Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ từ gỗ xà cừ ứng dụng xử l‎ý Cr(VI) trong nước - Pdf 38

LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo khoa Môi
trường – Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tạo điều kiện tốt
nhất giúp em nghiên cứu và học tập trong suốt thời gian thực hiện đồ án tốt nghiệp.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới TS. Mai Văn Tiến – Giảng viên Khoa Môi
trường - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Dương Thị Lịm , cùng các anh,
chị Phòng Phân tích Tồng hợp Địa Lý – Viện Địa Lý đã tận tình hướng dẫn, chia sẻ,
giúp đỡ, động viên cũng như tạo những điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá
trình tiến hành nghiên cứu để hoàn thiện đồ án tốt nghiệp .
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã tạo mọi điều kiện,
động viên, giúp đỡ để em có điều kiện tốt nhất trong suốt quá trình thực hiện đồ án
tốt nghiệp.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, đồ án tốt nghiệp của em còn nhiều thiếu
sót, vì vậy em rất mong được các thầy cô đóng góp ý kiến để em có thể hoàn
thiện đồ án tốt nghiệp của mình.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 8 tháng 6 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Diệu Linh


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC HÌNH




MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nước là một tài nguyên vô tận, giữ một vai trò quan trọng trong quá trình
hình thành và phát triển sinh quyển. Không thể có sự sống khi không có nước.
Nước đóng vai trò quan trọng trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và đời sống.
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật và cuộc sống
của con người được nâng cao thì nhu cầu về nước ngày càng nhiều, nhưng sự ô
nhiễm môi trường nước xảy ra ngày một nghiêm trọng hơn. Hầu hết nước thải sinh
hoạt cũng như nước thải công nghiệp không được xử lý mà được thải trực tiếp vào
môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt, nước ngầm, tác động xấu
đến đời sống và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Đặc biệt là ô nhiễm
các kim loại nặng, những kim loại này có liên quan trực tiếp đến biến đổi gen, ung
thư, cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường ngay cả ở hàm lượng nhỏ
như Crom là một ví dụ.
Crom là một kim loại nặng có nhiều ứng dụng trong công nghiệp như: sản
xuất sắt hợp kim crom và nhiều hơp kim khác chứa coban hay niken, chế tạo thép
không rỉ; các cromat khác được sản xuất bằng nấu chảy, nướng và chiết tách: natri
đicromat được dùng để sản xuất các chất màu crom, sản xuất các muối crom dùng
để thuộc da, chất cắn màu cho nhuộm, chất bảo quản gỗ; mạ crom chống rỉ cho các
đồ dùng nấu ăn, đun nước và nhiều vật dụng khác.
Tương tự như các nguyên tố thiết yếu khác độc tính của Crom xảy ra ở nồng
độ cao, độc tính của Cr(VI) cao hơn nhiều Cr(III). Mặt khác, sự phát sinh nước thải
có chứa hàm lượng cao Cr(VI) là độc chất đối với con người: Crom có thể gây kết
tủa protein, các axit nuclecic và ức chế hệ thống enzym, là tác nhân gây ung thư khi
phơi nhiễm trong thời gian dài. Chính vì vậy, việc xử lý Cr(VI) là vô cùng cần thiết
đối với con người và môi trường.
Có rất nhiều phương pháp để xử lý Cr(VI) được sử dụng hiện nay: phương
pháp kết tủa hóa học, phương pháp màng, phương pháp điện hóa, phương pháp hấp

- Nghiên cứu tài liệu về chế tạo vật liệu hấp phụ từ gỗ xà cừ biến tính H 2SO4.
- Tiến hành chế tạo vật liệu hấp phụ từ gỗ xà cừ biến tính H2SO4
- Khảo sát yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chế tạo vật liệu: tỷ lệ khối

lượng/thể tích (w/v) , thời gian.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng hấp phụ Cr(VI) của
vật liệu hấp phụ từ gỗ xà cừ.
- Khảo sát sự phụ thuộc dung lượng hấp phụ vào nồng độ cân bằng từ đó xác
định dung lượng hấp phụ cực đại theo Langmuir.
- Ứng dụng thử nghiệm xử lý mẫu nước thải chứa Cr(VI).

