TIỂU LUẬN QUAN hệ QUỐC tế THỜI cơ, THÁCH THỨC và TRIỂN VỌNG của VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH hội NHẬP KINH tế KHU vực và TRÊN THẾ GIỚI - Pdf 38

1

THỜI CƠ, THÁCH THỨC VÀ NHỮNG TRIỂN VỌNG
CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ
THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC
MỞ ĐẦU
Hiện nay toàn cầu hoá mà cốt lõi là toàn cầu hoá kinh tế đã trở thành
một xu thế khách quan của thế giới đương đại, Toàn cầu hoá, một mặt nó là
sự nối tiếp và hoàn thiện các khuynh hướng đã hình thành trong lịch sử thế
giới, mặt khác, nó lại là một hiện tượng mới, bắt đầu bằng toàn cầu hoá về
kinh tế, rồi dần dần lôi cuốn theo toàn cầu hoá về văn hoá và tác động mạnh
mẽ đến chính trị. Từ sau chiến tranh lạnh, trước sự sụp đổ ché độ xã hội chủ
nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, thế giới từ trật tự 2 cực trở thành thế giới đa
cực với một siêu cường duy nhất là Mỹ. Ngày nay Mỹ đang từng bước thực
hiện chủ nghĩa bá quyền và chính trị cường quyền, nhằm biến toàn cầu hoá
thành Mỹ hoá cả về kinh tế, văn hoá và chính trị, nuôi hy vọng chiếm địa vị
độc tôn và làm bá chủ thế giới.
Toàn cầu hoá là một quá trình chứa chất đầy mâu thuẫn, nó có hai mặt
tương phản: mặt tích cực và mặt tiêu cực. Toàn cầu hoá một mặt tăng cường
quyền lực của tư bản chủ nghĩa, mặt khác nó lại làm sâu sắc thêm những mâu
thuẫn nội tại của chúng, và chuẩn bị một cách tự giác những tiền đề cho chủ
nghĩa xã hội. Mấy chục năm qua trên thế giới, toàn cầu hoá vừa là hệ quả của
sự phát triển lực lượng sản xuất hiện đại; vừa là động lực mạnh mẽ thúc đẩy
lực lượng sản xuất phát triển. Thông qua toàn cầu hoá, các nước đang phát
triển có thể tiếp cận khoa học công nghệ hiện đại, tranh thủ nguồn vốn vay và
vốn đầu tư trực tiếp từ các quốc gia tư bản giàu có, để tiến hành công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt đối với những nước đi lên chủ nghĩa xã
hội bỏ qua chế độ phát triển tư bản chủ nghĩa như nước ta, việc hội nhập kinh


2

triển. Để thích ứng với quá trình này, các nước cần có đường lối chiến lược
cùng hệ thống giải pháp đông bộ, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội nhằm
chủ động nắm bắt, đón nhận các xu hướng mới, tuân thủ nội dung cam kết của
hệ thống quốc tế về hội nhập kinh tế thế giới. Trong bối cảnh toàn cầu hoá,
mà đặc biệt là toàn cầu hoá kinh tế thế giới hiện nay, việc nước ta tham gia
hội nhập kinh tế thế giới và khu vực là một vấn đề mang tính cần thiết.
Toàn cầu hoá kinh tế đang là một xu thế khách quan, bắt nguồn từ sự
phát triển của lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hoá ngày càng cao,
dưới tác động của khoa học và công nghệ hiện đại. Mặc dù quá trình toàn cầu
hoá kinh tế đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản
xuyên quốc gia chi phối, nên có nhiều mặt hạn chế, tiêu cực như: đe doạ độc
lập chủ quyền của các quốc gia dân tộc đang phát triển; gây sức ép buộc các
nước phải lệ thuộc vào chủ nghĩa tư bản ...song nó cũng có những tác động
tích cực lôi cuốn tất cả các nước trên thế giới vào vòng xoáy của nó. Những
tác động tích cực đó là: tạo điều kiện thuận lợi cho các nước đang phát triển
mở rộng kinh doanh, khai thác các nguồn lực về vốn đầu tư, kinh nghiệm
quản lý, công nghệ, thị trường, của thế giới để phát triển sản xuất trong nước,
cải thiện cơ cấu kinh tế và nâng cao đồi sống của nhân dân. Tham gia vào các
quan hệ kinh tế toàn cầu, các nước đang phát triển có điều kiện thực hiện sự
đan cài lợi ích, tạo nên thế và lực mới trong bảo vệ nền kinh tế độc lập tự chủ
của mình; đồng thời mỗi nước còn tạo được cho mình một vị trí xứng đáng để
tránh phân biệt đối xử, và có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế
để bảo vệ lợi ích của mình, vừa tăng thêm độ tinh cậy cho các đối tác. vì thế
mà hầu hết các nước trên thế giới đều đã và đang tham gia hội nhập kinh tế
thế giới. Nước ta cũng không nằm ngoại lệ, do vậy tham gia hội nhập kinh tế
thế giới và khu vực ở nước ta hiện nay là một vấn đề tất yếu khách quan, nếu
không muốn mình bị cô lập về kinh tế.


