BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
----------
PHẠM THI MINH NGUYỆT
HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN IN THÁI NGUYÊN TỪ NAY
ĐẾNNĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS . Đặng Vũ Tùng
Ngành: Quản trị kinh doanh
HÀ NỘI – 2011
Luận văn thạc sĩ
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đang bước vào thế kỷ 21, một thế kỷ đầy hứa hẹn những đổi
thay kỳ diệu của sự chuyển đổi từ nền kinh tế vật chất sang nền kinh tế tri
thức. Một số doanh nghiệp nước ta từng có ưu thế vững mạnh trên thị trường
song hiện đang giảm sút về chất lượng hàng hóa, khả năng cạnh tranh... Bên
cạnh đó, một số doanh nghiệp lại có những sự tăng trưởng và phát triển vươt
bậc do biết dựa trên các chính sách phát triển kinh tế của nhà nước, nắm bắt
cơ hội thị trường, biết phát huy những điểm mạnh của riêng mình, vượt qua
điểm yếu, biết tận dụng những thành tựu khoa học công nghệ thế giới hiện
đại... để hoạch định và triển khai công cụ kế hoạch hoá linh hoạt đối phó với
những thay đổi của môi trường kinh doanh, đó là chiến lược kinh doanh.
Ngành in phát sinh từ lâu đời, từ công việc in bán tự động, đơn giản đến thế
định chiến lược kinh doanh tại Công ty Cổ phần In Thái Nguyên từ nay đến
năm 2015 ”
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm xây dựng chiến lược kinh doanh mong muốn góp phần vào
sự tồn tại và phát triển của Công ty Cổ phần In Thái Nguyên
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn này tập trung nghiên cứu môi trường
kinh doanh thực trạng của công ty Cổ phần In Thái Nguyên trên cơ sở đó xây
dựng chiến lược kinh doanh công ty. Chiến lược kinh doanh mang tính định
hướng và vạch ra những phương án giúp cho việc xây dựng kế hoạch cụ thể
đạt được hiệu quả mong muốn.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu môi trường kinh doanh và
họat động kinh doanh của công ty trong các năm 2009, 2010.
4.Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp đánh giá
tình hình thực tế doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tác giả rút ra các yếu tố
môi trường và xác định cơ hội mục tiêu chiến lược trên cơ sở vận dụng lý
thuyết và cơ sở lý luận để đề ra chiến lược kinh doanh phù hợp.
Phạm Thị Minh Nguyệt
2
Ngành: QTKD
Luận văn thạc sĩ
5.Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 4 phần chính:
Từ lĩnh vực quân sự, chiến lược đã phát triển sang nhiều lĩnh vực khoa
học khác như: Chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường, công nghệ ….
Tuỳ theo cách tiếp cận mà có nhiều quan điểm khác nhau về chiến lược
kinh doanh.
Theo cách tiếp cận cạnh tranh:
- Quan điểm của Micheal Porter: “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật
xây dựng lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”.
- Quan điểm của K.Ohmae: “Mục đích của chiến lược là mang lại điều
kiện thuận lợi nhất cho một phía, đánh giá đúng thời điểm tấn công hay rút
lui, xác định danh giới của sự thoả hiệp”.
K. Ohmae còn nhấn mạnh: “Không có đối thủ cạnh tranh thì không có
chiến lược. Mục đích duy nhất của chiến lược là đảm bảo giành thắng lợi bền
vững đối với đối thủ cạnh tranh”
Phạm Thị Minh Nguyệt
4
Ngành: QTKD
Luận văn thạc sĩ
Theo cách tiếp cận chiến lược kinh doanh là một phạm trù khoa học quản lý:
- Quan điểm Alfred Chandler: “Chiến lược kinh doanh là việc xác định
các mục tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp lựa chọn các chính sách,
chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục
tiêu cơ bản đó”.