2


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1.

Tổng quan về ô nhiễm nước
- Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá

học sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn
nước trở nên độc hại với con người và sinh vật.
- Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác
công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm.[1]
1.1.1. Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước
Có rất nhiều tác nhân gây ô nhiễm, trong nghiên cứu ta chia làm những tác
nhân cơ bản sau:
a) Các ion vô cơ hòa tan
Nhiều ion vô cơ có nồng độ rất cao trong nước tự nhiên,trong nước thải đô
thị luôn chứa một lượng lớn các ion như: Cl - , SO42-, PO43-, Na+ , K+ . Trong nước

sức khỏe của con người. Phân loại theo một số nhóm hợp chất sau:
Nhóm hợp chất của phenol: Polychlorophenol (PCPs), polychlorobiphenyl
(PCBs), các hydrocacbon đa vòng ngưng tụ (PAHs: polycyclic aromatic
hydrocacbons) ….
Nhóm hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) hữu cơ: Photpho hữu cơ , Clo hữu
cơ, Cacbamat, Phenoxyaxetic, Pyrethroid.
c) Dầu mỡ và các sản phẩm của dầu mỏ
- Dầu mỡ là chất khó tan trong nước, nhưng tan được trong các dung môi
hữu cơ. Dầu mỡ có thành phần hóa học rất phức tạp. Dầu thô có chứa hàng ngàn
các phân tử khác nhau, nhưng phần lớn là các Hidro cacbon có số cacbon từ 2 đến
26.
- Trong dầu thô còn có các hợp chất lưu huỳnh, nitơ, kim loại. Các loại dầu
nhiên liệu sau tinh chế (dầu DO2, FO) và một số sản phẩm dầu mỡ khác còn chứa
các chất độc như PAHs, PCBs,…Do đó, dầu mỡ thường có độc tính cao và tương
đối bền trong môi trường nước. Độc tính và tác động của dầu mỡ đến hệ sinh thái
nước không giống nhau mà phụ thuộc vào loại dầu mỡ.
d) Các chất có màu
- Nước nguyên chất không có màu, nhưng nước trong tự nhiên thường có
màu do các chất có mặt trong nước như:
- Các chất hữu cơ do xác thực vật bị phân hủy sắt và mangan dạng keo hoặc
dạng hòa tan, các chất thải công nghiệp.

4


- Các chất thải công nghiệp (phẩm màu, crom, tannin, lignin…).Ngoài các
tác hại có thể có của các chất gây màu trong nước, nước có màu còn được xem là
không đạt tiêu chuẩn về mặt cảm quan, gây trở ngại cho nhiều mục đích khác
nhau.
e) Các chất gây mùi vị

tỉnh Kumamoto, phía tây đảo Kyushu, cực nam Nhật Bản). Một số triệu chứng thần
kinh như: tay chân run, mất cảm giác, mất thăng bằng, mất phối hợp cử động, tầm
nhìn mắt bị giới hạn. Mãi đến năm 1968, Chính phủ Nhật Bản mới chính thức
tuyên bố: căn bệnh này do Công ty Chisso gây ra vì đã làm ô nhiễm môi trường.
Các nhà máy hóa chất của Công ty này đã thải ra quá nhiều lượng thủy ngân hữu cơ
độc hại làm cho cá bị nhiễm độc. Khi ăn cá, thủy ngân hữu cơ xâm nhâp vào cơ thể
con người, chúng sẽ tấn công vào cơ quan thần kinh trung ương, gây nên căn bệnh
mà các nhà y học gọi là bệnh Minamata.
- Hiện nay ở Việt Nam, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách pháp luật về
bảo vệ môi trường, nhưng thực tế tình trạng ô nhiễm nước là một vấn đề đáng lo
ngại. Ở các thành phố lớn, cụm công nghiệp tập trung có rất nhiều các cơ sở sản
xuất, nhà máy, xí nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường do không có công trình và
thiết bị xử lý hoặc có nhưng không xử lý vì lý do lợi nhuận. Theo đánh giá của các
công trình nghiên cứu thì hầu hết các sông, hồ ở các tỉnh, thành phố như Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, khu vực Bình Dương, Đồng Nai, Thái Nguyên nồng độ
kim loại nặng đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 3 đến 4 lần. Có thể kể đến các
sông ở Hà Nội như sông Tô Lịch, sông Nhuệ, ở Thành phố Hồ Chí Minh là sông
Sài Gòn, kênh Nhiêu Lộc,.. Ở Thái Nguyên ô nhiễm sông Cầu, Bình Dương ô
nhiễm kênh Ba Bò, sông Đồng Nai. Ở Hải Phòng, ô nhiễm nặng ở khu nhà máy Xi
măng, nhà máy Thủy Tinh và Sắt tráng men…Nước sông bị ô nhiễm ảnh hưởng đến
môi trường sống của các sinh vật thủy sinh và sức khỏe của con người. Vì vậy, việc
xử lý nước thải ngay tại các nhà máy, xí nghiệp, xử lý tập trung trong khu công
nhiệp là điều rất cần thiết và đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ, thường xuyên của các cơ
quan chức năng.
1.1.3. Một số nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng
a) Hoạt động khai thác mỏ
- Khoa học càng phát triển, nhu cầu của con người và xã hội ngày càng cao
dẫn tới sản lượng kim loại do con người khai thác hàng năm càng tăng hay lượng
kim loại nặng trong nước thải càng lớn, nảy sinh yêu cầu về xử lý nước thải có
chứa kim loại nặng đó.