4

5

mặt này chúng ta chưa phát huy được sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của
thời đại, không phát huy được ưu thế của ta trên trường quốc tế dẫn đến nhiều
mặt hàng của chúng ta còn nhiều hạn chế, sứ cạnh tranh thấp, không còn phù
hợp với sự phát triển năng động của tình hình kinh tế thế giới. Chỉ có thông
qua giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta mới thấy hết được những
điểm mạnh, điểm yếu của nền kinh tế, và tìm ra cho mình một sự phân công
lao động quốc tế phù hợp, để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Vì vậy để hoàn thành tốt sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng
ta khởi xướng và lãnh đạo, một vấn đề mang tính cấp thiết, khách quan là phải
chủ động tham gia hội nhập kinh tế thế giới và khu vực.
Sau khi giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước chúng ta đã hình
thành các chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia vào hội đồng tương
trợ kinh tế, tích cực tham gia vào phong trào không liên kết, Liên hợp quốc ...
mà một trong những nội dung cơ bản là đấu tranh cho mốt trật tự thế giới mới
công bằng, bình đẳng. Bên cạnh sự hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ
nghĩa, chúng ta đã thúc đẩy mạnh quan hệ hợp tác bình đẳng, cùng có lợi vì
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VIII (9/1996) Đảng ta chủ trương: “xây dựng một nền kinh tế mở”, “đẩy
nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”. Nghị quyết Trung
Ương 4 khoá VIII nêu lên nhiệm vụ: Tích cực chủ động thâm nhập và mở
rộng thị trường thế giới; tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán
hiệp định thương mại với Mỹ, gia nhập AFEC, WTO, có kế hoạch cụ thể để
chủ động thực hiện cam kết trong khuôn khổ AFTA... Đại hội IX (4/2001)
tiếp tục khẳng định chủ trương của các đại hội trước và khẳng định: “Việt
Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế,



ĐCSVN Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb CTQG, H. 2001, tr 119.
ĐCSVN, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb CTQG, H, 2006, tr 112.


7

Âu, cam kết về tự do hoá thương mại và đầu tư. Tháng 10/2004 Việt Nam là
nước đăng cai tổ chức thành công hội nghị ASEM 5 với chủ đề chính: Tiến
tới quan hệ đối tác Á - Âu sống động và thực chất hơn.
Tháng 11/1998 Việt Nam gia nhập AFEC và sẽ trở thành thành viên
đầy đủ của tổ chức này vào năm 2020.
Tháng 12/1994 chúng ta gửi đơn gia nhập tổ chức thương mại thế giới;
đến nay các phiên đàm phán với các tổ chức đã cơ bản hoàn thành, dự kiến
07/11/2006 chúng ta sẽ chính thức gia nhập WTO.
Từ 16/9/1996 đến 13/7/2000, trải qua 10 vòng đàm phán, hiệp định
thương mại Việt - Mỹ đã được ký kết, ngày 10 tháng 12 năm 2001 hiệp định bắt
đầu có hiệu lực. Việc ký kết hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã mở ra
một thời kỳ mới, bình thường hoá quan hệ kinh tế thương mại giữa 2 nước.
Quán triệt tinh thần mở cửa đổi mới của Đảng, chúng ta đã chủ động
tham gia hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, thực tế chúng ta đã giành được
nhiều thành tựu đáng khích lệ. Chúng ta đã phá được thế bao vây, cấm vận
của các thế lực thù địch, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo dựng môi
trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao được
vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Khắc phục được tình trạng hụt hẫng
về thị trường, do hệ thông các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu
sụp đổ. Không bị cuốn sâu vào cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997
ở một số nước châu Á, mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu. Hiện nay
chúng ta đã có quan hệ hợp tác thương mại với trên 170 nước và vùng lãnh
thổ, xuất khẩu đạt từ 2,404 tỷ USD năm 1990 tăng lên 15 tỷ USD năm 2000;
nhờ mở rộng thị trường xuất khẩu chúng ta đã phát triển được sản xuất, tạo

