Lý thuyết “cực phát triển” và vấn đề phát triển
kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An
Miền Tây Nghệ An là vùng trung du miền núi, có diện tích 13.750,1km2, tương
đương với tổng diện tích của 9 tỉnh, thành phố trung bình của cả nước. Đây là tiền
đề cho các thế mạnh về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên (đất, rừng, khoáng
sản…), cũng như đa dạng về sự lựa chọn chiến lược phát triển, thiết kế quy hoạch
của vùng. Tuy nhiên, sự kém phát triển của miền Tây hiện nay là một thách thức
lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội chung của toàn tỉnh. Tiếp cận lý thuyết
“Cực phát triển” để đề ra chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển của mảnh đất
trọng yếu này là một gợi ý nhằm vượt qua thách thức đó.
1. Lý thuyết “Cực phát triển”
1.1.
Khái niệm lý thuyết “Cực phát triển”
Người khởi xướng lý thuyết “Cực phát triển” là nhà kinh tế học người Pháp Francois Perroux vào năm 1950, sau đó được tiếp tục phát triển bởi Myrdan,
Friedman, Hisrhman, Hary Richardson, Bejnamin và Philip Mc. Cann. Theo lý
thuyết này, một vùng không thể có sự phát triển đồng đều ở tất cả các điểm trên
lãnh thổ theo cùng một thời gian mà có xu hướng tăng trưởng/ phát triển nhanh ở
một số điểm nào đó, trong khi các điểm khác có xu hướng tăng trưởng chậm hoặc
trì trệ. Sự tăng trưởng/ phát triển nhanh ở các điểm cực đó sẽ tạo ra những ảnh
hưởng trực tiếp tác động đến sự phát triển của các lãnh thổ xung quanh gọi là các
cực phát triển.
Các điểm có sự tăng trưởng/ phát triển nhanh và mạnh là những điểm có lợi thế
so với toàn vùng, thường tập hợp một số ngành công nghiệp có khả năng tạo sự
tăng trưởng cho nền kinh tế, có quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau qua các mối
quan hệ trong sản xuất - công nghệ - kinh doanh (ví dụ quan hệ đầu vào - đầu ra)
xung quanh một ngành công nghiệp dẫn đầu hay mũi nhọn. Ngành công nghiệp
thường được áp dụng để phát triển kinh tế cho những vùng kém phát triển. Theo
phạm vi không gian thì càng xa cực phát triển, hiệu ứng lan tỏa càng yếu. Hiệu ứng
lan tỏa tại một điểm cách xa trung tâm cực một khoảng cách r (Sr) được biểu thị
bằng công thức: Sr = So.e-ir, trong đó: So là ảnh hưởng tại điểm cực, i là hệ số suy
giảm theo khoảng cách.
- Hiệu ứng phân cực (hay tập trung hóa) được xem như là những tác động tiêu
cực của sự tăng trưởng tại điểm cực tới các vùng trong phạm vi ảnh hưởng của nó,
đó là sự tăng khoảng cách chênh lệch về các vấn đề kinh tế - xã hội như
GDP/người, cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế… Những tác động này cần phải chấp
nhận một thời gian, tùy theo sức phát triển của cực, sau đó được thay thế bằng
hiệu ứng lan tỏa.
Như vậy, lý thuyết “Cực phát triển” đã nhấn mạnh lợi thế phát triển không cân
đối theo lãnh thổ. Lý thuyết này chú trọng vào những lãnh thổ làm phát sinh sự
tăng trưởng kinh tế của vùng, cho rằng công nghiệp và dịch vụ có vai trò lớn đối
với sự tăng trưởng của vùng và là hạt nhân phát triển. Đây là lý thuyết phục vụ
trực tiếp cho việc lựa chọn các lãnh thổ trọng điểm, được áp dụng rộng rãi ở các
nước châu Á, đặc biệt là các nước ASEAN. Sự hình thành các cực phát triển như
là các lãnh thổ trọng điểm, động lực cho nền kinh tế là phương thức phù hợp, hiệu
quả với những vùng hạn chế về nguồn lực như vốn, công nghệ, nguồn nhân lực
chất lượng cao, thị trường… của các nước nghèo, đang phát triển, cần kêu gọi vốn
đầu tư.
