TIỂU LUẬN TRIẾT học QUAN điểm của CHỦ NGHĨA mác lê NIN về NGUỒN gốc bản CHẤT CON NGƯỜI và vấn đề PHÁT HUY NHÂN tố CON NGƯỜI TRONG nền KINH tế TRI THỨC - Pdf 38

THU HOẠCH 5B
MÔN: CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊC SỬ - LÝ LUẬN VẬN DỤNG

NỘI DUNG
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ NGUỒN GỐC, BẢN
CHẤT CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI
TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
………………………………………………………………………................


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
I
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ
4
NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CON NGƯỜI
1
2
3
II
1
2

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc con người

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất con người
Vai trò của con người
PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC

trong sự phát triển xã hội. Nếu nhìn lôgíc của quy luật phát triển, giữa trí tuệ
con người và sự phát triển xã hội có sự tác động biện chứng với nhau. Xã hội
phát triển cả về vật chất lẫn tinh thần thì tất yếu sẽ kéo theo những biến đổi
trong ý thức và trí tuệ của con người từ thấp đến cao. Ngược lại, sự phát triển
về trí tuệ của con người sẽ giúp con người cải biến tự nhiên có hiệu quả hơn,
thúc đẩy xã hội tiếp tục phát triển ở trình độ cao hơn. Đồng thời với sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, con người và xã hội loài người sẽ
vững bước vào kỷ nguyên mới, hướng tới phát triển mạnh mẽ về “kinh tế tri
thức”. Một đặc tính riêng biệt của nguồn lực trí tuệ gắn với tính trừu tượng
trong tư duy của con người.
Chính vì vậy, vấn đề phát huy và sử dụng có hiệu quả nhân tố con
người có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh
tế tri thức nói riêng và đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Để
phát huy và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả chúng ta phải hiểu được
nguồn gốc, bản chất của con người. Vậy, con người là gì, nguồn gốc, bản chất
con người ra sao? Vấn đề này được rất nhiều nhà tư tưởng trong lịch sử đề
cập đến, trong đó, có chủ nghĩa Mác - Lênin.
Đây chính là một trong những nội dung căn bản của chủ nghĩa Mác Lênin và là vấn đề mang tính thời đại. Mặt khác nhận thức được nội hàm, vị
trí và ý nghĩa quan trọng của vấn đề này, Đảng ta khẳng định phát huy vai trò
nhân tố con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Từ thực tiễn đó, bản thân chọn đề tài: “Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về nguồn gốc, bản chất con người và vấn đề phát huy nhân tố con người
trong nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay” làm bài thu hoạch.


I. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ NGUỒN
GỐC, BẢN CHẤT CON NGƯỜI
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc con người
Kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa triết học nhân loại, chủ
nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: Con người là một thực thể sinh vật - xã hội

con người thể hiện ở hoạt động và giao tiếp xã hội. Hoạt động của con người
không phải theo bản năng như động vật mà là hoạt động có ý thức. Tư duy
của con người phát triển trong hoạt động và giao tiếp xã hội, trước hết là
trong hoạt động lao động sản xuất. Trong quá trình lao động sản xuất thì ngôn
ngữ ra đời, mà ngôn ngữ chính là cái vỏ vật chất của tư duy. Vì vậy, ngôn ngữ
xuất hiện có ý nghĩa quan trọng trong quá trình lao động sản xuất cũng như
trong phát triển của tư duy, của tình cảm và ý thức con người.
2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất con người
C.Mác chỉ rõ: “Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là
tổng hoà những quan hệ xã hội”1.
Con người mà C.Mác đề cập ở đây không phải là con người chung
chung trừu tượng, mà là con người cụ thể, sống, hoạt động trong một xã hội
nhất định, trong một thời điểm lịch sử nhất định với một xã hội nhất định. Bản
chất con người chỉ được hình thành và bộc lộ ra trong toàn bộ những quan hệ
xã hội cụ thể. Đó là quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với
chính bản thân mình.
Trong quan hệ với tự nhiên, con người là chủ thể tái sản xuất ra giới tự
nhiên thông qua lao động sản xuất. Con người không phải là một sinh vật
thuần tuý mà là một thực thể sinh vật có ý thức, có khả năng sáng tạo theo
nhu cầu của mình, sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt của mình - đây là hoạt
động lịch sử đầu tiên để phân biệt con người và con vật. Ở con vật là sự kiếm
ăn những cái có sẵn trong tự nhiên. Còn ở con người để thoả mãn nhu cầu của
mình, con người đã sáng tạo ra những tư liệu sinh hoạt. Hoạt động lao động
sản xuất của con người là một hoạt động sáng tạo, không những chỉ là phương
tiện để duy trì sự sống mỗi cá nhân, mà còn là phương thức biểu hiện nội
dung sống, hoạt động sáng tạo của con người. Vì vậy, trong quan hệ với tự
nhiên, con người bằng hoạt động thực tiễn của mình, không chỉ cải tạo tự
1