chủ yếu tập trung ở cấp Trung Ương, còn các cấp các ngành tuy có đặt ra
nhưng còn yếu và không đồng bộ, làm hạn chế sức mạnh của chúng ta trong
quá trình hội nhập. Luật pháp, chính sách quản ký kinh tế, thương mại còn
chưa hoàn chỉnh. Các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu cả về sản xuất, quản lý


9

và khả năng cạnh tranh, quy mô sản xuất nhỏ, yếu cả về công nghệ và quản
lý; chưa bỏ được thói quen bao cấp. Nhà nước chưa có cơ chế hiệu lực nhằm
kích thích các doanh nghiệp, gắn sự tồn tại và phát triển của mình với khả
năng cạnh tranh trên thương trường quốc tế. Đội ngũ cán bộ còn yếu, công tác
tổ chức chỉ đạo chưa thích hợp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm công tác hợp
tác quốc tế.
1.2. Những thời cơ và thách thức của Việt Nam trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Đối với tất cả các nước, nhất là đối với các nước đang phát triển, đang
từng bước tham gia vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế như nước ta, thì tham
gia hội nhập kinh tế quốc tế luôn đứng trước cả những thời cơ và thách thức.
Nói đến thời cơ (còn gọi là cơ hội), là nói đến sự xuất hiện những điều
kiện trong nước, quốc tế thuận lợi tạo khả năng khách quan cho việc giải
quyết những nhiệm vụ cách mạng trọng đại. Thời cơ trước hết được tạo ra từ
thắng lợi của cách mạng, từ sự lớn mạnh của nội lực cách mạng (thời cơ bên
trong). Thời cơ còn được tạo ra từ những chuyển biến của tình hình quốc tế
(thời cơ bên ngoài).
Thách thức là những khó khăn trở lực lớn phải vượt qua, những kẻ địch
nguy hiểm phải chiến thắng, những mâu thuẫn phức tạp phải giải quyết để
cách mạng có thể tự bảo vệ và tiếp tục tiến lên. Những khó khăn phức tạp đó
có thể phát triển thành nguy cơ đe doạ đến thành quả của cách mạng. Thách
thức có cả thách thức bên trong, từ tình hình kinh tế - xã hội, chính trị của đất

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, thời cơ là xu thế hoà bình, ổn định,
hợp tác để phát triển trở thành xu thế cơ bản. Đây là xu thế khách quan,
không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất kỳ quốc gia dân tộc nào.
Chính trong xu thế hoà bình, hợp tác để phát triển, hướng vào làm ăn kinh tế
mà hầu hết các quốc gia dân tộc trên thế giới, kể cả một số nước thù địch với
1

ĐCSVN Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr 67 - 68.


11

Việt Nam đã có những phản ứng thuận lợi, tích cực đối với đường lối đổi
mới, hội nhập của nước ta.
Từ môi trường quốc tế đặt ra vấn đề cần phải đổi mới tư duy, cần phải
nhận thức rõ cả thời cơ và thách thức, khắc phục lối tư duy mang nặng tính
giáo điều, bảo thủ, máy móc, thể hiện ở việc kéo dài mô hình cũ về chủ nghĩa
xã hội. Chúng ta đã tranh thủ được môi trường hoà bình, ổn định, xu thế hợp
tác để phát triển trên thế giới, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, để thực hiện
công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Đồng thời xu thế mới của quốc tế đã tạo điều kiện
thuận lợi cho chúng ta thực hiện thắng lợi chính sách đối ngoại độc lập, tự
chủ, mở rông, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, trên tinh thần
Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng
đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Hiện nay chúng ta
đã quan hệ ngoại giao với hơn 190 nước, quan hệ thương mại với hơn 170
nước và vùng lãnh thổ, ký hiệp định thương mại với hơn 60 nước, trong đó có
hiệp định thương mại Việt - Mỹ. Những thắng lợi cơ bản đó, đã thể hiện xu
thế hoà bình, ổn định để phát triển, là điều kiện thuận lợi cho chúng ta trong
quá trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, đòi hỏi chúng ta phải nắm bắt