2. Vấn đề thực tiễn của miền Tây Nghệ An
2.1. Lợi thế của miền Tây Nghệ An
2.1.1. Là một vùng đất rộng lớn
Miền Tây Nghệ An có diện tích 13.750,1km2, dân số trên 1,1 triệu người (năm
2010), chiếm 83,5% diện tích và 37% dân số của tỉnh, lớn hơn diện tích tỉnh
Thanh Hóa khoảng 3.000km2, gấp 2 lần diện tích tỉnh Hà Tĩnh, gấp 11 diện tích
lần thành phố Đà Nẵng, tương đương với diện tích tỉnh Sơn La (là tỉnh có diện tích
TP Hồ Chí Minh
Quế Phong
1.890,9
4
Con Cuông
1.738,3
Lớn hơn Hải Dương
5
Thanh
1.129,9
Gần bằng Vĩnh Phúc
Dương
2
3
Chương
Gần bằng Bà Rịa - Vũng
Tàu
10
Anh Sơn
603,3
Hai huyện và một thị xã có
diện tích gần bằng Vĩnh Long
11
Thị xã Thái
Hòa
135,1
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2010; Niên giám thống kê Nghệ An
2010
Như vậy, diện tích của 10 huyện và 1 thị xã miền Tây Nghệ An tương đương
với 9 tỉnh, thành phố trung bình của cả nước. Sự rộng lớn về diện tích là tiền đề
cho các thế mạnh về vị trí địa lý, các tài nguyên thiên nhiên như đất, rừng, khoáng
sản… cũng như đa dạng về sự lựa chọn chiến lược phát triển, thiết kế quy hoạch
miền Tây.
Đường biên giới: miền Tây có 6 huyện (Quế Phong, Kỳ Sơn, Tương Dương,
Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương) với 27 xã giáp Lào, đường biên giới dài
419km; có 3 huyện (Quế Phong, Quỳ Châu, Nghĩa Đàn) giáp Thanh Hóa với
đường biên giới dài 156,1km; 1 huyện (Thanh Chương) giáp Hà Tĩnh với đường
biên giới dài 42,3km. Tổng chiều dài đường biên giới là 617,4km, trong đó
đá quý hiếm, chất lượng cao; đá đỏ Qùy Châu có giá trị cao nổi tiếng của nước
ta; vàng sa khoáng dọc thượng nguồn sông Cả… Ngoài ra, còn có bô xít ở Nghĩa
Đàn, phốtphorit, đá xây dựng, cát sỏi… phân bố rải rác ở các huyện miền Tây.
Nguồn tài nguyên này là cơ sở để xây dựng các ngành công nghiệp.
* Nguồn nước ngọt
Miền Tây có hệ thống sông suối dày đặc. Hệ thống Sông Cả (sông Lam) với
dòng chính dài 412km (nếu tính theo dòng sông Nậm Nơm thì dài 532km), phần
chảy trong địa phận Nghệ An là 361km, dòng sông bắt nguồn từ cao nguyên
Mường Phôn (thuộc dãy TamTi) độ cao 2.250m. Hệ thống Sông Cả là một hệ
thống sông dày đặc gồm 151 con sông, suối. Nổi bật của miền Tây là tiềm năng
thủy điện, thác nước. Tổng trữ năng thủy điện lớn khoảng 950-1.000MW, đã xây
dựng nhiều nhà máy thủy điện nhỏ, đang xây dựng 3 nhà máy thủy điện là Bản
Vẽ (Kỳ Sơn) 320MW, Bản Lã (Tương Dương) 300MW, Hủa Na (Quế Phong)
180MW. Nhiều thác đẹp nổi tiếng như Sao Va, Khe Kèm cùng với hệ thống hang
động tạo tiềm năng du lịch lớn.
Nước ngầm ở đây khá phong phú, đặc biệt suối khoáng với các mỏ nước tập
trung nhiều ở Quỳ Hợp (Bản Khạng, Bản Hợp, Bản Bo, Bản Lang), ngoài ra có
Cồn Soi (Nghĩa Đàn)… là cơ sở để sản xuất nước khoáng, du lịch và chữa bệnh.
* Đất đai
Với diện tích rộng lớn nên miền Tây có quỹ đất dồi dào với hệ đất feralit là
chủ yếu như đất đỏ đá vôi, đất đỏ vàng, đỏ nâu, đất bazan… trên các đá mẹ khác
nhau, phù hợp với trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, trồng rừng, đồng cỏ, cung
cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và có giá trị xuất khẩu, xóa đói giảm
nghèo. Ngoài ra còn có đất phù sa ở các thung lũng, sông suối, chiếm tỷ lệ nhỏ,
dùng để trồng lương thực hoa màu cung cấp tại chỗ cho dân bản địa.