C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, tr.11.

động của con người. Việc xác định quan hệ xã hội là yếu tố cấu thành bản
2

C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 42, tr.137.


chất của con người, là cơ sở khoa học quan trọng để nhận thức đúng đắn về
con người - xã hội, để đi đến giải phóng con người. Do vậy, khi xem xét con
người cần phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn các quan hệ ấy. Nếu chỉ nhấn
mạnh mặt này hay mặt khác đều dẫn tới nhận thức sai lầm.
3. Vai trò của con người
Con người vừa là chủ thể của hoàn cảnh vừa là sản phẩm của hoàn
cảnh lịch sử, khả năng sáng tạo, cải tạo thế giới của con người là rất to lớn.
Bởi vì, nếu không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn
tại con người, do đó, con người là sản phẩm của lịch sử, quá trình tiến hoá lâu
dài của giới hữu sinh. Con người luôn là chủ thể của lịch sử xã hội, với tư
cách là thực thể xã hội con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên,
cải tạo tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội.
Quán triệt vấn đề con người trong triết học Mác -Lênin là cơ sở khoa học để
giai cấp vô sản, nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới không ngừng đề ra
chiến lược giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột để tiến lên xây dựng một
xã hội thực sự dân chủ, văn minh và nhân đạo.
II. PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
1. Vai trò của nhân tố con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhân tố con
người nói chung và nguồn nhân lực tri thức nói riêng là nhân tố trung tâm, có
vai trò quyết định đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nguồn nhân lực
với tiềm năng tri thức là lợi thế cạnh tranh của các công ty, ngành về kinh tế.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quyết định sự thành công của quá

tái tạo nguồn nhân lực khác. Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên
nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ... có mối quan hệ nhân quả
với nhau nhưng trong đố nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh chi
phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.


Thứ hai, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố
quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khi
Việt Nam bước vào đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế thì yêu cầu nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự
thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần làm cho đất
nước phát triển nhanh và bền vững.
Thứ ba, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng
cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm phát triển bền vững.
Thứ tư, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để hội nhập quốc tế.
Quá trình hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam đang đứng trước nhiều
thách thức lớn, cần giải quyết.
Như vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực
chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền
vững đất nước.
2. Vài nét về thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam
Sau hơn 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện kinh tế - xã hội
và từng bước hội nhập quốc tế, nguồn nhân lực Việt Nam đã có sự phát triển
nhanh cả về số lượng và chất lượng.
Về số lượng, Việt Nam hiện có một đội ngũ nhân lực khá dồi dào so
với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009,
tổng số dân của Việt Nam là 85.846.997 người 3. Sau hơn 10 năm dân số
nước ta tăng thêm 9,523 triệu người, bình quân mỗi năm tăng 952 nghìn
người. Với mức tăng dân số như vậy, Việt Nam đang trong giai đoạn “dân

nước. So sánh với năm 2005 cơ cấu nguồn nhân lực phân theo ngành của
nước ta hiện nay cũng có sự thay đổi tích cực song nguồn nhân lực nước ta
chủ yếu được phân bố trong khu vực nông nghiệp chiếm 48,2%, nơi kỹ năng,
tay nghề, và trình độ của người lao động thường không cần cao. Lực lượng
lao động trong các khu công nghiệp và xây dựng chiếm 22,4%, dịch vụ
29,4%. Điều này phần nào phản ánh được nhu cầu lao động giản đơn, phổ
thông ở Việt Nam vẫn còn khá lớn.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và sự phát triển của
doanh nghiệp nói riêng, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao của các
4

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB. CTQG, Hà Nội, 2011, tr.153.


