Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân - Pdf 38

VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí

Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
Bài văn mẫu 1
“Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân và của văn học Việt
Nam sau năm 1975. Truyện được in trong tập “Con chó xấu xí” (1962). Truyện “Vợ nhặt”
có giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc. Thông qua tình huống “nhặt vợ” tác giả đã
cho ta thấy nhiều điều về cuộc sống tối tăm của những người lao động trong nạn đói năm
1945 cũng như khát vọng sống mãnh liệt và ý thức về nhân phẩm rất cao ở họ.
Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính, được
tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau của con người, sự nâng niu, trân trọng
những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng trỗi dậy ở họ.
Trước hết tác phẩm bộc lộ niềm xót xa đối với cuộc sống thê thảm của người dân
nghèo trong nạn đói năm 1945. Qua đó tố cáo tội ác tày trời của thực dân Pháp và phát xít
Nhật đã gây ra nạn đói. Bối cảnh chính của truyện “vợ nhặt” diễn ra ở một xóm ngụ cư, ở
đó cái đói đang hành hạ mọi người, cái đói thấm đến tận cái nhìn vào cảnh vật. Con
đường từ trong xóm chợ vào trong bến thì “khẳng khiu”, cái thứ ánh sáng đầu tiên hắt vào
truyện là thứ ánh sáng nhập nhoạng mù mờ, không ra ánh sáng mà cũng không ra tối hẳn
của buổi chiều tà “chạng vạng”. Trên con đường và thứ ánh sáng leo lét ấy hiện lên vật vờ
ủ rũ những bóng người đói “xanh xám như những bóng ma”. Người sống nằm ngổn
ngang khắp lều chợ, ngay cạnh là những “cái thây nằm còng queo bên đường”. Trên ngọn
cây là hình ảnh bầy quạ “cứ gào lên từng hồi thê thiết”, văng vẳng bên tai là tiếng trống
thúc thuế dồn dập, những đứa trẻ thì ngồi ở xó đường, không buồn nhúc nhích…một cuộc
sống mấp mé bên bờ cái chết với cái không khí “vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi
gây của xác người”.
Thứ hai, tác phẩm đi sâu khám phá và trân trọng nâng niu khát vọng hạnh phúc, khát
vọng sống của con người, trước hết là Tràng. Khi nhặt được vợ về Tràng không phải
không biết “chợn”, “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không lại
còn đèo bòng”. Nhưng rồi anh ta “tặc lưỡi”: “Chậc, kệ!”. Sau tiếng đó mọi sự đùa cợt lập
tức khép lại nhường chỗ cho sự nghiêm trang và anh ta đã được đền bù: “Trong một lúc
Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề […], một cái gì đó mới mẻ, lạ lẫm chưa

lỏn ban đầu biến mất, thay vào đó là sự hiền hậu đúng mực, sự ý tứ trong cách cư xử: Thị
đi theo Tràng với dáng điệu đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tang, nghiêng nghiêng che
khuất đi nửa mặt, khi về đến nhà thị chỉ dám ngồi mớm ở mép giường. Sáng hôm sau dậy


VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí

từ sớm quét dọn nhà cửa…. Còn về bà cụ Tứ, bà thương con hết mực, cảm thông cho tình
cảnh của nàng dâu mới “có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy đến con
mình, mà con mình mới có được vợ”, bà ân cần trong cách hành động với con dâu “con
ngồi xuống đây, ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”. Bà luôn trăn trở về nghĩa vụ làm mẹ
của mình “chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm
nổi…còn mình thì”, trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt. Bà luôn
cố tạo niềm vui cho gia đình giữa cảnh sống thê thảm. Người mẹ ấy sống vì con và tìm
thấy ý nghĩa của đời mình trong sự chăm lo vun vén cho con.
Nổi bật nhất trong giá trị nhân đạo của tác phẩm đó là niềm tin tưởng sâu sắc vào con
người lao động, vào bản năng sống, khát vọng sống mạnh mẽ của họ. Tình cảm nhân đạo
của tác phẩm có nét mới mẻ hơn so với tình cảm nhân đạo được thể hiện trong nhiều tác
phẩm văn học hiện thực trước cách mạng.
Bài văn mẫu 2
Năm 1945 đã trở thành dấu ấn lịch sử không thể phai mờ đối với mỗi con người Việt
Nam, thời điểm đó không chỉ đánh dấu sự huy hoàng của thắng lợi Việt Nam đánh đổ
phát xít, thực dân và lật đổ chế độ phong kiến 1000 năm. Đưa nước ta trở thành một nước
tự do dân chủ. Đó còn là giai đoạn ghi nhận những đau thương mất mát của dân tộc ta
dưới họa xâm lăng. Sự bóc lột dã man tàn bạo của bọn phát xít thực dân và bọn phong
kiến tay sai đã đẩy hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Trong hoàn cảnh ấy nhà văn Kim
Lân đã dựng lên một tình huống nhặt được vợ. Tình huống ấy vừa để tố cáo tội ác của bọn
bóc lột, vừa thể hiện niềm cảm thông với nỗi đau khổ của con người, vừa bày tỏ niềm tin
vào con người: “dù cuộc sống có đau khổ đến đâu, nhưng con người vẫn thể hiện niềm
yêu thương đùm bọc lẫn nhau vẫn không nguôi về khát vọng hạnh phúc, vẫn hướng đến

đấy ư…”. Đến sáng hôm sau nhìn thấy ngôi nhà đã lâu nay đã được thu dọn sạch sẽ bởi
bàn tay người vợ. Hắn không hết bàng hoàng ngạc nhiên việc hắn đã có vợ đến hôm nay
hắn vẫn ngỡ ngàng như không phải. Điều đó còn được thể hiện ở ý thức bám lấy sự sống
rất mạnh mẽ thể hiện ngay ở nhân vật người vợ nhặt. Chỉ có một câu tầm phơ tầm phào
mà cô chấp nhận theo không người đàn ông xa lạ ấy để làm vợ, cô bỏ qua cả ý thức về
danh dự và nhân phẩm của bản thân mình.
Không chỉ vậy mà Kim Lân còn đi sâu vào ý thức vun đắp cho cuộc sống gia đình của
từng nhân vật. Với Tràng thì anh đã nhận ra được trách nhiệm và bổn phận của mình với


VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí

hai người phụ nữ trong gia đình. Còn nhân vật thị thì thì hôm sau đã hoàn toàn thay đổi
trở nên hiền hậu, đúng mực “nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn
sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ địa vẫn vắt khươm, mươi niên ở góc nhà
đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy
ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch”. Đó là sự thay đổi ngỡ ngàng của
thị và quang cảnh nhà sáng hôm sau. Còn bà cụ Tứ thì tạo thêm niềm tin cho các con về
những dự định trong tương lai, việc nuôi gà, khuyên dăn con ai giàu ba họ ai khó ba đời,
có ăn lên làm ra thì con cái sau này mới sung sướng. Và cuối cùng có lẽ tình thương bà
dành cho đứ con trai và con dâu được thể hiện rõ nhất ở hình ảnh bát cháo cám. Người mẹ
già không có gì trong hoàn cảnh này, bà lật đật chạy xuống bếp với khuôn mặt vui tươi bê
nồi cháo cám lên ăn.
Kim Lân đã thắp lên cho gia đình bà cụ Tứ niềm tin hy vọng vào sự đổi mới. Trong
bóng tối đau thương tấm lòng cao đẹp của người mẹ vẫn tỏa sáng. Dẫu biết rằng việc lấy
vợ lấy chồng là việc không nên diễn ra vào lúc đói khát như lúc này nhưng bà cụ Tứ vẫn
vui vẻ chấp nhận “thôi thì các con phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng”.
Kim Lân đã khéo tìm cho người mẹ già đau khổ ấy một câu nói ẩn chứa sự từng trải của
người già, sự bao dung của người mẹ và quan niệm đẹp đẽ của người Việt Nam: “dù có
đắng cay cực khổ như thế nào vẫn mừng lòng đón nhận con người, luôn luôn trân trọng