2.2. Một số vấn đề về khai thác
Tại sao một vùng đất rộng lớn, giàu tài nguyên vẫn là một vùng đất nghèo?
Phải chăng là do vấn đề lựa chọn chiến lược phát triển chưa thích hợp?
51 doanh nghiệp hoạt động khai thác khoáng sản trái phép, 61 doanh nghiệp hoạt
động chế biến khoáng sản chưa đầy đủ thủ tục trên địa bàn huyện. Như vậy, chỉ
trên địa bàn huyện Quỳ Hợp với tài nguyên đá đã có trên 110 doanh nghiệp hoạt
động chưa hợp pháp thì vấn đề chảy máu tài nguyên là điều tất yếu.
Ngoài ra các tài nguyên khoáng sản quý, giá trị cao của miền Tây như đá đỏ,
vàng sa khoáng… cũng bị khai thác bừa bãi, không kiểm soát được gây thất thoát,
ô nhiễm môi trường, đã từng xảy ra thảm họa bạo lực.
- Tài nguyên rừng là một tài nguyên lớn của miền Tây, khai thác khoảng 68
ngàn m3/năm bởi các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Dân bản địa chỉ là những
người làm công khai thác với giá rẻ.
Vấn đề cấp giấy phép khai thác ồ ạt, thiếu quản lý cả đầu vào và đầu ra đã
không mang lại nhiều lợi ích cho dân bản địa. Theo thời gian đá và gỗ rừng miền
Tây vẫn được khai thác mạnh, tuy nhiên đời sống người dân bản địa vẫn không
được cải thiện.
- Tiềm năng thủy điện: Trong quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ ở miền Tây
Nghệ An, có 3 tổ chức là Nhà nước, tỉnh và một số nhà đầu tư độc lập phối hợp
với các đơn vị tư vấn. Năm 2001, Công ty CP tư vấn xây dựng thủy điện I quy
hoạch 5 nhà máy thủy điện với công suất 440MW. Năm 2004 đơn vị này quy
hoạch thêm 18 nhà máy (đã được Bộ Công nghiệp phê duyệt vào ngày
18/10/2005) với công suất 151MW. Năm 2007, tỉnh Nghệ An bổ sung quy hoạch
thêm 14 dự án, ngoài ra một số nhà đầu tư độc lập phối hợp với các đơn vị tư vấn
xây dựng thêm 4 nhà máy (Mỹ Lý, Bản Vẽ, Nậm Mô I, Hủa Na). Như vậy, tổng
số các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ của miền Tây là 41, trong đó Kỳ Sơn 12,
Tương Dương 11, Quế Phong 7, Con Cuông 7, Quỳ Châu 3, Thanh Chương 1.
Theo báo cáo của Sở Công thương Nghệ An thì miền Tây Nghệ An có hơn 60
điểm có thể xây dựng nhà máy thủy điện với tổng công suất khoảng 1.300MW.
Điều này cần xem xét lại, bởi vì trong “Báo cáo đề án phát triển tổng thể kinh tế
- xã hội Nghệ An đến năm 2020” của Sở Kế hoạch và Đầu tư Nghệ An (năm
lãnh thổ đó trong khoảng 5-7 năm, sau đó là thời kỳ kích cầu, lan tỏa của cực
phát triển đó cho toàn miền. Nếu vấn đề này thực hiện được thì sẽ góp phần rút
ngắn thời gian phát triển kinh tế miền Tây. Miền Tây cần có ít nhất một “cực
phát triển” để tạo nên tính đột phá cho sự phát triển./.
Tài liệu tham khảo
UBND tỉnh Nghệ An. Đề án phát triển kinh tế - xã hội miền Tây tỉnh Nghệ An
đến năm 2010.
1.
UBND tỉnh Nghệ An. Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Những giải pháp thực
hiện có hiệu quả đề án phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An. Tháng
6/2008.
2.
Viện Chiến lược phát triển - Ban vùng lãnh thổ. Một số lý luận về chênh
lệch vùng và giải pháp hạn chế chênh lệch vùng ở Việt Nam. Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Bộ, năm 1998.
3.
UBND huyện Quỳ Hợp. Báo cáo công tác quản lý Nhà nước về hoạt động
khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn huyện Quỳ Hợp năm 2008.
4.
Cục Thống kê Nghệ An. Niên giám thống kê năm 2010.