- Trước đây thủy ngân được thải ra với một lượng lớn trong quá trình sản
xuất xút - Clo vì công nghệ sản xuất xút - Clo sử dụng điện cực là thủy ngân.
Dòng nước thải từ bể điện phân có thể có nồng độ thủy ngân lên tới 35mg/l.
Nồng độ Niken cao tới 390 mg/l được phát hiện trong nước từ một nhà máy sản
xuất NiSO4. Khi hàm lượng kim loại nặng thải ra cao như vậy nếu không có biện

7


pháp xử lý thích hợp, triệt để thì ô nhiễm nguồn nước là điều hoàn toàn có thể xảy
ra.
d) Quá trình sản xuất sơn, mực và thuốc nhuộm
- Công nghiệp sản xuất sơn, mực và thuốc nhuộm sử dụng hóa chất có chứa
kim loại nặng Cd. Cd là kim loại có nhiều trong tự nhiên thường được sử dụng
trong các Pigment để in vật liệu dệt đặc biệt là các pigment màu đỏ, vàng, màu cam,
màu xanh lá cây và được sử dụng là tác nhân nhuộm màu cho vật liệu da, dệt và
sản phẩm plastic. Các kim loại nặng bao gồm antimoan, asen, bari, và seleni, các
kim loại này được cho ra là gây ra các ảnh hưởng tiêu cực lên sức khỏe con người.
Các kim loại này gắn liền với xơ tổng hợp (có thể tìm thấy trong các chất kháng
khuẩn plastic, mực in, sơn và vật liệu chuyển nhiệt). Crom là kim loại có trong tự
nhiên. Trong vật liệu dệt và quần áo, người ta có thể tìm thấy crom trong plastic, da
thuộc và các pigment.
- Hiện nay, một số cơ sở sản xuất đang thải trực tiếp nước thải ra ngoài môi
trường làm ô nhiễm sông ngòi, chết các sinh vật thủy sinh, ảnh hưởng đến kinh tế
và sức khỏe của con người quanh khu vực phát thải. Vì vậy, việc xử lý nước thải
sơn, mực, thuốc nhuộm là vô cùng cấp thiết.
e) Công nghiệp luyện kim
- Trong luyện kim, một lượng lớn hóa chất độc hại như: CN -, NH4+, SO32-, ở
các xưởng, lò cao, lò khử trực tiếp được thải ra môi trường đã làm ô nhiễm nặng
cho nguồn nước. Nước thải chứa thành phần tạp chất của quặng và kim loại luyện,

cản trở quá trình tổng hợp protein của cơ thể.

