VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
—————
PHÙNG VĂN KIÊN
MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
CHO DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN THẾ GIỚI
VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60.31.01.06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ TUẤN HƯNG
Hà Nội, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu ghi
trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, tháng 7 năm 2016
Học viên
Phùng Văn Kiên
LỜI CẢM ƠN
Chương 2. PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI CÁC DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM ............................24
2.1. Sự phát triển thương mại điện tử tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới
...................................................................................................................................24
2.2. Thương mại điện tử trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam .....................41
2.3. Một số trở ngại đối với sự phát triển của thương mại điện tử trong doanh nghiệp
vừa và nhỏ ở Việt Nam .............................................................................................48
Chương 3. ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
PHÙ HỢP VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM ...................53
3.1. Sự cần thiết phải xây dựng mô hình phát triển thương mại điện tử phù hợp với
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.......................................................................53
3.2. Quan điểm xây dựng mô hình phát triển thương mại điện tử trong doanh nghiệp
vừa và nhỏ ở Việt Nam .............................................................................................55
3.3. Gợi ý mô hình và giải pháp phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa
và nhỏ của Việt Nam .................................................................................................58
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................80
BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
B2B
:
B2C
:
C2B
:
TMĐT
UNCITRAL
:
:
UNCTAD
:
Business to Business:
Doanh nghiệp với doanh nghiệp
Business to Customer:
Doanh nghiệp với người tiêu dùng
Customer to Business:
Người tiêu dùng với doanh nghiệp
Customer to Customer:
Người tiêu dùng với người tiêu dùng
Công nghệ thông tin
Cơ sở dữ liệu
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Electronic Data Interchange:
Trao đổi dữ liệu điện tử
Government to Business:
Chính phủ với doanh nghiệp
Government to Customer:
Chính phủ với người dân
Government to Government:
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số thứ tự
Tên hình
Trang
Hình 2.1
Doanh thu B2C toàn cầu theo khu vực năm 2014
24
Hình 2.2
Doanh thu TMĐT B2C khu vực APAC
25
Hình 2.3
Tỷ lệ doanh thu TMĐT bán lẻ trong tổng doanh thu bán lẻ
toàn cầu 2015
26
Hình 2.4
10 quốc gia có doanh thu TMĐT B2C cao nhất 2014
Khó khăn trong tuyển dụng nhân sự có kỹ năng CNTT và
TMĐT
43
Hình 2.10
Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch TMĐT năm
2015
43
Hình 2.11
Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch TMĐT qua các
năm
44
Hình 2.12
Tỷ lệ doanh nghiệp sở hữu website (nhóm theo lĩnh vực
kinh doanh)
45
Hình 2.13
Đánh giá việc bán hàng qua các hình thức
nước trên thế giới. Với tốc độ toàn cầu hóa nhanh chóng, TMĐT không còn là điều
tùy chọn mà là phương tiện sống còn trong sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh
nghiệp. Vì vậy dù muốn hay không các doanh nghiệp Việt Nam phải chấp nhận và
tham gia TMĐT.
TMĐT không phải chỉ đơn giản là mua bán hàng hoá và dịch vụ. TMĐT có
nhiều cấp độ khác nhau. Doanh nghiệp có thể tham gia TMĐT để: Giới thiệu hàng
hoá và sản phẩm của mình; Tìm hiểu, nghiên cứu, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng
hóa, dịch vụ; Xây dựng quan hệ trực tuyến với khách hàng; Thiết lập kênh tiếp thị
trực tuyến; Tìm kiếm đối tác; Tìm kiếm cơ hội xuất khẩu…
Ứng dụng TMĐT của doanh nghiệp là một quá trình mà trong đó doanh
nghiệp từng bước chuẩn bị, tích lũy nguồn lực và kinh nghiệm để đạt mục tiêu đề
ra. Doanh nghiệp không tham gia vào TMĐT thì sẽ bỏ lỡ một hình thức kinh doanh
hiệu quả, chi phí thấp và sẽ là hình thức kinh doanh phổ biến trong thế kỷ này. Các
nghiên cứu đã có về TMĐT đều xác định các DNVVN là đối tượng hưởng lợi nhiều
nhất từ hình thức kinh doanh này.
