Đánh giá hiện trạng chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái và đề xuất biện pháp quản lý phù hợp - Pdf 38

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Đồ án tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu và học hỏi của tôi dưới sự hướng
dẫn của TS. Phạm Thị Mai Thảo, không sao chép ở bất cứ tài liệu nào. Các số liệu
được sử dụng trong đồ án để thực hiện cho việc đánh giá, nhận xét, đề xuất là số
liệu thực tế. Ngoài ra, tôi có sử dụng một số nhận xét, nhận định của các tác giả từ
các nguồn khác nhau và được ghi trong phần tài liệu tham khảo.
Nếu như phát hiện có bất cứ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm trước hội đồng cũng như kết quả đồ án của mình.
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2016
Sinh viên

Nguyễn Linh Trang

1


LỜI CẢM ƠN
Qua 4 năm được học tập và rèn luyện tại trường Đại học Tài Nguyên và
Môi Trường cũng như trong quá trình làm đồ án tốt nghiệp, em đã được tạo nhiều
điều kiện và sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo công tác tại các khoa, phòng,
ban trong trường.
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân
thành nhất đến Tiến sĩ Phạm Mai Thảo – Bộ môn Quản lý Môi Trường Khoa Môi
trường, trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội người đã quan tâm, dìu
dắt và tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm đồ án.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô trong khoa Môi
trường cùng toàn thể thầy co trường Đại Học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã
tạo mọi điều kiện giúp em hoàn thành đồ án tốt nghiệp này.
Đồng thời xin cảm ơn cán bộ công nhân viên bệnh viện đã cung cấp số liệu
và có những ý kiến đóng góp giúp em hoàn thành đồ án này.

UBND: Uỷ ban nhân dân
BV: Bệnh viện
BVĐK: Bệnh viện đa khoa
CSYT: Cơ sở y tế
TMH – RHM: Tai mũi họng – răng hàm mặt

4


DANH MỤC BẢNG

5


DANH MỤC HÌNH

6


MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Ngày nay vấn đề môi trường rất được các quốc gia, cộng đồng trên toàn cầu
quan tâm đến. Bởi lẽ ô nhiễm và suy thoái cùng với sự cố môi trường có ảnh hưởng
trực tiếp không chỉ ở hiện tại mà còn cả các thế hệ tương lai. Toàn thế giới đều đã
nhận thức được rằng chỉ có bảo vệ môi trường mới có thể giúp xã hội loài người
phát triển bền vững. Một trong những công tác quan trọng đó là giải quyết vấn đề ô
nhiễm. Trong đó quản lý chất thải rắn là một vấn đề cần phải quan tâm trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là chất thải nguy hại và chất thải rắn y tế theo
quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ là một trong những loại chất thải rắn nguy
hại.

nghiên cứu
Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện và các trung
tâm y tế của thành phố Yên Bái
Hiện trạng vận chuyển, thu gom, xử lý chất thải rắn y tế tại thành phố Yên
Bái
Hiểu biết của cán bộ nhân viên bệnh viện và người nhà bệnh nhân về rác thải
y tế
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quản quản lý chất thải rắn tại
thành phố Yên Bái.

8


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
1.1. Tổng quan chung về chất thải y tế
1.1.1. Định nghĩa chất thải rắn y tế
“Chất thải rắn là chất thải ở dạng rắn hoặc sệt (gọi là bùn thải) được thải ra
từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”.
Chất thải nguy hại là chất thải chứa các yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm,
dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác (Luật Bảo
Vệ Môi Trường 2014)
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm
sóc, xét nghiệm, nghiên cứu… CTYT nguy hại là chất thải có các thành phần như:
máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận, cơ quan, bơm, kim tiêm, vật sắc nhọn,
dược phẩm, hoá chất, chất phóng xạ… thường ở dạng rắn, lỏng, khí. CTYT được
xếp là chất thải nguy hại, cần có phương thức lưu giữ, xử lý, thải bỏ đặc biệt, có quy
định riêng; gây hại sức khoẻ, an toàn môi trường hay gây cảm giác thiếu thẩm mỹ.
CTR bao gồm CTR thông thường và CTR nguy hại (theo Nghị định số
59/2007/NĐ-CP)
Theo Quyết định số 43/2007QĐ-BYT:

