta thực sự khởi sắc từ năm 1990 và đến năm
2000 – 2002 thì bùng phát cả về diện tích lẫn đối tượng nuôi. Việc mở rộng diện tích nuôi
trồng thủy sản được tiến hành chủ yếu trên các vùng đất ngập nước ven biển, trong các
Tỷ USD
Năm
2001
2005
2010
2257
2245
3400
1367
1300
1400
1,76
3
4,5
(Nguồn: Báo cáo thảo luận hội nghị đánh giá kết quả thực hiện chương trình
phát triển thuỷ sản giai đoạn 2000- 2005 và biện pháp thực hiện đến năm 2010)
324,1
93,5
2001
454,9
154,9
2002
509,6
186,2
2003
574,9
237,9
2004
598
281,8
2005
nguyên liệu tôm cho chế biến, xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
Các huyện Phú Vang, Phú Long phát triển nuôi tôm nhanh hơn các huyện khác.
Vùng đầm phá huyện Phú Long tăng diện tích bình quân hằng năm là 42,192%/năm và sản
lượng tăng 109,84%/năm trong thời gian trên. Phong Điền không mở rộng diện tích nhưng
đầu tư thâm canh nên sản lượng tôm nuôi ở năm 2003 tăng 9,67 lần so với năm 1998. Năm
2009, theo báo cáo của các đơn vị và địa phương trong tỉnh, kết quả thực hiện các chỉ tiêu
kế hoạch về nuôi trồng thủy sản trong 10 tháng và ước lượng cả năm 2009 như sau: [6]
* Về diện tích.
Tính đến hết tháng 8 tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản trên toàn Tỉnh thực hiện là :
5.670,25 ha đạt 94,95% so với kế hoạch. Trong đó:
+ Diện tích nuôi nước lợ, mặn: 3.823,46 ha, đạt 92,51% so với kế hoạch gồm:
- Diện tích nuôi chuyên tôm:
1.424,3ha/2.430,2ha, đạt 58,61%;
- Diện tích nuôi xen ghép:
2.213,73ha/1.532,5ha, đạt 144,45%;
- Diện tích nuôi tôm chân trắng:
185,43ha/185,43ha, đạt 100%.
- Nuôi lồng nước lợ thực hiện được: 1.523 lồng đạt 152,30% .
Đến nay, diện tích nuôi xen ghép phát triển khá mạnh đạt 144,45 % so với kế hoạch
và tăng 45,21% so với cùng kỳ năm 2008, có được điều này là do bà con ngư dân đã thấy
được hiệu quả bền vững từ hình thức nuôi này. Năm nay một số hồ nuôi tôm bỏ hoang đã
được bà con ngư dân chuyển sang nuôi xen ghép như Quảng Điền, Phú Long, Phú Vang,
Hương Trà. Diện tích nuôi chuyên tôm giảm mạnh chỉ đạt 58,61% so với kế hoạch vì
chuyển sang nuôi xen ghép.
Bảng 2.4: Năng suất nuôi chuyên tôm trong ao [6]
STT
Tên Huyện
Năng suất bình quân
Ghi chú
(tấn/ha/vụ)