Sự ra đời và phát triển của TMĐT đã làm thay đổi thương mại truyền thống
và tạo ra nhiều mô hình kinh doanh mới. Sự ra đời của TMĐT tác động đến hoạt
động của doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu. Các doanh nghiệp tại các quốc gia đã
nhanh nhạy nắm bắt cơ hội do TMĐT mang lại để đạt được kết quả hoạt động kinh
doanh tốt, có sự tăng trưởng qua các năm. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp tại
Việt Nam, việc ứng dụng TMĐT trong hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp
nhiều trở ngại. Lý do chính ở đây là TMĐT mới chỉ thực sự phổ biến ở Việt Nam
1
vào đầu những năm 2000, hệ thống pháp luật về TMĐT còn thiếu. Chính phủ Việt
Nam nhận thức rất rõ tầm quan trọng cũng như tác động của TMĐT đến nền kinh tế
- xã hội, chính vì vậy Chính phủ rất mong muốn phát triển TMĐT, coi đây là một
trong những giải pháp mang tính chiến lược để góp phần đẩy mạnh phát triển kinh
- Năm 2002, dự án nghiên cứu về những tác động của TMĐT trong nền kinh
tế toàn cầu của Trung tâm nghiên cứu thuộc Đại học Iinrve (Mỹ) đã nghiên cứu các
tác động của môi trường chính sách của quốc gia tới sự phát triển TMĐT nói chung
và cũng như trong DNVVN. Tổng hợp những nghiên cứu này đã được viết lại trong
cuốn sách “Global e-commerce, Impacts of National Environment and Policy”
(TMĐT toàn cầu, những tác động của môi trường chính sách và môi trường quốc tế)
do trường đại học Cambridge phát hành năm 2006 [11]. Phạm vi của những nghiên
cứu này dàn trải trên 10 quốc gia khác nhau đó là: Mỹ, Brazil, Trung Quốc, Đan
Mạch, Pháp, Đức, Nhật, Mexico, Singapore và Đài Loan với 2.139 doanh nghiệp tại
các nước được phỏng vấn. Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra được tác động rất lớn
của môi trường chính sách của các quốc gia tới quá trình hình thành phát triển
TMĐT trong doanh nghiệp. Dựa trên các số liệu điều tra và mô hình nghiên cứu,
các tác giả đã phân tích và đánh giá các tác động của mô trường và chính sách
TMĐT trên mỗi quốc gia để nhằm giải đáp một số câu hỏi sau:
Có những xu thế nào (rào cản, nhân tố bên trong và bên ngoài) ảnh hưởng
đến việc ứng dụng TMĐT của các doanh nghiệp?
Những tác động của nhân tố này tại các quốc gia đã phát triển và đang phát
triển có sự khác biệt như thế nào?
Trong các giai đoạn phát triển của từng quốc gia thì yếu tố này ảnh hưởng
như thế nào?
Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các học giả
trên thế giới nghiên cứ về TMĐT và tác động của nó đến nền kinh tế, xã hội, tuy
nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính tổng hợp về về các mô hình
TMĐT cho đối tượng là các DNVVN trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về TMĐT. Trong đó có một
số công trình tiêu biểu:
- Tác phẩm “Thương mại điện tử cho doanh nghiệp” của Trịnh Lê Nam và
Nguyễn Phúc Trường Sinh (2001) [11] nghiên cứu về các giao dịch TMĐT của
doanh nghiệp. Tác phẩm đề cập tổng quát đến mô hình kinh doanh mới (kinh doanh
TMĐT và các điều kiện cần thiết cho sự phát triển TMĐT tại Việt Nam, đưa ra một
số gợi ý cho chính sách phát triển TMĐT ở Việt Nam. Tuy nhiên, các công trình
chưa đi sâu nghiên cứu mô hình phát triển TMĐT cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên
thế giới để từ đó có thể đưa ra được những gợi ý bổ ích cho các DNVVN Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
4
Nghiên cứu mô hình phát triển TMĐT của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế
giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết về TMĐT;
- Nghiên cứu về mô hình TMĐT được các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế
giới đang ứng dụng;
- Nghiên cứu về đặc điểm của DNVVN ở Việt Nam;
- Nghiên cứu về thực trạng ứng dụng TMĐT ở DNVVN ở Việt Nam hiện
nay;
- Đề xuất giải pháp phát triển TMĐT phù hợp cho DNVVN ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là mô hình phát triển TMĐT đang
được áp dụng trong DNVVN trên thế giới, hiện trạng phát triển TMĐT tại các
DNVVN ở Việt Nam trong thời gian gần đây và giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát
triển TMĐT tại các DNVVN ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là việc xây dựng, áp dụng các mô hình phát
triển TMĐT ở các DNVVN trên thế giới và Việt Nam trong thời gian qua. Các giải
pháp để xây dựng, áp dụng mô hình TMĐT phù hợp trong các DNVVN Việt Nam.