càng được nâng cao. Hiện nay chúng ta tham gia vào thị trường khu vực và
thế giới với tư cách là một môi trương đầu tư thuận lợi, nhiều mặt hàng xuất
khẩu chủ lực có lợi thế trên trường quốc tế, chúng ta có nhiều tiềm năng về tài
nguyên, du lịch, về con người, về vị trí địa chính trị, và môi trường hoà bình
ổn định. Đây là cơ sở để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, tạo
tiền đề cho chúng ta tiếp cận tốt khoa học - công nghệ hiện đại, để phát triển
kinh tế - xã hội đất nước.
Thuận lợi cơ bản thứ ba là, quá trình toàn cầu hoá tạo ra những cơ hội
mới cho Việt Nam chủ động hội nhập và phát triển.
Quá trình toàn cầu hoá, đặc biệt là toàn cầu hoá kinh tế xâm nhập đến
tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới, nó đặt ra nhiều thách thức, song cũng


13

tạo những cơ hội mới cho các nước đang phát triển, trong đó có nước ta.
Thuận lợi trước hết đó là tạo điều kiện cơ hội cho ta thâm nhập vào thị trường
khu vực và thế giới. Hiện nay vấn đề thị trường xuất nhập khẩu là một trong
những vấn đề sống còn của bất cứ nền kinh tế nào. Đổi mới hội nhập là quá
trình đột phá, chiếm lĩnh thị trường thế giới. Trước trào lưu toàn cầu hoá, nền
kinh tế nước ta đã và đang khai thác thị trường quốc tế rộng lớn, đa dạng, nếu
trước đây, thời kỳ bao cấp, kim ngạch xuất khẩu nước ta có năm chỉ đạt 500
triệu USD, thì ngày nay là trên 30 tỷ USD, trong đó có hơn 16 tỷ USD xuất
khẩu. Nếu thực hiện đầy đủ những cam kết của AFTA vào năm 2006, thì
hàng hoá Việt Nam có thể xâm nhập tự do vào tất cả các nước ASEAN.
Chúng ta gia nhập WTO, chúng ta sẽ được hưởng quy chế MFN trong quan
hệ thương mại với 150 thành viên của WTO, và hàng hoá Việt Nam sẽ có mặt
tại các thị trường rộng lớn và đa dạng.
Toàn cầu hoá tạo ra cho chúng ta một cơ hội nữa là, thu hút được vốn
đầu tư nước ngoài. Để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá chúng ta cần

đó các nước đang phát triển, nhất là nước ta có thể thực hiện và rút ngắn quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Hơn nữa, quá trình mở cửa giao lưu cũng tạo điều kiện cho chúng ta
phát huy được nội lực. Nước ta với dân số hơn 80 triệu người, chúng ta có
nguồn nhân lực dồi dào, người Việt Nam thông minh, cần cù, sáng tạo; nhưng
nếu đứng ngoài toàn cầu hoá thì việc sử dụng nguồn nhân lực đó sẽ rất lãng
phí và không hiệu quả. Hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để khai thác, sử
dụng tốt nguồn nhân lực của đất nước. Thông qua hội nhập kinh tế, quá trình
phân công lao động mới và xã hội hoá lao động sẽ diễn ra nhanh chống, chắc
chắn chất lượng nguồn nhân lực nước ta sẽ được nâng cao. Mặt khác quá trình
chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển, tạo cơ hội cho sự chuyển đổi từ
lao động giản đơn sang lao động kỹ thuật máy móc ở nước ta diễn ra nhanh
chống. Tham gia vào nền kinh tế thế giới, các nhà quản lý, các nhà doanh