Theo cách tiếp cận kế hoạch hoá:
- Quan điểm của William J.Glueck: “Chiến lược kinh doanh là một kế
hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để
những lý giải khác nhau về những vấn đề cơ bản của chiến lược, dù vẫn là
việc tìm hiểu phân tích các điều kiện bên ngoài cũng như các nguồn lực bên
trong của doanh nghiệp nhờ việc phân tích này mà các mặt mạnh mặt yếu của
công ty sẽ được giải quyết để tranh thủ các cơ hội bên ngoài, doanh nghiệp sẽ
có những quyết định, hướng đi chính xác và đúng đắn hơn so với các đối thủ
cạnh tranh để từ đó tăng cường và củng cố và phát triển doanh nghiệp .
Từ các khái niệm trên, ta cho chúng ta thấy một số đặc trưng cơ bản của chiến
lược kinh doanh như sau:
- Hoạch định chiến lược là phác thảo khuôn khổ cho các hoạt động kinh
doanh dài hạn của doanh nghiệp trong tương lai dựa trên cơ sở các thông tin
thu thập được qua quá trình phân tích và dự báo. Do vậy, sự sai lệch giữa các
mục tiêu định hướng và khuôn khổ phác thảo chiến lược ban đầu với hình ảnh
kinh doanh đang diễn ra trong thực tế là chắc chắn sẽ có sự xem xét tính hợp
lý và điều chỉnh các mục tiêu ban đầu cho phù hợp với các biến động của môi
trường và điều kiện kinh doanh đã thay đổi phải là việc làm thường xuyên của
các doanh nghiệp trong quá trình tổ chức kinh doanh.
-
Chiến lược kinh doanh luôn luôn tập trung về ban lãnh đạo công ty
hoặc thậm chí về những người đứng đầu công ty để đưa ra quyết định những
vấn đề lớn, quan trọng đối với công ty. Chiến lược chung toàn công ty đề cập
tới những vấn đề như:
+ Các mục tiêu cơ bản của công ty là gì?
+ Công ty hiện đang tham gia những lĩnh vực kinh doanh nào?
+ Liệu có rút lui hoặc tham gia một ngành kinh doanh nào đó không ?
Chiến lược chung phải được ban lãnh đạo cao nhất của công ty thông qua.
- Chiến lược kinh doanh luôn luôn xây dựng trên cơ sở các lợi thế so
sánh với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Bởi vì kế hoạch hoá chiến
Phạm Thị Minh Nguyệt
kinh doanh.
Bên cạnh đó ,các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường thì có nghĩa
là phải chấp nhận những khó khăn thách thức của môi trường, những biến
động bất kỳ của nền kinh tế và sự cạnh tranh khốc liệt của quy luật kinh tế thị
Phạm Thị Minh Nguyệt
7
Ngành: QTKD
Luận văn thạc sĩ
trường. Mỗi doanh nghiệp để bắt đầu việc khởi sự kinh doanh của mình thì
phải có những nguồn lực nhất định, và để tồn tại doanh nghiệp cần phải có
chiến lược kinh doanh phù hợp với những nguồn lực của mình nhằm phát huy
các tiềm lực: như tiềm lực về tài chính, về vốn, về công nghệ lao động vv…
Hơn nữa, các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường để tồn tại và phát
triển phải thực hiện xây dựng và áp dụng các chiến lược kinh doanh để nâng
cao khả năng cạnh tranh, song cũng phải tuân theo quy luật cạnh tranh. Với
các doanh nghiệp cạnh tranh luôn là con dao hai lưỡi, một mặt nó đào thải các
doanh nghiệp không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường. Mặt khác nó
làm cho điều kiện cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng khó khăn và
khốc liệt hơn buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cố gắng nghiên cứu
thị trường xây dựng những chiến lược kinh doanh đáp ứng với sự biến động
của môi trường kinh doanh nhằm hoàn thiện hoạt động tổ chức sản xuất kinh
doanh của mình để tồn tại và phát triển. Đây là mục đích tự thân của doanh
nghiệp.
