BỘ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------------
LÊ THỊ HỒNG VÂN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn Khoa học: TS. Nguyễn Đại Thắng
Hà Nội - Năm 2012
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu viết tắt
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... ..Trang 1
1.
Tính cấp thiết của Đề tài ........................................................................... Trang 1
2.
Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước ......................................... .Trang 27
Chương 2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT
CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH ................................................. .. Trang 32
2.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH .................. ..Trang 32
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN QUA
KHO BẠC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH ................................. .Trang 36
2.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN của KBNN Quảng Ninh ....... .Trang 36
2.2.2. Cơ chế quản lý tài chính của các đơn vị sử dụng NSNN ............... .Trang 39
2.2.3. Thực trạng chi NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ................ .Trang 41
2.3. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI NSNN QUA
KBNN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH ........................................ .Trang 44
2.3.1. Phân tích thực trạng tổ chức kiểm soát chi NSNN qua KBNN
tỉnh Quảng Ninh ......................................................................................... .Trang 44
2.3.2. Phân tích thực trạng kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua
Kho bạc Nhà nước trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh ............................... .Trang 51
2.3.3. Phân tích thực trạng kiểm soát thanh toán chi đầu tư qua
KBNN trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh ..................................................... .Trang 60
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC
TRÊN ĐỊA BÀNTỈNH QUẢNG NINH. ........................................................ .Trang 73
3.1. CÁC QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT
CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC ............ .Trang 73
3.1.1. Những quan điểm cơ bản ................................................................. Trang 73
3.1.2. Những định hướng chung ................................................................. Trang 74
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG
TS. Nguyễn Đại Thắng
TS. Trần Văn Lâm
PGS, TS. Lê Văn Hưng
Các Thầy, Cô giáo Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Cùng các đồng chí, đồng nghiệp và các bạn bè đã giúp Tác giả hoàn
thành bản Luận văn này.
LÊ THỊ HỒNG VÂN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản Luận văn là công trình nghiên cứu
khoa học độc lập của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong bản
Luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ THỊ HỒNG VÂN
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm soát chặt chẽ các khoản chi Ngân sách Nhà nước (NSNN) luôn là
mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước và của các cấp, các ngành, góp phần
quan trọng trong việc giám sát sự phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính một
cách đúng mục đích, có hiệu quả; đồng thời là một biện pháp hữu hiệu để thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí. Từ năm 2004, thực hiện Luật NSNN (sửa đổi),
công tác quản lý, kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã có
những chuyển biến tích cực; công tác lập, duyệt, phân bổ dự toán được chú
tích tổng hợp, thống kê so sánh, điều tra phân tích và phương pháp chuyên gia.
5. Những đóng góp của Luận văn
Qua nghiên cứu lý luận chung và thực trạng công tác kiểm soát chi NSNN
qua KBNN trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 - 2010. Luận văn chỉ
ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế; trên cơ sở đó để
đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN
qua KBNN trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới.
6. Kết cấu Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về kiểm soát chi NSNN qua KBNN.
Chương 2 : Phân tích thực trạng công tác kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc
Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN
qua kho bạc Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
2
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái niệm về Ngân sách Nhà nước
Ngân sách nhà nước (NSNN) là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử.
Sự hình thành và phát triển của ngân sách Nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và
phát triển của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất do
Nhà nước trực tiếp quản lý. Nói cách khác, sự ra đời và phát triển của Nhà nước
cùng với sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự ra
đời, tồn tại và phát triển của Ngân sách Nhà nước.
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước”,
thể và được định lượng. Các nguồn thu đều được nộp vào một quỹ tiền tệ tập trung
của Nhà nước; các khoản chi đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ tập trung ấy.
Các khoản thu chi của NSNN đều phản ánh những mối quan hệ kinh tế nhất
định giữa Nhà nước với các chủ thể hoạt động trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế xã hội, bao gồm:
- Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với dân cư.
- Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các tổ chức tài chính, tín dụng và các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế;
- Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội.
- Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các Quốc gia và các tổ chức quốc tế.
Từ sự phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm về NSNN (theo Luật NSNN
đã được Quốc hội thông qua ngày 16/12//2002) như sau:
NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
1.1.2. Hệ thống Ngân sách Nhà nước
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp Ngân sách có quan hệ mật thiết với
nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của mỗi cấp.