Ô nhiễm kim loại nặng làm suy thoái nguồn tài nguyên nước mặt, nước
ngầm, đất, gây độc cho môi trường sống của động vật thủy sinh và thực vật, ảnh
hưởng trực tiếp lên cơ thể sinh vật gây chết sinh vật, gây mất mĩ quan. [2]
1.2.2. Ảnh hưởng của một số kim loại nặng đến môi sức khỏe con người
a) Ảnh hưởng của Đồng
- Đồng là nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho các loài động, thực vật bậc
cao. Đồng được tìm thấy trong một số loại enzym, enzym chứa Cu - Zn superoxid
dis-mutas trong đó Đồng là

kim loại trung tâm của chất chuyên chở

hemocyanin.[1]

9

ôxy


b) Ảnh hưởng của Mangan
- Mangan là nguyên tố vi lượng trong cơ thể sống. Ion mangan là chất hoạt
hoá một số enzim xúc tiến một số quá trình tạo chất diệp lục, tạo máu và sản xuất
kháng thể nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Sự tiếp xúc nhiều với bụi mangan làm
suy nhược hệ thần kinh và tuyến giáp trạng. [1]
c) Ảnh hưởng của Niken
- Niken vào cơ thể chủ yếu qua con đường hô hấp, nó gây triệu trứng khó
chịu, buồn nôn, đau đầu; nếu tiếp xúc nhiều sẽ ảnh hưởng đến phổi, hệ thần kinh
trung ương, gan, thận và có thể sẽ gây ra các chứng bệnh kinh niên.[1]
- Niken có thể gây ra các bệnh về da, tăng khả năng mắc bệnh ung thư đường

- Khi xâm nhập vào cơ thể Crom sẽ hào tan vào máu, liên kết với các tế bào
máu đó và vận chuyển đến các cơ quan khác (gan, phổi, thận...). Các Cromat dễ
dàng đi qua màng tế bào trên các chất mang anion. Sự đào thải Crom khỏi cơ thể
chủ yếu là qua đường tiểu tùy thuộc vào trạng thái oxy hóa của Crom nhiễm.
- Tính độc: Độc tính của Crom xày ra ở nồng độ cao, Cr(VI) độc tính mạnh
hơn Cr(III). Sự nhiễm độc Crom chủ yếu là do nghề nghiệp và môi trường ô nhiễm
cao. Độc tính được hấp thu chủ yếu qua đường ăn uống nước và thực phẩm nhiễm
Cr(VI) được cho là tác nhân gây ung thư ở người. Cr(VI) cũng gây ra lở loét da,
bệnh chàm khi tiếp xúc. Sụ hít thở không khí ô nhiễm Cr(VI): bụi Cromat, mù axit
Cromic gây loét màng nhầy mũi và làm thủng vách mũi, hen suyễn....
- Nước thải sinh hoạt có thể chứa lượng Crom lên tới 0,7ppm. Cr(VI) dù chỉ
một lượng nhỏ cũng có thể gây ngộ độc đối với con người. Nếu Crom có nồng độ
lớn hơn giá trị 0,1mg/l gây rối loạn sức khỏe như nôn mửa. Khi xâm nhập vào cơ
thể nó liên kết với các nhóm -SH- trong enzym và làm mất hoạt tính của enzym
gây ra rất nhiều bệnh đối với con người.
- Tóm lại, hàm lượng lớn các kim loại nặng nói chung và Crom nói riêng đều
ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. Chính vì vậy, việc xác định hàm lượng
Crom là cần thiết để đánh giá mức độ ô nhiễm nguồn nước. Từ đó, có biện pháp
xử lý thích hợp, đảm bảo có nước sạch cho sinh hoạt, cho sản xuất và làm trong
sạch môi trường.
1.4. Một số phương pháp xử lý kim loại nặng trong nước
1.4.1.Phương pháp kết tủa hóa học
- Phương pháp này dựa trên phản ứng hóa học giữa chất đưa vào nước thải
với các kim loại cần tách, ở độ pH thích hợp sẽ tạo thành hợp chất kết tủa và được
tách ra khỏi nước bằng phương pháp lắng.