Chương 1
KHÁI LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1. Tổng quan về thương mại điện tử
1.1.1. Khái niệm thương mại điện tử
TMĐT là hình thức kinh doanh thương mại dựa trên cơ sở mạng máy tính
toàn cầu. TMĐT được dự báo sẽ trở thành phương thức hoạt động chủ yếu trong
nền kinh tế số. Sự hình thành và phát triển của TMĐT gắn liền với sự hình thành và
phát triển của CNTT và internet. TMĐT (electronic commerce) là khái niệm do Tập
đoàn IBM đưa ra năm 1997. Theo đó “TMĐT là những gì diễn ra khi kết nối khả
năng rộng lớn của mạng internet với các hệ thống công nghệ thông tin truyền
thống”. Tuy nhiên, sau khi Chính phủ Mỹ công bố văn bản quan trọng “Khung
TMĐT toàn cầu” vào tháng 7 năm 1997 thì thuật ngữ TMĐT mới bắt đầu được sử
dụng rộng rãi.
TMĐT ban đầu chủ yếu được ứng dụng trong hoạt động mua bán hàng hóa
và cung ứng dịch vụ. Do vậy, ở góc độ nhỏ hẹp thì TMĐT là việc mua bán hàng
hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông. Trong
trường hợp này thì TMĐT là mua bán trực tuyến. Tuy nhiên, sự phát triển của
CNTT và internet, TMĐT không chỉ dừng lại ở việc mua bán hàng hóa và dịch vụ,
mà nó còn được ứng dụng rộng rãi trong các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội
như lĩnh vực sản xuất, dịch vụ công, giáo dục, xây dựng…
Đến nay, nhiều khái niệm về TMĐT được nhiều tổ chức, cá nhân đưa ra dựa
trên góc độ tiếp cận của riêng họ. Theo Kenneth C. Laudon, chuyên gia người Mỹ
chuyên nghiên cứu về TMĐT thì “TMĐT là việc sử dụng internet và web để tiến
hành các hoạt động kinh doanh” [14]. Khái niệm do Laudon đưa ra tập trung chủ
yếu vào các giao dịch thương mại dựa trên công nghệ số hóa giữa các tổ chức, cá
nhân. Tác giả không tập trung vào loại hình tham gia trao đổi mà tập trung chủ yếu
vào giá trị gia tăng của mỗi giao dịch được tạo ra khi tiến hành bằng công nghệ số
gồm nhưng không hạn chế ở EDI, thư điện tử, điện tín, điện báo hoặc fax” [30].
Luật mẫu của UNCITRAL về TMĐT tập trung chủ yếu vào việc trao đổi các thông
điệp dữ liệu. Đây là điểm khác biệt lớn giữa TMĐT với thương mại truyền thống.
Trong thương mại truyền thống, thông tin chỉ là cái để tham khảo, hỗ trợ các bên đi
đến ký kết hợp đồng, mua bán hàng hóa. Trong TMĐT, thông tin được trao đổi
8
dưới dạng các thông điệp dữ liệu. Để giao dịch được tiến hành, các bên tham gia bắt
buộc phải truy cập được vào các thông điệp dữ liệu này. Thuật ngữ TMĐT trong
Luật mẫu về TMĐT của UNCITRAL được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát
các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có
hợp đồng. Theo quan điểm này thì TMĐT bao gồm tất cả các quan hệ mang tính
thương mại như: các giao dịch liên quan đến việc cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa,
dịch vụ, thỏa thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng,
cho thuê dài hạn, xây dựng các công trình, tư vấn, đầu tư, cấp vốn, liên doanh…;
các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa
hay hành khách bằng đường biển, đường sắt, đường không hoặc đường bộ. Như
vậy, có thể thấy rằng phạm vi của TMĐT hiểu theo nghĩa này là rất rộng, bao quát
hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế. Mua bán hàng hóa, dịch vụ chỉ là một lĩnh
vực áp dụng của TMĐT.