Một lý do khác các doanh nghiệp cần phải soạn thảo chiến lược kinh
doanh trong điều kiện hiện nay đó là nhu cầu tiêu dùng hàng hoá của con
người ngày càng cao, là rất đa dạng và phong phú. Song có xu thế là thích tiêu
- Chiến lược sáng tạo tấn công: Việc xây dựng chiến lược là tiếp cận
theo cách cơ bản là luôn luôn đặt câu hỏi là "tại sao" nhằm xem xét lại
những điều kiện sảy ra từ đó trả lời cho những câu hỏi này. Tổng hợp lại từ đó
có những khám phá sáng tạo mới dành ưu thế cho doanh nghiệp mình
- Chiến lược khai thác các khả năng tiềm tàng: Dựa trên các sự phân
tích có hệ thống thông tin nhằm khai thác các khả năng có thể của tất cả các
yếu tố ngoài yếu tố then chốt để hoạch định chiến lược tận dụng cơ hội kinh
doanh.
* Căn cứ vào cấp quản lý chiến lược :
- Chiến lược cấp công ty (corporate – level strategy): còn gọi là chiến
lược tổng thể bao trùm mọi hoạt động của công ty. Nó xác định và vạch rõ
mục tiêu, nục đích, các tiêu đích của công ty, xác định các hoạt động kinh
doanh mà công ty theo đuổi, Xác định ngành kinh doanh mà công ty đang
Phạm Thị Minh Nguyệt
9
Ngành: QTKD
Luận văn thạc sĩ
hoặc sẽ tiến hành, mỗi ngành kinh doanh đều cần phải xác định rõ là kinh
doanh như thế nào lĩnh vực hoạt động
- Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh (business – level strategy): dành
cho từng lĩnh vực hoạt động riêng biệt của doanh nghiệp. Mỗi lĩnh vực như
thế được gọi là SBU hoặc đơn vị kinh doanh chiến lược. Chiến lược cấp đơn
vị kinh doanh là một bộ phận của chiến lược cấp công ty xác định rõ việc lựa
chọn sản phẩm hoặc định dạng cụ thể thị trường cho hoạt động kinh doanh
riêng trong nội bộ công ty nó xác định xem một công ty sẽ cạnh tranh như thế
nhiệm vụ mục tiêu
Phân tích và lựa
chọn chiến lược
Thực hiện
Kiểm tra
Phân tích môi trường
Xác định chức năng,
nhiệm vụ mục tiêu
Phân tích và lựa
chọn chiến lược
Thực hiện
Kiểm tra
Phân tích môi trường
Xác định chức năng,
nhiệm vụ mục tiêu
Phân tích và lựa
chọn chiến lược
Thực hiện
Kiểm tra
Hình 1.1. Các cấp quản lý chiến lược
Phạm Thị Minh Nguyệt
11
Ngành: QTKD
doanh nghiệp phải luôn so sánh giữa mục tiêu đặt ra với kết quả đạt được ở
từng khoảng thời gian, đánh giá xem tại sao và bằng cách nào có thể thực hiện
được các mục tiêu đã đề ra. Tuỳ theo quy mô cũng như lĩnh vực hoạt động
quản trị cụ thể mà hoạt động kiểm tra có nội dung cũng như đòi hỏi phải sử
dụng các tiêu chuẩn, phương pháp và công cụ thích hợp. Vì chiến lược kinh
doanh luôn phải đối đầu với môi trường rất năng động, thay đổi nhanh chóng
và khắc nghiệt nên kiểm tra đánh giá chiến lược luôn được coi là có tầm quan
trọng lớn.
* Các yêu cầu đối với kiểm tra, đánh giá trong quản trị chiến lược.