tự như rác thải sinh hoạt.
Chất thải là bệnh phẩm: mô, cơ quan, phần tử bào thai người, xác động vật
thí nghiệm, máu dịch thể.
Chất thải chứa phóng xạ: chất thải từ quá trình chiếu chụp X quang, phân
tích tạo hình cơ quan trong cơ thể, điều trị và khu trị khối u...
Chất thải hóa học: có tác dụng độc hại, ăn mòn, gây cháy hay nhiễm độc gen
không độc.
Chất thải nhiễm khuẩn: gồm các chất thải chứa tác nhân gây bệnh như vi
sinh vật kiểm định, bệnh phẩm bệnh nhân bị cách ly hoặc máu nhiễm khuẩn...
Các vật sắc nhọn: kim tiêm, lưỡi dao, kéo mổ, chai lọ vỡ... có thể gây thương
tích cho người và vật.
Dược liệu: dư thừa, quá hạn sử dụng.

1.1.2.2.

Phân loại theo Việt Nam

10


Căn cứ vào các đặc điểm lý học, sinh học, hóa học và tính chất nguy hại.
Chất thải trong các cơ sở y tế được phân loại thành các nhóm sau: (Nguồn: Thực
hành quản lý chất thải rắn y tế - NXB Y học 2000)
a. Chất thải lâm sàng
Nhóm A: chất thải nhiễm khuẩn, chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ đủ
gây bệnh, bị nhiễm khuẩn bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm…bao gồm các vật
liệu bị thấm máu, thấm dịch, chất bài tiết của người bệnh như gạc, bông, găng tay,
bột bó gãy xương, dây truyền máu…

Hình 1.1: Hình ảnh chất thải nhiễm khuẩn

P
51
Cr
57
Co
59
Fe
67
Ga
75
Se
99m
Tc
123
I
125
I
131
I
135
Xe

Các hạt phóng xạ
Hạt beta
Hạt beta
Hạt beta
Tia gamma
Hạt beta
Hạt beta
Tia gamma

Chuẩn đoán hình ảnh
Chuẩn đoán hình ảnh
Chuẩn đoán hình ảnh
Chuẩn đoán hình ảnh
Chuẩn đoán hình ảnh
Trị liệu, nghiên cứu
Chuẩn đoán hình ảnh
(Nguồn: WHO, 1991)

Tại các cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán
hoá, hoá trị liệu, và nghiên cứu.
Chất thải phóng xạ rắn bao gồm: Các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm,
chuẩn đoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc
sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ…
Chất thải phóng xạ lỏng bao gồm: Dung dịch có chứa chất phóng xạ phát
sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài
tiết, nước súc rửa các dụng cụ có chất phóng xạ…
Chất thải phóng xạ khí bao gồm: Các chất khí thoát ra từ kho chứa chất
phóng xạ…

13


c. Chất thải hóa học
Bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axit
amin, một số loại muối… và hóa chất nguy hại như Formaldehit, hóa chất quang
học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử
khuẩn, các hóa chất dùng trong tẩy uế, thanh trùng…
Formaldehit: Đây là hoá chất thường được sử dụng trong bệnh viện, nó được
sử dụng để làm vệ sinh, khử khuẩn dụng cụ, bảo quản bệnh phẩm hoặc khử khuẩn