11


- Phương pháp thường được dùng là kết tủa kim loại dưới dạng hydroxit

1.5. Xử lý kim loại nặng trong nước bằng phương pháp hấp phụ

12


1.5.1. Cơ chế của phương pháp
- Hấp phụ là sự tích lũy chất trên bề mặt phân cách các pha ( khí – rắn, lỏng
– rắn, khí – lỏng, lỏng – lỏng)
- Chất hấp phụ là chất mà phần tử ở lớp bề mặt có khả năng hút các phần tử
của pha khác nằm tiếp xúc với nó.
- Chất bị hấp phụ: là chất được hút ra khỏi pha thể tích đến tập trung trên bề
mặt chất hấp phụ.
- Quá trình hấp phụ là quá trỉnh tỏa nhiệt.
1.5.2. Cơ chế của quá trình hấp phụ
Tùy theo bản chất của lực tương tác giữa chất hấp phụ và chất bị hấp phụ,
người ta chia ra hai loại hấp phụ:
- Hấp phụ vật lý: Là sự tương tác yếu và thuận nghịch nhờ lực Vander Waals
giữa các ion kim loại và các tâm hấp phụ trên bề mặt chất hấp phụ. Các mối liên kết
này yếu do vậy thuận lợi cho quá trình nhả hấp phụ và thu hồi kim loại quý.
- Hấp phụ hóa học: Là quá trình xảy ra các phản ứng tạo liên kết hóa học
giữa ion kim loại nặng và các nhóm chức của tâm hấp phụ, thường là các ion kim
loại nặng phản ứng tạo phức đối với các nhóm chức trong chất hấp phụ. Mối liên
kết này thường rất bền và khó bị phá vỡ.
- Giải hấp phụ: là quá trình chất bị hấp phụ ra khỏi bề mặt chất hấp phụ. Là
phương pháp tái sinh vật liệu hấp phụ để có thể tiếp tục sử dụng lại nên nó mang
đặc trưng về hiệu quả kinh tế.
- Một số phương pháp giải hấp phụ: phương pháp nhiệt, phương pháp hóa lý,
phương pháp vi sinh.
1.5.3. Cân bằng hấp phụ
- Quá trình hấp phụ là một quá trình thuận nghịch. Các phần tử chất bị hấp

m = ( Ci– Cf ) .V
Trong đó: m: khối lượng chất bị hấp phụ
Ci: Nồng độ dung dịch ban đầu (mg/l)
Cf : Nồng độ dung dịch khi đạt cân bằng hấp phụ (mg/l)
V: Thể tích dung dịch (ml)
a) Mô hình hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir
Mô tả quá trình hấp phụ một lớp đơn phân tử trên bề mặt vật rắn. Phương
trình Langmuir được thiết lập trên các giả thiết sau:
- Các phần tử chất hấp phụ đơn lớp trên bề mặt chất hấp phụ
- Sự hấp phụ là chọn lọc
- Các phần tử chất hấp phụ độc lập, không tương tác qua lại với nhau.

14


- Bề mặt chất hấp phụ đồng nhất về mặt năng lượng tức là sự hấp phụ xảy ra

trên bất kỳ chỗ nào thì nhiệt độ hấp phụ cũng là một giá trị không thay đổi trên
bề mặt chất hấp phụ, không có các trung tâm hoạt động.
- Giữa các phân tử trên lớp bề mặt và bên trong lớp thể tích có cân bằng

động học tức là ở trạng thái cân bằng tốc độ hấp phụ bằng tốc độ giải hấp.
Phương trình hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir:
b. Cf

q = qmax .

1+ b. Cf
Trong đó: Cf: Nồng độ chất bị hấp phụ trong pha mang tại thời điểm t
q: Dung lượng hấp phụ tại thời điểm t

Hình 1.2 : Sự phụ thuộc Cf/q vào Cf
Khi đó:
OA =

1

,

qmax

;

tg α =

1
qmax

b) Mô hình đẳng nhiệt hấp phụ Freundlich
Phương trình hấp phụ đẳng nhiệt Freundlich:
Đây là phương trình thực nghiệm có thể sử dụng mô tả nhiều hệ hấp phụ hóa
học hay vật lý. Phương trình này được biểu diễn bằng một hàm mũ:
q = k . C1/n
Trong đó: k: Hằng số phụ thuộc vào nhiệt độ, diện tích bề mặt và các yếu tố
khác.
n: Hằng số phụ thuộc vào nhiệt độ và luôn lớn hơn 1
Phương trình Freundlich khá sát thực số liệu thực nghiệm cho vùng ban đầu
và vùng giữa của vùng hấp phụ đẳng nhiệt.