1
Phú Vang
1,10
2
Phú Long
0,48
3
Hương Trà
0,50
4
2.3.2. Tình hình nuôi trồng thủy sản xã Long An và Long Điền .
Trong những năm gần đây dưới sự chỉ đạo phát triển của ủy ban nhân dân xã Long
Điền và Long An tình hình nuôi trồng thủy sản của hai xã đã có những phát triển đáng kể,
diện tích và sản lượng không ngừng tăng lên, trong đó xã Long Điền có diện tích 179 ha
đạt 106,5% kế hoạch tăng 11 ha so với năm 2008, năng suất bình quân ước tính đạt 1
tấn/ha sản lượng nuôi trồng 179 tấn tôm, cá các loại đạt 91,66% kế hoạch giá trị sản xuất
ước 8,8 tỷ đồng, diện tích tôm bị bệnh chết 24,5 ha chiếm tỷ lệ 15,31%. Long An nuôi
trồng thủy sản chủ yếu là nuôi cá nước ngọt năm 2009 tổng diện tích nuôi là 67,1 ha trong
đó có 50,4 ha là nuôi cá nước ngọt; 31,4 ha nuôi cá; 31,7 ha nuôi cá lúa; 3,9 ha là sen cá;
riêng nuôi cá lồng có 67 lồng chủ yếu là trắm cỏ, diện tích nuôi tôm là 16,7 ha. Đối với cá
nuôi ao cho năng suất 0,9 tấn/ha, đối với cá lồng năng suất bình quân 0,25 tấn/lồng. Sản
lượng nuôi trong năm qua đạt 143 tấn tôm, cá trong đó tôm 17 tấn còn lại là cá, tổng giá trị
sản xuất ước tính 5,8 tỷ đồng đạt 89,78% kế hoạch.[10][12]
Nhìn chung ở hai xã Long Điền và Long An đang có những chuyển biến tích cực
trong nuôi trồng thủy sản đem lại thu nhập đáng kể, đạt được thành công trong xóa đói
giảm nghèo cho nhân dân. Ở đây, nhiều mô hình nuôi thủy sản thành công ngày càng
nhiều, điển hình là [8]:
Bảng 2.5 Danh sách các hộ nuôi thủy sản điển hình của huyện phú Long
T
I
Đơn vị
DT
Hộ nuôi
5
15
250
250
(ha)
Long Điền
1
Nguyễn
Văn
Bình
2
Đặng Thoan
1,7
3,5
130
2
Nguyễn
1,18
1,12
120
1,39
1,2
125
II
1,5
40
40
Long An
Mai
Cáo
3
- Trình độ hiểu biết của người dân về nuôi trồng thuỷ sản còn thấp, một số người còn
mang hệ tư tưởng bảo thủ.
Những khó khăn đó xuất phát từ.
* Nguyên nhân :
- Đời sống người dân còn nghèo
- Thiếu giống thủy sản
- Giá cả phụ thuộc thị trường
- Nguồn giống không đảm bảo
- Thiếu qui hoạch tổng thể
- Không có tập huấn hoặc tổ chức tập huấn còn quá ít
Để giải quyết trước mắt những khó khăn còn tồn tại Ủy ban nhân dân huyện đã đề
xuất các giải pháp :
* Giải pháp :
- Tạo điều kiện cho người dân vay vốn sản xuất
- Mở các lớp tập huấn kỹ thuật nuôi trồng thủy sản
- Lập kế hoạch và qui hoạch vùng nuôi rõ ràng
- Nắm rõ thông tin thị trường
- Xây dựng hệ thống xử lý nước
- Hỗ trợ con giống cho người dân sản xuất
PHẦN 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3. Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Các hộ dân nuôi trồng thuỷ sản tại địa điểm nghiên cứu.
3.2. Thời gian nghiên cứu.
Tháng 1 đến tháng 5 năm 2010
3.3. Địa điểm nghiên cứu.
Nghiên cứu được tiến hành tại xã Long Điền và xã Long An huyện Phú Long – tỉnh
Số liệu thu được sẽ được tập hợp và xử lý bằng phần mềm xử lý số liệu Excell
2003.