Chất thải rắn thông thường chủ yếu tạo ra từ nhà bếp, nhà ăn, khu hành
chính, từ giường bệnh và từ phía người nhà đến phục vụ bệnh nhân.
Các chất thải có nhiều vi trùng, có độ lây nhiễm cao như cơ quan nội tạng,
bông gạc lẫn máu mủ từ phòng phẫu thuật.
Các chất thải rắn có phóng xạ, hóa chất có nguồn gốc từ các khoa khám,
chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm,khoa dược
Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu
phẫu thuật, bào chế dược
Tất cả các hoạt động này đều phát sinh chất thải và các mầm bệnh gây ô nhiễm
môi trường.
Nguồn phát sinh CTR từ hoạt động y tế được thể hiện ở bảng 1.2:
Bảng 1.2: Nguồn phát sinh CTR từ hoạt động của ngành y tế
ST
T
1
2
3
4

Loại chất thải rắn

Nguồn tạo thành

Các chất thải ra từ nhà bếp, khu vực hành chính,
các loại bao gói...
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng
Chất thải chứa các vi
của người sau khi mổ xẻ, gạc bông băng lẫn máu
trùng gây bệnh
mủ của bệnh nhân...

máu, kim tiêm, ống tiêm, lọ thuốc, dược phẩm hư hỏng...
Bảng 1.3: Thành phần vật lý trong chất thải y tế
STT
1

Nguồn thải
Đồ bông vải sợi

2

Đồ giấy

3
4
5
6
7

Đồ thủy tinh
Đồ nhựa
Đồ kim loại
Bệnh phẩm
Rác thải

Chất thải
Bông, băng, gạc, khăn lau, ….
Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh,

Chai lọ, ống tiêm, ống nghiệm, …
Hộp đựng, dây truyền máu, …

20%
10%
7%
3%
50 – 70%
20 – 60%
1 – 10%

(Nguồn: USEPA, )
1.1.5. Quá trình thu gom phân loại
Theo Quy chế quản lý chất thải y tế được Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành tại
Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 (sau đây gọi tắt là
Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT), Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng
4 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy
hại (sau đây gọi tắt là Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT). Thùng làm bằng nhựa có
tỷ trọng cao, có nắp đậy, thành dầy và cứng. Dung tích thùng tùy vào khối lượng
chất thải phát sinh (từ 10 lít đến 160 lít). Những thùng thu gom có dung tích từ 50
lít trở lên có bánh xe đẩy. Thùng màu vàng để thu gom các túi, hộp chất thải màu
vàng. Thùng màu đen để thu gom các túi chất thải màu đen. Thùng màu xanh để thu
gom các túi chất thải màu xanh.Thùng màu trắng để thu gom các túi chất thải màu
trắng.
Màu sắc túi đựng chất thải:
-

Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm: Vật sắc nhọn gồm kim tiêm, các loại lưỡi dao
mổ, lưỡi dao lam, mảnh thủy tinh, vỏ ống thuốc đựng túi riêng. Dây chuyền dịch,
dây chuyền máu, bơm tiêm (chất liệu nhựa) cho vào túi riêng. Bông, băng, gạc,
găng tay, các chất liệu khác có dính máu, dịch tiết cơ thể đựng trong túi riêng. Rau

-

-

thành phần nguy hại.
Thủy tinh: Chai, lọ thủy tinh đựng các dung dịch không chứa các thành phần nguy

hại.
- Giấy: Giấy, báo, bìa, thùng các – tông, vỏ hộp thuốc và các vật liệu giấy.
- Kim loại: các vật liệu kim loại không dính các thành phần nguy hại (Bộ y tế, 2008).
1.2.2. Công nghệ đốt
Phương pháp đốt là phương pháp oxy hóa ở nhiệt độ cao với sự có mặt của
oxy trong không khí, trong đó chất thải sẽ được chuyển hóa thành khí và các chất
trơ không cháy. Kết quả là tiêu diệt hoàn toàn vi sinh vật, giảm được 95% thể tích
và khối lượng chất thải, làm thay đổi hoàn toàn trạng thái vật lý của chất thải. Lò
đốt thiết kế chuyên dùng cho xử lý chất thải bệnh viện được vận hành trong khoảng
nhiệt độ từ 700 đến 12000C. Phương pháp đốt áp dụng chủ yếu cho chất thải lây
nhiễm, chất thải gây độc tế bào, không áp dụng cho các hóa chất có hoạt tính phản
ứng, bình chứa khí có áp suất, các chất nhựa có chứa halogen như PVC vì phát thải
dioxin (Đặng Kim Chi và cs, 2011). Phương pháp đốt có ưu điểm là với nhiệt độ
cao thì CTRYT nguy hại được xử lý triệt để, loại trừ được các mầm bệnh trong các
chất thải lây nhiễm, giảm tối đa thể tích chôn sâu sau khi xử lý. Tuy nhiên đốt ở