4
Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và Luật NSNN, hệ thống ngân
sách Nhà nước Việt Nam được thiết lập dựa trên hai nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là, nguyên tắc thống nhất và tập trung dân chủ.
Nước ta là một quốc gia thống nhất, quyền lực nhà nước là thống nhất, do
đó chỉ có một NSNN thống nhất do Quốc hội phê chuẩn dự toán và quyết toán
ngân sách. Chính phủ chịu trách nhiệm thống nhất quản lý và điều hành NSNN.
Bộ máy Nhà nước của ta được quản lý và điều hành dựa trên nguyên tắc tập
trung dân chủ. Ngân sách là công cụ của Nhà nước, vì vậy hệ thống NSNN cũng
được xây dựng theo nguyên tắc đó. Ở các cấp chính quyền địa phương, Hội
NS BỘ, CƠ QUAN
NGANG BỘ
NS QUẬN, HUYỆN, THỊ XÃ,
TP TRỤC THUỘC TỈNH,
THÀNH PHỐ
NS CƠ QUAN TRỰC
THUỘC CÁC BỘ NGÀNH
Ở VIỆT NAM
NS XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
NSĐP là tên chung để chỉ ngân sách của các cấp chính quyền địa phương phù
hợp với địa giới hành chính các cấp. Ngân sách xã, phường, thị trấn vừa là một cấp
ngân sách, vừa là một bộ phận cấu thành của ngân sách huyện và quận. Ngân sách
huyện, quận vừa là một cấp ngân sách, vừa là một bộ phận cấu thành của ngân sách
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Ngân sách địa phương cung ứng nguồn tài chính để thực hiện các nhiệm vụ
của chính quyền nhà nước ở địa phương và hỗ trợ chuyển giao nguồn tài chính cho
chính quyền cấp dưới.
6
quyết toán ngân sách Nhà nước; Hội đồng nhân dân các cấp được chủ động quyết định
dự toán ngân sách của cấp mình, quyết đinh phân bổ dự toán ngân sách cho cấp dưới.
1.1.3.3. Nội dung phân cấp quản lý NSNN
a. Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong việc
ban hành các chính sách, chế độ thu chi, chế độ quản lý NSNN.
Đây là một trong những nội dung chủ yếu của phân cấp quản lý NSNN.
Qua phân cấp phải xác định rõ quyền hạn của mỗi cấp trong việc ban hành chính
sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức, phạm vi, mức độ quản lý ngân sách.
b. Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nhiệm vụ
thu, chi và cân đối NSNN.
Để giải quyết mối quan hệ này, cần phải xác định rõ nhiệm vụ kinh tế,
chính trị của mỗi cấp chính quyền, khả năng tạo ra nguồn thu trên từng địa bàn
mà chính quyền đó quản lý, đồng thời nghiên cứu, sử dụng các biện pháp điều
hoà thích hợp cho từng cấp ngân sách.
c. Giải quyết mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách.
Phân cấp ngân sách là phải xác định trách nhiệm và quyền hạn của các
cấp chính quyền trong việc lập, chấp hành và quyết toán ngân sách, mức vay nợ
trong dân, các khoản phụ thu bổ sung cho ngân sách cấp dưới; thời hạn lập, xét
duyệt báo cáo NSNN ra Hội đồng nhân dân và gửi lên cấp trên sao cho vừa nâng
cao trách nhiệm của chính quyền trung ương, vừa phát huy tính năng động, sáng
tạo của chính quyền cơ sở.
1.1.3.4. Nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN
a. Phân cấp ngân sách phải được tiến hành đồng bộ với phân cấp kinh tế
và tổ chức bộ máy hành chính.
8
Tuân thủ nguyên tắc này tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết mối
Ngân sách Nhà nước có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối với toàn
bộ các hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, đối nội, đối ngoại của một
quốc gia. Vai trò của ngân sách Nhà nước bao giờ cũng gắn bó mật thiết với
chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Ở Việt Nam, trong suốt thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung
và bao cấp, hoạt động của NSNN chủ yếu gắn bó với khu vực kinh tế Nhà
nước và các nhu cầu chi tiêu cho bộ máy nhà nước, tăng cường lực lượng
quốc phòng, an ninh. Bước sang thời kỳ đổi mới theo cơ chế thị trường, hoạt
động của NSNN đã có nhiều thay đổi căn bản. Cơ chế tạo lập và phân phối
các nguồn tài chính theo kiểu giao nộp và bao cấp đã được xóa bỏ; Nhà nước
đã đề cao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và
các cộng đồng dân cư trong việc thực hiện các nghĩa vụ của mình cũng như
việc quản lý và sử dụng các nguồn tài chính đã được Nhà nước cấp phát.