ngành dịch vụ và công nghiệp ngày càng tăng lên. Các doanh nghiệp trong
nước được thành lập mới ngày càng nhiều đã tạo ra một lượng cầu nhân lực
chất lượng cao ngày càng lớn. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng thường ưu tiên
tuyển lao động chất lượng cao ngay tại Việt Nam vì lao động Việt nam là
người am hiểu thị trường, phong tục tập quán, có nhiều mối quan hệ và có
mức lương thấp hơn so với thuê lao động từ nước khác. Các doanh nghiệp
nước ngoài còn sẵn sàng trả mức lương cao hơn nhiều so với các doanh
nghiệp Việt Nam nhằm thu hút nhân tài. Do đó, sự cạnh tranh nguồn nhân lực
chất lượng cao ngày càng diễn ra gay gắt. Ở nước ta còn 60% lực lượng lao
động chưa qua đào tạo nên thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, thành thạo
ngoại ngữ để đáp ứng yêu cầu của các đối tác nước ngoài. Việc bồi dưỡng
nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp còn nhiều bất cập.
Bên cạnh đó, tốc độ dịch chuyển lao động dịch vụ - công nghiệp - nông
nghiệp còn chậm. Cơ cấu ngành còn bất hợp lý, năng suất lao động trong một
số ngành còn thấp như: nông nghiệp, làng nghề5.
Những hạn chế trên đây xuất phát từ nhiều nguyên nhân, song cơ bản

được vận dụng được những gì sau khi học, hoặc muốn làm việc được thì
người học phải chấp nhận qua một quá trình “đào tạo lại” không chỉ lãng phí
về thời gian đối với người học...
3. Những giải pháp cơ bản phát huy và sử dụng có hiệu quả nguồn
nhân lực trí tuệ trong nền kinh tế tri thức Việt Nam
Nhận thức nội hàm, vị trí và ý nghĩa vô cùng to lớn của nhân tố con
người trong nền kinh tế tri thức, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm coi con
người là chủ thể và nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển xã hội
và sự nghiệp cách mạng Việt Nam; mọi quá trình phát triển kinh tế - xã hội
phải hướng tới mục tiêu nhân văn cao cả là vì con người.
Chính vì vậy, để khắc phục những hạn chế trên đồng thời phát huy và
sử dụng có hiệu quả nguồn lực trí tuệ chất lượng cao, cần thực hiện một số
giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, cải cách hiện đại hóa nền giáo dục, chăm lo đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao cho quá trình phát huy nguồn lực trí tuệ.
Trong nền kinh tế tri thức, vị trí, vai trò của giáo dục được thay đổi cơ
bản. Tri thức trở thành yếu tố quan trọng nhất của sản xuất hơn cả lao động


và tài nguyên. Giáo dục góp phần vào việc tạo ra tri thức đồng thời góp phần
quảng bá tri thức. Sử dụng tri thức là quá trình đổi mới, biến tri thức thành
giá trị, đưa tri thức vào hoạt động giá trị con người. Giáo dục đào tạo có
chức năng tạo ra và nhân lên vốn tri thức. Đặc biệt trong sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học, công nghệ, nước nào không có nguồn nhân lực trí tuệ thì
nước đó sẽ có nguy cơ tụt hậu rất lớn. Do đó, nhân tố cơ bản nhất để phát
triển nền kinh tế tri thức là nguồn nhân chất lượng cao lực dựa trên nền giáo
dục tiên tiến.
Để làm được điều đó trước hết, phải tiến hành ngay một cuộc cách
mạng toàn diện, sâu sắc trong giáo dục và đào tạo, bắt nguồn từ sự đổi mới tư
duy về giáo dục cải cách triệt để, sâu sắc cả về mục tiêu, nội dung, phương