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Long Điền và Long An là hai xã thuộc huyện Phú Long với địa thế nằm ven Phá
Tam Giang nên thuận lợi cho phát triển ngành thuỷ sản và cũng là nơi có thế mạnh về khai
thác và nuôi trồng thuỷ sản. Vì là vùng ven Phá Tam Giang nên cả hai xã đều có tiềm năng
rất lớn để phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, diện tích mặt nước tiềm năng để phát
triển nuôi trồng thuỷ sản; đối với xã Long Điền là 202 ha, tính đến năm 2008 tổng diện tích
đưa vào nuôi trồng là 179 ha, năm 2009 là 190 ha, ở đây chủ yếu là nuôi độc canh tôm sú
và một số vùng nuôi xen ghép tôm với cá kình, cá dìa; riêng xã Long An là có diện tích
đầm phá nhỏ hơn nhưng lại có thế mạnh về nuôi cá nước ngọt, trong đó năm 2009 tổng
diện tích nuôi trồng là 67,1 ha thì đã có tới 50,4 ha là nuôi trồng thủy sản nước ngọt, phần
lớn là nuôi lồng bè độc canh cá trắm cỏ còn lại là nuôi xen ghép cá lúa, sen cá…
Để đánh giá thực trạng về tình hình nuôi tôm trong những năm qua của hai xã và so
sánh mặt bằng hiệu quả kinh tế đồng thời phân tích tìm hiểu khả năng phát triển của nuôi
trồng thủy sản ở hai xã trên, chúng tôi đã tiến hành điều tra các thông tin liên quan, làm cơ
sở đánh giá bước đầu.
4.1. Điều kiện tự nhiên ở xã Long An và Long Điền :
4.1.1.Vị trí địa lí, địa hình :
4.1.1.1.Vị trí địa lí
Long An và Long Điền là hai xã ven vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm về
phía Nam của huyện Phú Long chạy dọc theo phá Cầu Hai.
* Long Điền : Phía Đông giáp xã Vinh Giang,Vinh Hà, Vinh Hưng; Phía Tây xã Long
Hòa, huyện Nam Đông và phía Nam giáp thị trấn Phú Long, phía Bắc giáp xã Long An.
* Long An : Phía Bắc giáp xã Long Bổn, phía Nam giáp xã Long Điền, phía Tây giáp
huyện Nam Đông, phía Đông giáp xã Vinh Giang, Vinh Hà, Vinh Hưng.
Là hai xã ít xa xôi nhất, cách thành phố Huế 30 km về phía Nam có đường quốc lộ I
Trên đây ta cũng thấy rằng ở Long Điền và Long An độ tuổi trung niên tham gia
nuôi thuỷ sản là chủ yếu, đó là một khó khăn cho việc tiếp thu các kỹ thuật. Họ cho biết chỉ
tham gia các khoá tập huấn về kỹ thuật nuôi thủy sản và rất ít hoặc không biết áp dụng các
biện pháp kỹ thuật đó như thế nào mà họ chỉ nuôi dựa vào kinh nghiệm nhiều năm của họ,
do vậy hiệu quả sản xuất không cao, có hộ còn thua lỗ liên tục. Như vậy, để thuận lợi cho
việc phát triển hoạt động nuôi thuỷ sản, việc tổ chức các khóa tập huấn về kỹ thuật nuôi
thuỷ sản, và trình diễn mô hình cho người dân cũng là một vấn đề cần lưu ý, đồng thời vận
động người dân xây dựng tính cộng đồng cao hơn để người nuôi có thể áp dụng được các
kỹ thuật thực hành nuôi trồng thủy sản tốt hơn và gìn giữ tốt hơn thành quả chung.
* Về trình độ học vấn:
Nhìn chung các chủ ao nuôi thuỷ sản tại xã Long Điền và Long An có trình độ học
vấn ở mức thấp, đa số có trình độ từ cấp 1, 2 là chủ yếu. Chỉ có 29,17% hộ nuôi ở Long
Điền 16,67% hộ nuôi ở Lôc An đã học hết cấp 3 và có 4,17% hộ không biết chữ, 8,33% hộ
chỉ biết đọc, đều nằm ở xã Long Điền. Với trình độ học vấn như vậy người dân sẽ gặp
nhiều khó khăn trong việc tiếp cận khoa học kỹ thuật, tiếp nhận thông tin và phát triển sản
xuất, cũng như nhận thức của người nuôi về xu hướng phát triển của nuôi trồng thuỷ sản
trong tương lai. Đặc biệt với các chủ cơ sở sản xuất không biết chữ hoặc chỉ biết đọc họ rất
khó tiếp thu những kỹ thuật mới cũng như nắm bắt thông tin về yêu cầu của thị trường, về
chất lượng sản phẩm, mà đó là việc làm tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai áp dụng
các kỹ thuật nuôi cho đối tượng nuôi của họ.