Thông qua các ngành chức năng, Nhà nước theo dõi chặt chẽ diễn biến của
nền kinh tế xã hội, thực hiện vai trò quản lý và điều hành nền kinh tế tài chính
ở tầm vĩ mô dựa trên cơ sở sử dụng các công cụ ngân sách, tiền tệ - tín dụng
và các đòn bẩy kinh tế khác. Trách nhiệm, quyền lợi của Nhà nước và các chủ
thể kinh tế ngày càng được phân định rõ ràng, gắn bó mật thiết với nhau;
NSNN tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh tế hoạt động; các chủ
thể kinh tế quan tâm hoàn thành các nghĩa vụ đối với NSNN.
Vai trò quan trọng của ngân sách Nhà nước được thể hiện như sau:
1.1.4.1. Ngân sách Nhà nước là công cụ chủ yếu phân bổ các nguồn lực
tài chính, đảm cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, ổn định và bền vững
Ngân sách Nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước, đóng
vai trò chủ đạo đối với sự phát triển của nền kinh tế. Toàn bộ các khoản thu của
Nhà nước, bao gồm các khoản thu trong nước và ngoài nước đều được tập trung
vào quỹ Ngân sách Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
10
1.1.4.2. Ngân sách Nhà nước là công cụ tăng cường tiềm lực tài chính
quốc gia, góp phần ổn định tiền tệ, giá cả và kiềm chế lạm phát.
Tiềm lực tài chính của một quốc gia được tạo ra bằng các nguồn nội lực
và ngoại lực, trong đó các nguồn nội lực là chủ yếu. Hoạt động của Ngân sách
Nhà nước là sự kết hợp gắn bó hữu cơ của hai quá trình thu và chi ngân sách.
Thu ngân sách là để đáp ứng các nhu cầu chi ngân sách. Mặt khác, chi ngân sách
là điều kiện để tạo ra các nguồn thu lâu dài cho ngân sách. Quy mô hoạt động
thu chi ngân sách ngày càng lớn và tăng nhanh là minh chứng cho sự phát triển
nhanh chóng và mạnh mẽ của nền kinh tế. Tuy nhiên, khi đánh giá tiềm lực kinh
tế - tài chính của một quốc gia, những tiêu chí quan trọng nhất thường được sử
dụng là tổng sản phẩm quốc nội - GDP; tổng thu ngân sách Nhà nước; tổng dự
trữ ngoại hối; cán cân thanh toán quốc tế; tổng nợ quốc gia …
Đối với một nền kinh tế phát triển, khối lượng hàng hóa sản xuất lớn, chất
lượng cao, có sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường thế giới, nguồn thu về
xuất khẩu hàng hóa lớn dẫn đến thu ngân sách và dự tữ ngoại tệ lớn; cán cân
thanh toán quốc tế thường xuyên được cân bằng và bội thu, đây chính là niềm
mơ ước của các quốc gia. Khi nguồn thu ngân sách đã dồi dào, mọi nhu cầu về
đầu tư sẽ được đáp ứng một cách đầy đủ; nền kinh tế phát triển đồng bộ, các
quan hệ cân đối lớn của nền kinh tế thường xuyên được giữ vững, là điều kiện
hết sức cơ bản và quan trọng để bảo đảm cho sự phát triển ổn định của thị trường
hàng hóa - tiền tệ; có khả năng kiềm chế và ngăn chặn được nguy cơ lạm phát.
Thực tế cho thấy giữa hoạt động thu chi ngân sách và lạm phát luôn có
mối liên quan chặt chẽ với nhau. Đối với một nền kinh tế kém phát triển, nguồn
thu ngân sách hạn hẹp, Nhà nước thường xuyên phải đối mặt với tình trạng bội
chi ngân sách…. Nguồn bù đắp bội chi ngân sách chỉ trông chờ vào các khoản
vay nợ và phát hành tiền để chi tiêu, đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫn
đến lạm phát. Hậu quả của nó là tăng thêm gánh nặng nợ nần và đồng tiền
ngày càng mất giá.