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đưa ra khái niệm: “TMĐT được hiểu là
việc sản xuất (Production), phân phối (Distribution), quảng cáo (Marketting), bán
hàng (Sale) hoặc chuyển giao (Delivery) hàng hóa hoặc dịch vụ bằng các phương
tiện điện tử” [31] . Khái niệm cho thấy WTO đã tiếp cận TMĐT ở góc độ rộng hơn
khi cho rằng TMĐT không chỉ dừng lại ở việc tiến hành hoạt động thương mại
trong các doanh nghiệp sản xuất, thương mại mà còn cả trong các doanh nghiệp
kinh doanh. Khái niệm nêu bật việc ứng dụng các phương tiện điện tử vào các hoạt
động tạo ra chuỗi giá trị để có một sản phẩm, dịch vụ, cho dù đó là hoạt động sản
với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước. Trong thương mại truyền thống,
các bên phải gặp nhau trực tiếp để tiến hành giao dịch. Và nơi diễn ra các giao dịch
theo kiểu truyền thống này thường là chợ: từ các chợ truyền thống đến các cửa
hàng, siêu thị, trung tâm thương mại. Các đối tác kinh doanh tham gia giao dịch
thường phải gặp gỡ nhau và tiếp xúc với nhau để tìm hiểu về thông tin, khảo hàng
và thương lượng…, thậm chí họ còn là những người đã quen biết nhau từ trước. Họ
thường gặp nhau tại một địa điểm nhất định (có thể là địa điểm của người bán,
người mua hoặc một địa điểm nào khác mà hai bên cùng thống nhất) để tiến hành
các giao dịch này. Các giao dịch được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc vật lý như
chuyển tiền, séc, hoá đơn, vận đơn, gửi báo cáo. Sự ra đời của các phương tiện viễn
thông như fax, telex…đã làm giảm thiểu được những cuộc tiếp xúc đôi khi không
cần thiết và gây lãng phí giữa các đối tác kinh doanh. Tuy nhiên, việc sử dụng các
phương tiện điện tử trong thương mại truyền thống thường chỉ được sử dụng để trao
10
đổi số liệu kinh doanh. Từ khi xuất hiện mạng máy tính mở toàn cầu thì việc trao
đổi thông tin đã được mở rộng nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới với số lượng
người tham gia ngày tăng. Những người tham gia có thể là các cá nhân hoặc doanh
nghiệp, có thể đã biết nhau hoặc hoàn toàn chưa biết nhau. Họ gặp gỡ nhau qua
những chợ ảo trên mạng để thực hiện khảo hàng và mua bán.
Thứ hai, trong TMĐT, khái niệm biên giới quốc gia dường như không tồn
tại. Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái
niệm biên giới quốc gia, còn trong TMĐT, nó dần được xoá mờ. Có thể nói rằng
khái niệm biên giới là một cản trở lớn đối với thương mại truyền thống. Đề cập tới
khái niệm biên giới trong thương mại truyền thống, người ta thường hay nghĩ tới sự
gia tăng của chi phí giao dịch, những rào cản thuế quan và phi thuế quan - những
điều có thể cản trở một doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh của mình trên
những thị trường nước ngoài. Vào thế kỷ XXI, bất kỳ khách hàng nào dù là người
chuyên gia về kinh doanh trên mạng, chính những tính năng dễ sử dụng và hình
thức vui mắt, dễ hiểu của các trang web dành cho TMĐT là những yếu tố quyết
định trong việc thu hút khách hàng. Người tiêu dùng đã bắt đầu mua trên mạng một
số loại hàng trước đây được coi là khó bán trên mạng. Con người ngày càng trở nên
lười biếng và họ cho rằng thà phải trả thêm một chút tiền còn hơn là phải đến tận
cửa hàng để mua hàng. Một số công ty đã mời khách hàng may đo quần áo trên
mạng, tức là khách hàng chọn kiểu, gửi số đo theo hướng dẫn của cửa hàng (qua
internet) rồi sau một thời gian nhất định sẽ nhận được bộ quần áo theo đúng yêu cầu
của mình. Điều tưởng như không thể thực hiện được này cuối cùng cũng được rất
nhiều người hưởng ứng. Các chủ cửa hàng thông thường ngày nay cũng đua nhau
đưa thông tin lên web để tiến tới khai thác mạng thị trường rộng lớn trên web bằng
cách mở cửa hàng ảo. Như vậy, trong TMĐT, bản chất của thông tin không thay
đổi. TMĐT chỉ biến đổi cách thức khởi thảo, trao đổi, bảo quản và xử lý thông tin
mà hoàn toàn không thay đổi những chức năng cơ bản của thông tin đối với các bên
tham gia trao đổi.