bữa cơm sáng, mặc dù là bát cháo cám nhưng cô vẫn và vào miệng mặc dù mắt hơi nheo,
bởi cô không lỡ làm mất đi niềm vui của người mẹ già khốn khổ kia. Có lẽ thể hiện sâu
sắc niềm tin vào cuộc sống phải được thông qua bà cụ Tứ. Bà hết lòng yêu thương con
cháu, hết mực cảm thông với nàng dâu trong hoàn cảnh này. Không những thế bà còn trăn
trở những tháng ngày tiếp theo đứa con trai và con dâu bà sẽ sống ra sao. Những vượt lên
hoàn cảnh ở trước mắt bà vẫn luôn tạo niềm vui trong gia đình bằng những lời khuyên
dăn.
Bằng cái nhìn mới mẻ về cuộc sống của người dân sau cách mạng tháng Tám, Kim
Lân đã vẽ lên một bức tranh hiện thực về nạn đói và cái chết đầy bi thương của những
năm tháng này. Qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc góp phần tạo nên thành công
trong tác phẩm. Từ đó ta thấy được chiều sâu so với các tác phẩm văn học hiện thực trước
đó.
Bài văn mẫu 3


VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí

Sáng tạo nghệ thuật là sản phẩm tinh thần riêng của cá nhân người nghệ sĩ. Có những
tác phẩm đọc xong người ta quên ngay, đến khi cầm lại mới ngỡ là mình đã đọc rồi. Cùng
có những tác phẩm vừa mới ra đời được chào đón rầm rộ, sau đó người đọc lãng quên
nhanh chóng. Bên cạnh đó, vẫn ngời lên những tác phẩm nghệ thuật đích thực, tựa như
dòng sông chảy qua tâm hồn ta để lại những ấn tượng khắc chạm trong tâm khảm. "Vợ
nhặt" của nhà vãn Kim Lân là một tác phẩm văn học như thế. Làm nên giá trị to lớn đó có
nhiều lí do. Song một khía cạnh rất quan trọng chính là giá trị nhân đạo sâu sắc của tác
phẩm. Nó bắt nguồn từ tấm lòng luôn biết yêu thương, trân trọng giá trị của con người
ngay trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.
Đọc tác phẩm "Vợ nhặt", tôi thường nhớ đến câu nói của M. Gorki: "Con người! hai
tiếng ấy vang lên kiêu hãnh và tự hào xiết bao". Phải chăng khi viết tác phẩm này thì Kim
Lân – một nhà văn chuyên viết về đề tài nông thôn, một người con đẻ của đất đai, đồng
ruộng đang muốn nâng cao giá trị con người lên một tầm cao mới mẻ hơn.