- Hoạt động kiểm tra phải phù hợp với đối tượng kiểm tra và phải phù
hợp với mọi giai đoạn quản trị chiến lược.
- Hoạt động kiểm tra phải đảm bảo tính linh hoạt: doanh nghiệp cần biết
kết hợp trong kế hoạch kiểm tra của mình cả hai hình thức kiểm tra định kỳ và
kiểm tra bất thường. Nếu môi trường kinh doanh thay đổi thì kiểm tra bất
thường là rất cần thiết để doanh nghiệp có thể thay đổi kịp thời các mục tiêu
hoặc giải pháp để để các mục tiêu đặt ra có tính khả thi hơn và có thể đạt
được.
- Kiểm tra phải đảm bảo tính lường trước. Để đảm bảo hệ thống kiểm tra
lường trước hoạt động có hiệu quả cần đáp ứng những yêu cầu sau:
+ Thực hiện phát triển toàn bộ và kỹ càng về hệ thống hình thành
chiến lược, hệ thống xây dựng chiến lược cũng như hệ thống
kiểm tra.
Phạm Thị Minh Nguyệt
14
Ngành: QTKD
Luận văn thạc sĩ
Ngành: QTKD
Luận văn thạc sĩ
- Quá trình đánh giá thực hiện chiến lược theo tiêu chuẩn đã xây dựng: Quá
trình kiểm tra đánh giá chiến lược rất cần thiết cho toàn bộ quá trình hoạch
định và triển khai thực hiện chiến lược. Nó phải tuân thủ theo một quy trình
nhất định đảm bảo tính khoa học bao gồm những nội dung chính như: đánh
giá chiến lược; đánh giá các kế hoạch triển khai chiến lược và điều chỉnh
chiến lược.
- Đảm bảo cơ sở thông tin để kiểm tra đánh giá chiến lược: Quá trình quản trị
chiến lược sẽ được tạo điều kiện dễ dàng hơn nhiều khi doanh nghiệp thiết lập
được hệ thống thông tin chính xác và hiệu quả. Để có được những thông tin
cần thiết, doanh nghiệp phải biết sử dụng những thông tin sẵn có như số liệu
thống kê hàng năm, số liệu công bố ở các cơ quan nghiên cứu, khai thác
nguồn tin ngoài nước và tổ chức nghiên cứu, thu lượm những thông tin cần
thiết khác. Bên trong doanh nghiệp phải thiết kế hệ thống thu thập và xử lý,
bảo quản thông tin khoa học, hiện đại.
1.3. QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TRONG
CÔNG TY
Hoạch định chiến lược là phác thảo khung khổ cho các hoạt động kinh doanh
dài hạn của doanh nghiệp trong tương lai dựa trên cơ sở các thông tin thu thập
được qua các quá trình phân tích và dự báo. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm
và cách thức khác nhau về các bước hoạch định một chiến lược kinh doanh
trong một doanh nghiệp. Mỗi quy trình có cách thức tiến hành tiến hành khác
nhau nhưng nội dung về cơ bản là đồng nhất nhau.
Tuy nhiên những quy trình này không phải là đã thực sự hoàn hảo mà
ta cần phải nghiên cứu hoàn thiện hơn. Quy trình tám bước đã được tổng kết
từ kinh nghiệm của các công ty kinh doanh Nhật Bản và được khái quát theo
án chiến lược thích nghi
Đánh giá và thực hiện phương án
chiến lược kinh doanh
Hình 1.2. Quy trình hoạch định chiến lược kinh doanh trong công ty
1.3.1: Xác định nhiệm vụ chiến lược và mục tiêu của doanh nghiệp
Xác định nhiệm vụ chiến lược và hệ thống mục tiêu là bước đầu tiên
của tiến trình quản trị chiến lược làm nền tảng cho việc soạn thảo xây dựng
chiến lược kinh doanh. Để có thể xác lập được nhiệm vụ chiến lược và các
Phạm Thị Minh Nguyệt
17
Ngành: QTKD
Luận văn thạc sĩ
mục tiêu cụ thể cần theo đuổi, doanh nghiệp có thể vận dụng nghiên cứu
theo nguyên tắc 3C ( cụ thể là Phân tích doanh nghiệp; Nghiên cứu khách
hàng và Tìm hiểu đối thủ cạnh tranh ) nhằm thiết lập các phát biểu chức
năng nhiệm vụ, tuyên bố các chính sách và chiến lược kinh doanh trong quá
trình hoạt động và giao dịch của công ty. Nhiệm vụ chiến lược của công ty
cần phải được triển khai và phác hoạ thành một loạt những mục tiêu cụ thể.