Thứ tư, trong TMĐT, ngoài các chủ thể tham gia giao dịch giống như trong
giao dịch thương mại truyền thống (người mua và người bán) đã xuất hiện thêm một
bên thứ ba đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực… Đây là
những người tạo môi trường cho các giao dịch TMĐT. Nhà cung cấp dịch vụ mạng
có nhiệm vụ chuyển, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch TMĐT,
đồng thời, họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch TMĐT.
12
Thứ năm, trong TMĐT, độ lớn về quy mô và vị trí của các doanh nghiệp
không quan trọng. Nếu như trong thương mại truyền thống, độ lớn và vị trí có ảnh
hưởng quan trọng với sự thành công trong hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp thì trong TMĐT, điều này không còn đúng nữa. Trong TMĐT, bất kỳ là lớn
hay nhỏ, doanh nghiệp đều có thể dễ dàng truy nhập đến các khách hàng tiềm năng.
gồm: các dữ liệu, các số liệu thống kê, thông tin, âm thanh, hình ảnh, phần mềm
máy tính, kinh doanh trong bảo hiểm, tài chính, an ninh và các loại hàng hoá khác.
Thứ bảy, một điều khác biệt với các hoạt động thương mại bình thường khác
là trong TMĐT thì chúng ta dùng thuật ngữ “Market-space” dùng để chỉ nơi họp
chợ, trong các giao dịch nó thay thế cho ''Market-place'' - nơi họp chợ của các hoạt
động thương mại thông thường khác. “Market-space” tạm dịch là không gian họp
chợ, chỉ bối cảnh thực tế trong đó người mua, người bán khám phá lẫn nhau và tiến
hành giao dịch thông qua mạng viễn thông và internet. Như vậy TMĐT dùng không
gian ảo để tiến hành các hoạt động mang tính thương mại giữa các bên tham gia.
Thứ tám, trước đây để thực hiện một giao dịch thương mại truyền thống
chúng ta phải mất một khoảng thời gian dài, đôi khi là cả năm. Bill Gates nói: “Tốc
độ quyết định một doanh nghiệp thành công hay thất bại”. Với những ứng dụng
TMĐT, ta chỉ cần bấm một phím, một giao dịch hoặc một hợp đồng đã được ký kết.
Sẽ không cần bất kỳ cuộc họp kín hay các hội nghị lớn nào nhận được nhiều thông
tin, nhiều sự lựa chọn. Căn cứ vào đó, các doanh nghiệp có thể xác định được khách
hàng tiềm năng và tìm cách thoả mãn họ không chút chậm trễ.
1.2. Mô hình phát triển thương mại điện tử và vai trò của nó đối với hoạt động
của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm mô hình phát triển thương mại điện tử
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, trong đó có lĩnh vực
CNTT, khái niệm mô hình kinh doanh trong thời đại thông tin hay mô hình TMĐT
ngày càng trở nên quen thuộc với doanh nghiệp. Mô hình TMĐT cho thấy cơ chế
hoạt động của doanh nghiệp, do đó việc xác định rõ mô hình TMĐT trong các
doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp đạt được thành công khi doanh
nghiệp thực hiện TMĐT.
Mô hình thương mại điện tử là phương thức tiến hành hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ thông tin và công nghệ điện tử nhằm
thực hiện chiến lược của doanh nghiệp để thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng
và tối đa hóa lợi nhuận. Để có mô hình TMĐT thành công đòi hỏi doanh nghiệp
nghiệp. Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ phân tích 5 mô hình TMĐT, đó là
mô hình B2C, B2B, C2C, C2B và mô hình chính phủ điện tử.