Hình 1.3 : Đường đẳng nhiệt hấp phụ Freundlich
Để xác định các hằng số đưa phương trình trên về dạng đường thẳng dạng:

b) Bã mía:
Được đánh giá như phương tiện lọc chất bẩn từ dung dịch nước và được ví
như than hoạt tính trong việc loại bỏ các ion kim loại nặng như: Cr(III), Ni, Cu,….

17


Bên cạnh khả năng tách loại kim loại nặng, bã mía còn thể hiện khả năng hấp phụ
tốt đối với dầu. [8]
c) Vỏ trấu:
Vỏ trấu biến tính bằng HCHO đã được nghiên cứu để xử lý Cr(VI), Cr(III).
Trong nghiên cứu của Th.S Lê Thị Tình – Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội đã
cho thấy khả năng hấp phụ của vật liệu biến tính từ vỏ trấu cho kết quả tốt: với dung
lượng hấp phụ cực đại của Cr(VI) lên đến 62,5 mg/g. [7]
d) Gỗ xà cừ dái ngựa (Swietenia mahagoni):
Gỗ xà cừ dái ngựa được trồng nhiều ở Ấn Độ, đã được nghiên cứu xử lý
Cr(VI) bằng phương pháp hấp phụ. Nghiên cứu biến tính vật liệu với tác nhân là
H2SO4 và H3PO4 đều cho kết quả rất tốt. Kết quả dung lượng hấp phụ đối với vật
liệu biến tính bằng H2SO4 là 47,61 mg/g, vật liệu biến tính bằng H 3PO4 là: 58,82
mg/g [10].
1.6.2. Vật liệu hấp phụ từ gỗ xà cừ
a) Giới thiệu về xà cừ:
- Xà cừ ( Khaya senegalensis ) thuộc họ Xoan - Meliaceae.
- Mô tả: Cây gỗ cao 20-30m, thân to, tròn. Vỏ lúc non có màu xám, nhẵn,
bong vẩy tròn như khảm xà cừ. Lá mọc so le, lúc non màu tím, kép lông chim chẵn,
có 4-5 đôi lá chét hình thuẫn, đầu có mũi lồi ngắn, mép nguyên. Hoa xếp thành
chùm tròn ở nách lá đầu cành. Hoa nhỏ, vàng, đều, mẫu 4; ống nhị hình cầu; đĩa hoa
hình gờ tròn; vòi nhụy dài, đầu nhụy hình đĩa. Quả nang hình cầu, vỏ quả hóa gỗ.
Hạt dẹt, có cánh mỏng. Hoa tháng 5-7, quả tháng 8-10.
- Phân bố: Nguyên sản của châu Phi, nhập vào Việt Nam để trồng ở vườn

trong nước nhờ vào cấu trúc nhiều lỗ xốp. Ngoài ra, nhờ vào thành phần các polymer như xenlulozo, hemixenlulozo, pectin, lignin và protein. Các polymer này có
thể hấp phụ nhiều loại chất tan đặc biệt là các ion kim loại hóa trị hai. Các hợp
chất polyphenol như tannin, lignin trong gỗ được cho là những thành phần hoạt
động có thể hấp phụ các kim loại nặng.
Các nhóm hydroxyl trên xenlulozo cũng đóng một vai trò quan trọng trong
khả năng trao đổi ion của các lignocelluloses. Bản thân các nhóm này có khả năng
trao đổi yếu vì liên kết OH- ở đây phân cực chưa đủ mạnh. Nhiều biện pháp biến
tính đã được công bố như oxy hóa các nhóm hydroxyl thành các nhóm chức axit
hoặc sulfo hóa bằng axit sulfuric.

19


CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
-

Đối tượng nghiên cứu: Gỗ xà cừ.

-

Phạm vi nghiên cứu: Quy mô phòng thí nghiệm

-

Thời gian nghiên cứu: Từ 01/04 – 08/06/2016

2.2.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status