Mục tiêu là những thành quả hoặc kết quả mà chủ doanh nghiệp muốn đạt
được trong tương lai cho doanh nghiệp mình, hay mục tiêu tức là những kết
quả kỳ vọng của doanh nghiệp.
1.3.2: Phân tích và dự báo về môi trường kinh doanh
Các tác động của môi trường ảnh hưởng đến rất lớn tới hoạt động sản
Môi trường ngành
Yếu tố
kinh tế
Đối thủ cạnh tranh
Yếu
tố xã
hội và
tự
nhiên
Sản phẩm
thay thế
Yếu tố
Chính
phủ và
chính
trị
Yếu tố nội bộ DN
Nhà cung cấp
- Nguồn nhân lực
- Nghiên cứu và phát triển
- Tài chính - kế toán
- Marketing
- Văn hóa doanh nghiệp
Khách hàng
nghiệp định hường và có ảnh hưởng đến các môi trường tác nghiệp và môi
trường nội bộ và tạo ra cơ hội và nguy cơ của doanh nghiệp.
a. Yếu tố kinh tế :
Trong môi trường kinh doanh các yếu tố về mặt kinh tế dù ở bất kỳ một
cấp độ nào cũng có vai trò quan trọng và quyết định hàng đầu. Nó là một yếu
tố vô cùng quan trọng bởi nó tác động trực tiếp và năng động hơn so với một
số yếu tố khác. Sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và các quốc
gia nói riêng có khuynh hướng làm dịu bớt các tác động chính trị trong lĩnh
vực kinh doanh của doanh nghiệp vì nó làm tăng nhu cầu tiêu dùng của dân
chúng. Ngược lại, sự khủng hoảng kinh tế làm giảm nhu cầu tiêu dùng, tạo ra
sự cạnh tranh về giá cả trong các ngành kinh doanh. Các yếu tố phản ánh như:
Mức phát triển kinh tế; Dân số ; Tổng sản phẩm quốc dân; Bình quân thu
nhập tính theo đầu người; Hạ tầng cơ sở xã hội; Nguồn tài nguyên thiên
nhiên; Khí hậu; Sự gia tăng khối kinh tế trong vùng ; Chính sách tài chính tiền
tệ; Tính chất cạnh tranh; Tỷ giá hối đoái; Hệ thống thuế; Lãi xuất ngân hàng;
Mức lương tiền công;
Phạm Thị Minh Nguyệt
20
Ngành: QTKD
Luận văn thạc sĩ
Hệ thống kinh tế thế giới hiện nay đang vận động theo những xu hướng
chính:
- Khu vực hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Sự phát triển mang
tính bùng nổ của khoa học công nghệ trên toàn cầu. Nền kinh tế thế giới
chuyển từ trạng thái lưỡng cực sang trạng thái đa cực với sự hình thành nhiều
Luận văn thạc sĩ
việc xác định chiến lược phát triển kinh doanh cho doanh nghiệp là hết sức
quan trọng, doanh nghiệp cần đẩy mạnh sản xuất hay hạn chế sản phẩm hàng
hoá dịch vụ gì, có thể đầu tư phát triển sản phẩm, có cơ hội kinh doanh và
tăng cường hiệu quả và phát huy tối đa nguồn lực doanh nghiệp.