khoa học mạnh, đội ngũ cán bộ khoa học giỏi, có nhiều phát minh, sáng chế
chưa hẳn là quốc gia mạnh, có trình độ công nghệ cao, có nền kinh tế phát
triển nhanh. Vấn đề là phải có một hệ thống kinh tế năng động, có cơ chế
chính sách buộc phải cạnh tranh dựa trên hiệu quả, khyến khích, bắt buộc sử
dụng tri thức vào tất cả các lĩnh vực của sản xuất và đời sống. Cần phải đổi
mới mạnh mẽ hơn cơ chế quản lý kinh tế và quản lý khoa học công nghệ,
tiến tới thiết lập được hệ thống đổi mới quốc gia hữu hiệu. Đổi mới chính
sách và cơ chế quản lý kinh tế chuyển hướng mạnh sang cơ chế thị trường,
tạo lập một môi trường kinh doanh sôi động, thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng
dựa vào tri thức và công nghệ, chất lượng con người. Đổi mới cần tạo điều
kiện cung và cầu cho phát triển tri thức, nâng cao năng lực khoa học công
nghệ quốc gia, nâng cao hàm lượng tri thức trong sản phẩm. Đổi mới cơ chế
tài chính cho khoa học, theo hướng mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm, phù hợp với đặc thù sáng tạo và khả năng rũi ro trong hoạt động
khoa học, công nghệ. Khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ,
nâng cao năng lực công nghệ. Chuyển mạnh các viện nghiên cứu ứng dụng
và phát triển công nghệ sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Nhà nước
có chính sách khuyến khích và tổ chức các hình thức liên kết hợp tác giữa
các doanh nghiệp, các trường đại học, các viện nghiên cứu hoặc các nhóm


sản phẩm để nhanh chóng hình thành, phát triển những ngành công nghiệp
mới có ý nghĩa chiến lược dựa trên công nghệ mới.
Thứ ba, tạo động lực thúc đẩy quá trình phát huy nguồn nhân lực trí tuệ
bằng cách huy động các nguồn lực, đẩy mạnh phát triển khoa học và công
nghệ nhằm tạo điều kiện về kinh tế thuận lợi cho quá trình phát triển và phát
huy nguồn lực trí tuệ.
Xác lập cơ chế, chính sách đồng bộ và hợp lý nhằm tạo môi trường
thuận lợi và động lực to lớn thúc đẩy quá trình phát huy nguồn lực trí tuệ.
Người Việt Nam được coi là thông minh, sáng tạo nhưng đó mới chỉ dừng lại

đảm bảo được an ninh của dân tộc. Do đó, hơn bao giờ hết trí tuệ Việt Nam
đòi hỏi vận dụng và phát huy cao độ. Một dân tộc thông minh là phải biết sử
dụng trí thông minh của mình cũng như của người đúng lúc, đúng chỗ và
đúng thời điểm.
Tóm lại, trong nền kinh tế tri thức, yếu tố quyết định nhất đối với tăng
trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng sống của người lao động là tri thức. Do
đó, đòi hỏi trong việc phát huy và sử dụng nguồn lực tri thức cần phải có
quan điểm khách quan và quan điểm phát triển. Bởi vì, phát huy và sử dụng
nguồn lực trí tuệ có nghĩa là phát huy năng lực “nội sinh”, những cái “sẵn
có”. Cho nên trong quá trình phát triển phải biết kế thừa chọn lọc những mặt
tích cực, loại bỏ những mặt tiêu cực để phát triển ở trình độ cao hơn phù hợp
với yêu cầu lịch sử. Bên cạnh đó, như chúng ta đã biết tự thân trí tuệ không
có sức mạnh vật chất, nó chỉ có thể trở thành sức mạnh vật chất, nó chỉ trở
thành sức mạnh vật chất khi được “vật hóa” nhờ sức mạnh của các phương
tiện vật chất, nhờ sức mạnh của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và sức lực
của con người. Trong quá trình phát triển nếu chúng ta chỉ chú ý khai thác
sự sáng tạo của con người mà bỏ qua con người sáng tạo là chúng ta đã hạ
thấp giá trị của con người. Chính vì vậy, chúng ta phải không ngừng chăm
lo, bồi dưỡng, đào tạo và phát triển con người một cách toàn diện, có thế
mới đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước và
nhanh chóng hội nhập nền kinh tế tri thức thế giới.


KẾT LUẬN
Con người theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là con người hoàn
chỉnh phát triển toàn diện trong hiện thực, đây chính là một bước chuyển biến
về chất trong nhận thức về con người của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nó là cơ
sở nghiên cứu những điều kiện, con đường đúng đắn để đi đến giải phóng con
người. Đồng thời là cơ sở để Đảng ta đề ra những chủ trương, chính sách phát
huy và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trí tuệ trong nền kinh tế tri thức yếu tố đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của đất nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status