15
1.2.2.1. Mô hình thương mại điện tử B2C
Mô hình TMĐT B2C là mô hình giao dịch thương mại giữa doanh nghiệp và
người tiêu dùng, trong đó các giao dịch thương mại được thực hiện với sự hỗ trợ
của các thiết bị điện toán và mạng truyền thông, sử dụng mạng internet làm môi
trường trao đổi thông tin. Thực chất đó là hình thức các doanh nghiệp bán các hàng
hóa, dịch vụ của mình cho khách hàng. Đây là mô hình TMĐT được sử dụng nhiều
nhất hiện nay. Trong mô hình này, các doanh nghiệp TMĐT tiến hành nhiều hoạt
động để có thể tiếp cận được với người tiêu dùng cá nhân. Số lượng doanh nghiệp
tiến hành theo mô hình này chiếm tỷ trọng lớn, doanh thu của mô hình này trên
phạm vi toàn cầu đang gia tăng nhanh chóng.
Thực chất mô hình TMĐT B2C là mô hình bán lẻ điện tử. Hiện nay doanh số
bán lẻ điện tử ngày càng gia tăng, điều này thể hiện mức độ thâm nhập của TMĐT
vào đời sống xã hội. Bán lẻ điện tử giúp doanh nghiệp dễ dàng bán hàng trực tiếp
đến người tiêu dùng.
1.2.2.2. Mô hình thương mại điện tử B2B
Mô hình TMĐT B2B là hình thức giao dịch được thực hiện giữa các doanh
nghiệp trong đó có các giao dịch thương mại được thực hiện với sự hỗ trợ của các
thiết bị điện toán và mạng truyền thông. Các giao dịch B2B chủ yếu được thực hiện
trên các hệ thống ứng dụng TMĐT như mạng giá trị gia tăng (VAN – Value Added
Network), quản lý chuỗi cung ứng (SCM - Supply Chain Management), các sàn
giao dịch TMĐT B2B (emarketplaces)... Các doanh nghiệp có thể chào hàng, tìm
kiếm bạn hàng, đặt hàng, ký kết hợp đồng, thanh toán qua các hệ thống này. Ở mức
độ cao, các giao dịch này có thể diễn ra một cách tự động ví dụ như
www.alibaba.com. TMĐT B2B đem lại lợi ích rất thực tế cho các doanh nghiệp,
Mô hình TMĐT C2B là mô hình TMĐT giữa người tiêu dùng với doanh
nghiệp. Trong mô hình này, người tiêu dùng sử dụng các đại lý trực tuyến để tìm
kiếm sản phẩm, dịch vụ phù hợp nhu cầu. Loại hình phổ biến của TMĐT C2B là
theo giá người mua (name-your-own-price). Mô hình này cho phép người mua tìm
kiếm được người ban hàng hóa, dịch vụ trong khả năng mua sắm của họ. Hiện nay,
các trang web thành công trong cung cấp loại hình TMĐT này phải kể đến:
Princeline.com, AutobyTel.com.
17
1.2.2.5. Mô hình chính phủ điện tử
Đã có rất nhiều tổ chức và chính phủ đưa ra định nghĩa “Chính phủ điện tử”.
Tuy nhiên, hiện không có một định nghĩa thống nhất về chính phủ điện tử, hay nói
cách khác, hiện không có một hình thức chính phủ điện tử được áp dụng giống nhau
cho các nước. Các tổ chức khác nhau đưa ra những định nghĩa về chính phủ điện tử
của riêng mình.
Khái niệm phổ biến nhất: Chính phủ điện tử là chính phủ ứng dụng công
nghệ thông tin và truyền thông nhằm tăng hiệu quả hoạt động của các cơ quan chính
phủ, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn.
Trong quá trình triển khai xây dựng chính quyền điện tử, mục tiêu xuyên
suốt là lấy người dân làm trung tâm, đây là một định hướng cho sự phát triển.
Việc cung cấp thông tin, dịch vụ trực tuyến, các quan hệ tương tác của chính
phủ điện tử được xác định trong mô hình chính phủ điện tử dựa trên các quan hệ giữa
các cơ quan chính phủ, người dân, doanh nghiệp, các cán bộ, công chức, viên chức.
1.2.3. Vai trò của các mô hình phát triển thương mại điện tử đối với hoạt động
của doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.3.1. Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Việc xác định DNVVN chỉ mang tính chất tương đối vì nó chịu tác động của