thật thảm hại nhưng ai cũng thấy ngon. Phải chăng mỗi thành viên đang cảm nhận về
cuộc sống gia đình, về tương lai theo những cách khác nhau. Song ai cũng hi vọng về
cuộc sống sẽ khá giả hơn. Đọc tác phẩm, người dọc rất trân trọng bà cụ Tứ. Người mẹ
khốn khổ ấy thật tiêu biểu cho những người mẹ Việt Nam. Niềm tủi thân cho con trai, cho
chính bản thân mình và cho cả đứa con gái (cái Đục) xấu số cũng không thể ngăn cản bà
chia sẻ hạnh phúc với con trai dẫu biết rằng "chao ôi người ta cưới vợ gả chồng cho con
lúc ăn nên làm ra những mong có con đàn cháu đống" còn con mình lúc đói kém mới có
được vợ… Lòng người mẹ nghèo ấy biết bao là xót xa, đau đớn. Nhưng thương con trai,
bà thương cả con dâu “Chúng mày lấy nhau u cũng mừng lòng". Song biết có qua nổi cái
thì đói này không. Những giọt nước mắt mà bà cố giấu như chứa vị đắng cay pha lẫn sung
sướng. Nhất là dù hiện tại đáng buồn, bà cụ Tứ vẫn rất lạc quan "Ai giàu ba họ, ai khó ba
đời". Những tính toán của bà cụ thực xúc động. Bà cụ đã chủ động vẽ ra trước mắt các
con một tương lai tươi sáng. Không ai ngờ một người mẹ sắp gần đất xa trời rồi mà vẫn
giữ một niềm tin sắt đá. Và niềm tin đó không phải là không có cơ sở. Hình ảnh đoàn
người đi phá kho thóc của Pháp – Nhật và hình ảnh của lá cờ đỏ sao vàng đã đưa tác
phẩm ra khỏi phạm trù của văn học hiện thực. Lòng nhân đạo của Kim Lân không đi vào
bế tắc. Nhà văn không đưa ra vấn đề và để đấy, không đặt nhân vật vào hoàn cảnh éo le
không lối thoát. Một ánh hồng sáng tươi sẽ có sức giải thoát cuộc đời họ. Đó là cách
mạng. Và do đó, giá trị nhân đạo của tác phẩm tỏa sáng một ý nghĩa mới – Nếu như Nam
Cao vẫn được mệnh danh là nhà nhân đạo chủ nghĩa, nhà văn tầm nhân loại vì những tác
phẩm "Chí Phèo", "Đời thừa", thì đọc tác phẩm "Vợ nhặt" của Kim Lân, ngoài việc ông
đã nêu lên bể khổ của cuộc sống con người như truyền thống, ông đã vượt qua giới hạn
của thời là trước.


VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí

Đọc tác phẩm "Vợ nhặt" của Kim Lân chúng ta cũng cần biết thêm giá trị nhân đạo
tuyệt vời trong "Vợ nhặt" không chỉ bởi tài năng, thiên bẩm của nhà văn. Kim Lân cùng
với người vợ của mình đã từng ăn cháo cám, đã từng sống lay lắt, khổ sở. Như vậy vốn

biết tình cảnh không khác gì mình của Tràng. Nhưng Thị không chạy trốn. Nếu lúc trước,
Thị trốn cái đói cái khát để theo không Tràng về làm vợ thì giờ đây Thị đã không chạy
trốn. Hay Tràng dù lúc đầu cũng "chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả
biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng" . Nhưng sau cái chậc kệ, anh đã đưa Thị về nhà.
Chính cái khát vọng hạnh phúc, khát vọng có một tổ ấm đã làm tăng tính nhân đạo cho tác
phẩm. Mặc dù đang sống liền kề bên bờ vực của cái chết nhưng họ vẫn không muốn chết
mà vẫn muốn sống hạnh phúc.
Câu chuyện gợi ý tương lai của bà cụ Tứ cũng thể hiện giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Trong lúc dặn dò con

chuyện làm ăn. Bà vẽ ra khung cảnh tương lai tươi đẹp trước mắt

các con. "Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may
ra ông trời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con
cái chúng mày về sau". Rồi trong bữa cơm đầu có dâu, bà lại vừa ăn vừa kể chuyện làm
ăn, gia cảnh với con dâu. Bà nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này".
"Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà
thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…".
Những hi vọng đẹp đẽ về tương lai đã chút nào đó làm bừng sáng cả căn nhà của Tràng.
"Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế". Bà cụ Tứ còn đối xử
với con dâu rất tốt. Bà thương con dâu: "Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ
mỏi chân". Bà hạ giọng xuống thân mật: "chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…"
Vốn sinh ra từ một miền quê, Kim Lân rất hiểu đời sống của người dân. Viết "Vợ
nhặt", tác giả đã đặt nhân vật của mình vào tình huống độc đáo, oái oăm, bi hài, nhân vật
đã cảm thông, chia sẻ đồng điệu cùng nhân vật để cất lên bài ca nhân bản mạnh mẽ thiết
tha về khát vọng cuộc đời. Con người dù có nghèo khổ đến đâu họ vẫn có quyền mơ ước
một mái ấm gia đình hạnh phúc. Có lẽ truyện hấp dẫn người đọc qua nhiều thế hệ nhờ vào
giá trị nhân đạo sâu sắc ấy.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status