15

nghiệp Việt Nam có điều kiện tiếp cận vào các thị trường một cách bình đẳng,
và họ được làm quen với môi trường cạnh trang khắc nghiệt của cả thị trường
trong và ngoài nước, vì vậy bắt buộc phải đổi mới cách tổ chức sản xuất, đổi
mới công nghệ và trang thiết bị, tiếp thu những phương pháp quản lý tiên tiến,
mới không ngừng nâng cao được sức cạnh tranh của mình, tiến hành hội nhập
kinh tế thế giới và khu vực có hiệu quả.
Về thách thức, từ những năm 80 của thế kỷ XX cho đến nay, trước bối
cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, sự nghiệp cách mạng nước ta đang
đứng trước những thách thức rất lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
văn hoá, xã hội và quốc phòng an ninh. Những thách thức đó vừa mang tính
thời đại, vừa mang tính đa dạng phức tạp. Có những thách thức mang tính
nhất thời, song phần lớn là những thách thức lâu dài; có những thách thức đã
lộ diện, có thể dự đoán được, nhưng cũng có những thách thức còn tiềm ẩn

được nhiều, thậm chí có một số mặt khoảng cách chênh lệch còn lớn hơn.
Nguy cơ tụt hậu về kinh tế biểu hiện rõ rệt, khi sức cạnh tranh của Việt
Nam còn yếu, năm 2000 Việt Nam đứng thứ 53/59, và năm 2001 đứng thứ
62/69 những nước có hoạt động ngoại thương khá. Máy móc, trang thiết bị
khoa học, công nghệ thuộc tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế nước
ta còn ở trình độ thấp hơn các nước trung bình của thế giới từ 1 đến 3 thế hệ,
nên ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm; chính vì
năng suất lao động thấp, giá thành cao, nên việc tiếp cận, chiếm lĩnh thị
trường khu vực và thế giới của sản phẩm Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn,
nhiều mặt hàng phải chịu thua thiệt, không những trên thị trường quốc tế mà
còn phải chịu lép vế ngay ở thị trường trong nước. Việc gia nhập WTO là một
thuận lợi lớn, nhưng đồng thời là một thách thức đối với chúng ta. Khi gia
nhập WTO chúng ta phải chia sẽ thị trường trong nước với các đối tác nước


17

ngoài, kể cả các lĩnh vực mà lâu nay các nhà đầu tư trong nước chiếm lĩnh,
chúng ta phải giảm thuế nhập khẩu, sản xuất trong nước phải đương đầu với
việc không được nhà nước bảo trợ như trước đây. Các doanh nghiệp, trong đó
có cả doanh nghiệp nhà nước quản lý, khó tránh khỏi sự phá sản do hiểu biết
không đầy đủ về hội nhập quốc tế.
Cách mạng khoa học, công nghệ cùng với sự phát triển của kinh tế trí
thức tạo thời cơ và vận hội cho nước ta đi tắt đón đầu, để tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo con đường rút ngắn. Nhưng những vấn
đề đặt ra cho việc đi tắt đón đầu không hề đơn giản; trước hết là vấn đề yêu
cầu ngày càng cao đối với nguồn nhân lực, trong khi đó đối với nước ta, lao
động giản đơn là cơ bản, kỷ thuật tay nghề còn thấp, mức lương cơ bản chưa
cao tính ổn định nghề nghiệp còn nhiều phức tạp ... đó là những nhược điểm
cơ bản mà chúng ta chưa thể nhanh chống khắc phục được. Bên cạnh đó để