* Về tỷ lệ người lao động:
Từ sơ đồ bảng vẽ chúng ta nhận thấy tỉ lệ lao động giữa nam và nữ của hai xã là
4,17
4
3
12,50
2
8,33
Số năm kinh
nghiệm
5
5
20,83
3
12,50
6
4
16,67
4
16,67
7
1
4,17
4
16,67
8
4
16,67
2
8,33
9
3
0
Nguồn tiếp thu
kinh nghiệm
Sách báo
Cán bộ kỹ thuật
Tập huấn
Mô hình trình diễn
16
4
1
3
66,67
16,67
4,67
12,50
17
6
0
1
70,83
25,00
0
4,17
(%)
Không
3
13,04
Cải tạo ao
Có
20
86,96
1
4
16,67
Thời gian cày đáy
2
12
50,00
( ngày )
3
8
33,33
2
3
12,50
3
9
37,50
4
7
29,17
Thời gian phơi đáy
(ngày)
305
0
0,00
350
4
19,05
400
6
28,57
500
0
0,00
Chlorine
3
12,5
Saponin
16
66,67
Tên chất diệt tạp
Vôi
1
4,17
dolomit
Vôi Hàu
4
16,67
Không
24
100,00
Ao xử lý
4,17
7
29,17
1
4,17
13
54,17
1
4,17
23
95,83
14
60,87
1
4,35
0
0,00
0
0,00
2
8,70
1
4,35
4
17,39
1
4,35
1
4,17
23
phơi khô ao và đặc biệt các hộ đã chú trọng khử trùng vôi và diệt tạp, loại vôi được sử
dụng phổ biến là vôi sò và vôi nông nghiệp. Liều lượng sử dụng vôi tuỳ vào độ chua của
ao, vào từng khu vực nuôi. Kết quả điều tra được thể hiện ở bảng:
Bảng 3.3 Các hoá chất khử trùng và diệt tạp sử dụng ở các hộ điều tra
Các hóa chất sử dụng
Số hộ
Tỷ lệ (%)
Liều lượng sử dụng
Dolomit
16
33,33
40-60kg/1000m2
- Vôi
48
100,0
20-40kg/500 m2
Hoá chất diệt tạp (Chlorine)
0
0,0
Nguồn nước cấp
Chất lượng nước cung cấp cho ao nuôi
Tốt
5
10,42
Xấu
28
58,33
Trung bình
15
31,25
Qua số liệu điều tra cho thấy 100% ao nuôi sử dụng chung nguồn nước cấp từ đầm
phá vào trong ao nuôi và nước từ ao nuôi cũng thải trực tiếp ra sông vì vậy nếu như nguồn
nước chung này nhiễm mầm bệnh hoặc các chất gây hại cho đối tượng nuôi thì sẽ là điều
2,08
- Vôi nông nghiệp, hạt mát, chlorine
12
25,0
- Rubi, Dolomite, Vitamin C, Rỉ đường, BKC, phân vi sinh
2
4,17
- CKC, Chlorine
6
12,5
- NPK
8
16,67
- CaCO3
2
- NPK (2-4 kg/sào)
8
16,67
- BKC, CKC (0.3-0.5 lít/sào)
1
2,08
- Kazeolite, Zeolite (3-5 kg/sào)
1
2,08
- Phân vô cơ
46
95,83
- Khác (cám, bánh dầu, mắm cá, nước mắm…ủ với men)
2
4,17