18


nhiệt độ không đủ theo quy định có thể phát sinh khí thải gây ô nhiễm không khí;
chi phí đầu tư xây dựng và quản lý vận hành cao (Bộ Xây dựng, 2012).
1.2.3. Công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường
Hiện nay, có hai loại công nghệ thân thiện với môi trường chủ yếu được lựa
chọn thay thế các lò đốt CTRYT là công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm và công
nghệ có sử dụng lò vi sóng.

Chỉ áp dụng tạm thời đối với các cơ sở y tế các tỉnh, miền núi và trung du có
cơ sở xử lý CTRYT nguy hại đạt tiêu chuẩn tại địa phương. Hố chôn lấp phải đáp
ứng các yêu cầu: có hàng rào vây quanh, cách xa giếng nước, xa nhà tối thiểu 100m,
đáy hồ cách mức nước bề mặt tối thiểu 1,5m, miệng hố nhô cao và che tạm thời để
tránh nước mưa, mỗi lần chôn chất thải phải đổ trên mặt hố lớp đất dày từ 10 –
25cm và lớp đất trên cùng dày 0,5m. Không chôn chất thải lây nhiễm lẫn với chất
thải thông thường. Chất thải lây nhiễm phải được khử khuẩn trước khi chôn lấp (Bộ
Y tế, 2008).
1.3.

Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường và cộng đồng
Rác thải y tế là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và tác
động xấu lên sức khỏe con người. Khi nhu cầu khám chữa bệnh của con người càng
tăng thì rác thải y tế cũng không ngừng gia tăng và ước tính cứ 4kg rác thải y tế lại
có 1kg đã bị nhiễm vi khuẩn nguy hiểm. Do đó, rác thải y tế có thể trực tiếp ảnh
hưởng tức khắc lên sức khỏe con người và gây ra bệnh dịch (theo Phạm Văn Kiên,
2007)

Con người

Chất thải

Chất thải hóa học
nguy hại

lây nhiễm
Môi trường
Bình chứa
áp suất


thu gom đúng cách, các bãi chôn lấp không đúng kỹ thuật thì nước rác sẽ ngấm vào
đất làm thay đổi tính chất và thành phần của đất. Điều này làm biến đổi tính chất

đất, gây ô nhiễm môi trường đất.
1.3.2. Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng
Tại các cơ sở y tế, đặc biệt là bệnh viện đã thải ra hàng trăm tấn chất thải y tế
mỗi ngày với khoảng gần 12% loại chất thải độc hại nguy hiểm. Nếu các chất thải y
tế không được quản lý và xử lý tốt thì các thành phần nguy hại trong chất thải như
vi sinh vật gây bệnh, chất gây độc, gây bệnh ung thư... sẽ tạo nên những nguy cơ

21


làm ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng người dân và môi trường sống. Thực tế
hiện tại nước ta ước tính chỉ có khoảng 50% bệnh viện đã phân loại, thu gom và xử
lý chất thải y tế theo đúng quy định. Vì vậy các phương tiện thông tin đại chúng đã
đề cập rất nhiều đến thực trạng quản lý và xử lý chất thải y tế không an toàn trong
thời gian vừa qua. Để thực hiện được mục tiêu quản lý và xử lý chất thải y tế bảo
đảm yêu cầu, đặc biệt là chất thải nguy hại một cách có hiệu quả, cần có sự nỗ lực
của chính quyền, ngành y tế, các ban ngành có liên quan với chi phí được đầu tư
một cách phù hợp.
Đối tượng chịu ảnh hưởng:
-