đặt ra vấn đề bảo đảm nền kinh tế độc lập tự chủ là một thách thức lớn. Thực
tế ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp trong nước bị mất thị trường trong
nước đã xảy ra; nhiều doanh nghiệp liên doanh vì nhiều lý do đã chuyển thành
công ty 100% vốn nước ngoài, nếu tình trạng này còn tiếp tục sẽ làm gia tăng
nguy cơ mất độc lập về kinh tế. Việc giữ vững nền kinh tế độc lập tự chủ còn
gặp nhiều khó khăn bởi còn nhiều yếu tố khác, như sức cạnh tranh yếu, phụ
thuộc vào vốn nước ngoài, khoa học kỹ thuật, công nghệ và chịu sức ép trong
ký kết các cam kết quốc tế. Do vậy chúng ta cần nhận thức rằng, việc đảm
bảo nền kinh tế độc lập tự chủ trong điều kiện toàn cầu hoá, là một việc làm
hết sức khó khăn, đòi hỏi chúng ta phải phát huy tốt nổ lực chủ quan mới
giành được thắng lợi.
Thứ hai, thách thức về chính trị, thách thức về chính trị là những thách
thức đối với sự ổn định chính trị của đất nước, đối với vai trò lãnh đạo của
Đảng, chính quyền nhà nước và đối với an ninh quốc gia. Đồng thời cũng là
thách thức lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, vì độc


19

lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong 4 nguy cơ mà hội nghị giữa nhiệm kỳ
BCHTW khoá VII nêu lên, trong đó có 3 nguy cơ thuộc lĩnh vực chính trị, 1
nguy cơ thuộc lĩnh vực kinh tế nhưng có ý nghĩa chính trị hết sức sâu sắc.
Những năm 90 của thế kỷ XX, trước sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa
ở Liên Xô và Đông Âu, chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, lợi dụng cơ hội
đó, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ ra sức chống phá các nước xã
hội chủ nghĩa còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng điểm, đây là thách thức
chính trị lớn nhất đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Những tác động đó còn ảnh hưởng đến tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và
khu vực của nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Mặt khác trong quá
trình hội nhập kinh tế thế giới, vì lợi ích của sự nghiệp xây dựng đất nước

thiệp vào công việc nội bộ của các nước, bất chấp cả luật pháp quốc tế, vì vậy
chúng ta phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đập tan mọi
âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, lợi dung kinh tế để thực hiện mục tiêu chính trị.
Tóm lại, thách thức về chính trị là thách thức rất lớn, nhưng việc đẩy
lùi nguy cơ, vượt qua thử thách cơ bản phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của
chúng ta. Ngày nay thế và lực của nước ta đã lớn mạnh hơn nhiều, cơ sở vật
chất kỷ thuật của nền kinh tế được tăng cường; đất nước còn nhiều tiềm năng
lớn về tài nguyên, lao động, nhân dân ta có phẩm chất truyền thống tốt đẹp;
tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định; Đảng ta có đường lối đổi mới đúng
đắn. Với những nhân tố chủ quan như vậy, chúng ta hoàn toàn có khả năng
tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua những thách thức, thực hiện thành công sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, thách thức về văn hoá: Đây cũng là một trong những thách
thức rất đáng kể. Thực tế cho thấy bất cứ các công ty xuyên quốc gia nào
muốn đầu tư vào nước khác, thì trước tiên họ phải tìm hiểu về văn hoá, phong
tục tập quán, ngôn ngữ, lịch sử địa lý, tín ngưỡng tôn giáo ... ở các quốc gia


21

mà họ đầu tư vào sản xuất. Quá trình toàn cầu hoá kéo theo sự lan tràn lối
sống văn hoá phương tây, là một thách thức lớn đối với nền văn hoá nước ta.
Cùng với toàn cầu hoá và sự hội nhập kinh tế thế giới, là toàn cầu hoá về văn
hoá, ngôn ngữ, lối sống và quan niệm giá trị, là đòn tấn công mạnh mẽ của
văn hoá phương tây đối với các dân tộc, các nước đang phát triển, chậm phát
triển. Sự rối loạn văn hoá tinh thần và sự rạn nứt quan niệm giá trị toàn cầu,
nổ ra cùng một lúc với hàng loạt các hiện tượng tội phạm xã hội, kết hợp với
sự tràn lan của các tà giáo và thế lực xã hội đen, là một thách thức đe doạ sự
ổn định an ninh, chính trị, xã hội ở nước ta hiện nay. Mặt khác, quá trình hội