- Lãi suất cho vay của ngân hàng cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến
chính sách hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là
những doanh nghiệp thiếu vốn phải vay ngân hàng. Nếu tỷ lệ lãi suất cao thì
chi phí của các doanh nghiệp tăng lên do trả lãi tiền vay lớn làm cho mức lời
của doanh nghiệp sẽ giảm đi từ đó làm ảnh hưởng tới việc soạn thảo các
chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn trong
những điều kiện thay đổi của môi trường và làm giảm tính cạnh tranh của
doanh nghiệp, nhất là trong trường hợp các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực về
vốn. Đồng thời khi lãi suất cao sẽ khuyến khích người dân sẽ gửi tiết kiệm
nhiều và hạn chế tiêu dùng, dẫn đến làm giảm khả năng tiêu thụ hàng hoá
của các doanh nghiệp nói chung.
- Xu hướng của tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền quốc gia nói
chung và từng doanh nghiệp nói riêng nhất là trong điều kiện kinh tế mở như
hiện nay có tác động trực tiếp tới việc hoạch định chiến lược kinh doanh
nhất là trong khâu tiêu thụ sản phẩm và thu mua nguyên vật liệu. Nếu đồng
nội tệ lên giá thì các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trở ngại khi thực
hiện các chiến lược kinh doanh ở thị trường nước ngoài vì khi đó giá bán của
sản phẩm hàng hoá tính bằng ngoại tệ sẽ cao hơn đối thủ nước ngoài. Đồng
thời trong nước lúc này lại khuyến khích nhập khẩu vì giá hàng hoá nhập
khẩu giảm và như vâỵ các sản phẩm trong nước so với hàng nhập khẩu sẽ
gặp bất lợi ngay ở thị trường trong nước. Ngược lại khi đồng nội tệ giảm khả
năng thực hiện các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp sẽ gặp nhiều
thuận lợi trong cả thị trường trong nước và ngoài nước.
Phạm Thị Minh Nguyệt
các yếu tố khác của môi trường kinh doanh. Quan điểm, đường lối chính trị,
hoạt động của các cơ quan nhà nước có thể tạo ra thời cơ hoặc cản trở đối với
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi quốc gia có chủ quyền đều có
luật lệ kinh doanh và có lập trường kinh tế của riêng mình. Do đó, hoạt động
Phạm Thị Minh Nguyệt
23
Ngành: QTKD
Luận văn thạc sĩ
của các công ty nước ngoài có thể bị ràng buộc và ngay cả quan hệ kinh
doanh của doanh nghiệp trong nước đối với các đối tác nước ngoài cũng bị
ảnh hưởng bởi các mặt: Truyền thống, pháp luật; hiệu lực của pháp luật, các
hiệp ước ký với nước ngoài... Mặt khác, với xu hướng hội nhập và liên kết
quốc tế, sự ra đời của các hiệp định, cam kết, các khối kinh tế... làm không
gian kinh tế thế giới bị chia sẻ theo quốc gia, theo khu vực. Các doanh nghiệp
chỉ có thể hoạt động sản xuất kinh doanh trong những khu vực mà quốc gia
mình có các hiệp định thông thương.
c. Các yếu tố văn hoá - xã hội
Văn hoá ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo hai
hướng: ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng buộc các công ty phải
thích nghi; ảnh hưởng đến hành vi của các nhà kinh doanh, các nhà chính trị,
nhà chuyên môn... Những yếu tố xã hội như dân số, quan điểm tiêu dùng,
cách sống, văn hoá ảnh hưởng tới việc soạn thảo và thực thi các chiến lược
kinh doanh:
- Quan điểm tiêu dùng hàng hoá dịch vụ của dân cư các vùng, các địa
phương, các dân tộc, và quan điểm tiêu dùng của giới tính, điều kiện xã hội,