Y bác sĩ, cán bộ, nhâm viên vệ sinh trong bệnh viện
Người bệnh điều trị
Nhân viên thu gom, vận chuyển, tiêu hủy chất thải y tế
Cộng đồng dân cư
Ngoài ra còn các mối nguy cơ từ rác thải y tế quy mô nhỏ, rải rác như cơ sở
tư nhân, xi lanh thuốc do tiêm chích ma túy.


và một số nguồn khác như khi bóng đèn huỳnh quang, compact sử dụng bị vỡ.
Chất khử trùng được dùng với số lượng lớn trong BV, chúng thường có tính ăn mòn

-

và có thể kết hợp thành các hợp chất có độc tính cao hơn
Dư lượng các hóa chất sử dụng tại các phòng xét nghiệm khi thải vào hệ thống thoát
nước có thể ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải bằng phương

-

pháp sinh học hoặc các hệ sinh thái tự nhiên của các nguồn nước tiếp nhận
Tương tự như vậy đối với dư lượng dược phẩm trong các chất thải có chứa dược
phẩm. Dư lượng dược phẩm thải có thể bao gồm: các loại kháng sinh, các thuốc
khác nếu không được xử lý khi thải vào các nguồn nước tiếp nhận sẽ gây ảnh hưởng
đến môi trường sống và các loài thủy sinh trong các nguồn nước tiếp nhận.
Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào: Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập
vào cơ thể con người bằng các con đường: hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường
tiêu hóa; hoặc tiếp xúc với chất thải dính thuốc gây độc tế bào; hoặc tiếp xúc với
các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu. Một số chất gây
độc tế bào có thể gây hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc, đặc biệt là da và mắt, một số
triệu chứng thường gặp là: chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm da.
Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ: Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy
thuộc vào loại phóng xạ, cường độ và thời gian tiếp xúc. Trong BV, các chất phóng
xạ thường có chu kỳ bán rã ngắn (kéo dài từ vài giờ, vài ngày cho đến vài tuần).
Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và nôn nhiều bất
thường,… ở mức độ nghiêm trọng hơn có thể gây ung thư và các vấn đề về di
truyền.



24


Bảng 1.5: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
Đơn vị: kg/giường/ngày
Tổng lượng CTYT phát
Khoa
BVTW
Bệnh viện
Hồi sức cấp cứu
Nội
Nhi
Ngoại
Sản
Mắt/TMH
Cận lâm sang
Trung bình

0,97
1,08
0,64
0,50
1,01
0,82
0,66
0,11
0,72

sinh

0,04
0,04
0,26
0,21
0,12
0,03
0,14

BV

BV

Tỉnh
0,14
0,31
0,03
0,05
0,21
0,22
0,10
0,03
0,13

Huyện
0,11
0,18
0,02
0,02
0,17
0,17

2

Bệnh viện chuyên khoa Trung Ương

3

Bệnh viện đa khoa tỉnh

4

Bệnh viện chuyên khoa tỉnh

0,17 – 0,29

0,21 – 0,35

5

Bệnh viện huyện, ngành

0,17 – 0,22

0,21 – 0,28

(Nguồn: Bộ Y Tế, 2010)
Theo thống kê của Bộ y tế, có 95,6% số bệnh viện thực hiện phân loại chất
thải rắn y tế, trong đó có 91,1% bệnh viện sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn.
Những năm qua, công tác quản lý chất thải bệnh viện còn một số bất cập.
Một số bệnh viện việc phân loại chất thải rắn y tế chưa đúng quy định như phân loại
nhầm chất thải rắn sinh hoạt đưa vào chất thải rắn y tế nguy hại gây tốn kém cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status