nạn tham nhũng, nạn buôn lậu, nạn tà giáo, sự di dân bất hợp pháp, sự gia
tăng tội phạm có tổ chức, nạn khủng bố ...đó thực sự là những thách thức đối
với nền văn minh thế giới, cũng như là vấn đề xã hội còn nhấc nhối ở nước ta,
trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực hiện nay.
Như vậy, có thể nói rằng, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới
đang đặt ra hàng loạt vấn đề hết sức khó khăn cho tất cả các nước đang phát
triển, cũng như nước ta hiện nay. Đó chính là những vấn đề toàn cầu mà nhân
loại đang và sẽ đối mặt. Nhận thức đầy đủ các vấn đề này, và tìm ra lối thoát,
vượt qua thử thách là một đòi hỏi cấp thiết của cách mạng nước ta hiện nay.
Vì vậy toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, nêu cao tinh thần cách mạng tiến
công, vượt qua thử thách, thực hiện tốt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
2. Triển vọng của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế thế
giới, khu vực và những vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập hiện nay
2.1. Triển vọng của nước ta trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới
và khu vực hiện nay.
Trong thời gian tới, dưới tác động sâu rộng của quá trình toàn cầu hoá
và sự chuyển đổi nhanh chống của cách mạng khoa học - công nghệ, hơn thế
nữa, do có được những kinh nghiệm trong xây dựng đất nước, nhất là sau hơn


23

20 năm đổi mới, Việt Nam có những thuận lợi nhất định trong việc phát huy
nội lực, và tiếp thu những nhân tố thời đại, có triển vọng để phát triển. Mặc
dù đi vào công nghiệp hoá muộn hơn, nhưng nhờ “lợi thế của người đi sau”,
Việt Nam có điều kiện để học hỏi, đúc rút kinh nghiệm từ những thành công,
thất bại của các nước đi trước, đặc biệt ta đã có thể hiểu được những yếu tố
phù hợp, và những yếu tố không phù hợp của xu thế toàn cầu hoá, để chọn
phương thức phát triển một cách hợp lý. Những thành tựu mới về khoa học,

ngầm và công khai thực hiện “diễn biến hoà bình” chống lại chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam như Hoa Kỳ), song tất cả đều buộc phải tôn trọng sự lựa
chọn của Việt Nam khi tiến hành các quan hệ song phương hoặc đa phương.
Từ Hoa kỳ đến các nước thân Hoa Kỳ, từ các nước EU đến Nhật Bản, từ nước
Nga hâu Xô viết đến các nước thuộc SNG, tất cả đều hoặc là ủng hộ sự lựa
chọn của Việt Nam, hoặc là tôn trọng và coi sự lựa chọn đó là công việc nội
bộ của Việt Nam. Đây là nhân tố mới thể hiện chiến lược, sách lược đúng
đắn, khôn khéo của Đảng ta đối với sự phát triển đất nước. Trong những năm
tới, đương nhiên, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch cũng vẫn không
ngừng công khích Việt Nam, dùng các chiêu bài nhân quyền và tôn giáo để
tìm cách can thiệp vào chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tuy nhiên, trên
thực tế, những người có cảm tình với Việt Nam sẽ ngày một nhiều thêm, và
bản thân các chính phủ có tư tưởng chống đối Việt Nam sẽ buộc phải tôn
trọng Việt Nam hơn, đây là thuận lợi tạo triển vọng lớn cho chúng ta hội nhập
kinh tế thế giới trong thời gian tới.
Cần phải kể đến một lợi thế chính trị to lớn đối với sự phát triển đất
nước trong thời gian tới, là trải qua những năm tháng đấu tranh xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, nền chính trị của chúng ta đã trở thành một thế lực có ý
nghĩa: nhân dân ta gắn bó với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa, rất nhạy bén
với biến động chính trị, thái độ vừa nguyên tắc vừa mềm dẻo trong quan hệ
với các nước lớn và nhỏ, với bạn và với các đối tác khác. Trong quan hệ với


25

Hoa Kỳ, Trung Quốc, ASEAN, Nga ... Việt Nam đã tạo dựng được vị thế
chiến lược có lợi cho sự phát triển; các bên đối tác, kể cả các nước lớn không
thể giản đơn xử lý các quan hệ một cách vụ lợi. Từ những cơ sở trên, chúng ta
có thể dự báo rằng, trong thời gian tới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở Việt Nam tiếp tục được đẩy mạnh, tình trạng kém phát triển sẽ dần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status