12
Trước hết, chính sách thu ngân sách phải bảo đảm thực hiện đồng thời hai
mục tiêu: một là, khuyến khích đẩy mạnh sản xuất kinh doanh; hai là, điều
chỉnh hợp lý thu nhập của người lao động. Vì vậy, chính sách thuế, quan trọng
nhất là mức thuế và thuế suất, phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, theo đó cần ưu
tiên, khuyến khích hay hạn chế, thu hẹp những ngành hàng nào; đối tượng nào.
Công cụ chủ yếu và trực tiếp để thực hiện những mục tiêu nói trên chính
là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Đây là các sắc thuế trực
thu, có tác động và ảnh hưởng trực tiếp thu nhập của doanh nghiệp và của người
lao động. Bên cạnh đó, để điều chỉnh thu nhập của người tiêu dùng, đặc biệt là
những người có thu nhập cao và kết hợp giải quyết những vấn đề xã hội, Nhà
nước còn sử dụng các sắc thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ
đặc biệt để góp phần công bằng hóa giữa các đối tượng giàu nghèo trong cộng
đồng dân cư. Bên cạnh các chính sách thuế, Nhà nước còn sử dụng công cụ ngân
sách để giúp đỡ và hỗ trợ cho các đối tượng được ưu tiên như: thương bệnh
binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, trẻ mồ côi, người già yếu
không nơi nương tựa.
Như đã đề cập ở trên, Ngân sách Nhà nước là công cụ chủ yếu phân bổ
các nguồn lực tài chính, đảm cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, ổn
định và bền vững. Cùng với việc tăng nhanh khối lượng vốn cấp phát cho các
chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ cũng rất quan tâm các
khoản chi cho sự nghiệp phát triển văn hóa giáo dục, chăm sóc y tế, thể dục thể
thao. Đặc biệt, căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế, mức tăng thu nhập quốc
dân, sự biến động của tình hình tài chính, tiền tệ, giá cả, đời sống sinh hoạt của
người lao động, Nhà nước thường xuyên quan tâm chính sách tiền lương, điều
chỉnh lương và tăng lương, bảo đảm cuộc sống ổn định cho người lao động.
Tóm lại, ngân sách nhà nước có vai trò to lớn và tác động trực tiếp đến
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đời sống của người lao
động. Việc tổ chức điều hành hoạt động ngân sách một cách đúng đắn, khoa
quốc tế còn có sự chênh lệch khá lớn về tiềm lực kinh tế, đặc biệt là mức độ giàu
15
nghèo, song xét trên phương diện quan hệ quốc tế, các quốc gia đều phải tôn
trọng các nguyên tắc cơ bản, đó là sự bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền,
các bên cùng có lợi.
Vai trò quan trọng của Ngân sách Nhà nước đối với các quan hệ quốc tế
thể hiện ở chỗ: Mọi khoản thu chi tài chính phát sinh trong quan hệ quốc tế đều
có liên quan trực tiếp đến hoạt động của Ngân sách Nhà nước, đặc biệt là những
khoản thu chi về đầu tư trực tiếp và gián tiếp; các khoản viện trợ và tiếp nhận
viện trợ; các khoản đi vay và cho vay do Nhà nước quản lý. Mọi khoản thu của
Ngân sách Nhà nước từ nước ngoài, dưới mọi hình thức, đều phải được quản lý
chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả, riêng đối với các khoản vay nợ phải hoàn trả
đúng thời hạn. Các khoản chi của NSNN ra nước ngoài phải được tính toán kỹ
lưỡng trên cơ sở đáp ứng các mục tiêu nhiệm vụ quốc tế của Nhà nước trước
mắt và lâu dài.
Tóm lại, để mở rộng và phát triển các quan hệ đối ngoại trên cơ sở tôn
trọng các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế, Nhà nước cần phải củng cố
và tăng cường tiềm lực tài chính. Khi nguồn thu Ngân sách Nhà nước dồi dào;
tiềm lực vốn và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước không
ngừng tăng lên, đó là những điều kiện cơ bản, cần thiết để chúng ta mở rộng
quan hệ đối ngoại và đẩy nhanh quá trình hợp tác bình đẳng với cộng đồng quốc tế.
1.2. KIỂM SOÁT CHI NSNN QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.2.1. Tổng quan về Kho bạc Nhà nước
Theo qui định tại quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26 tháng 8 năm
2009 của Thủ tướng Chính phủ, Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài
chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà
nước về quỹ Ngân sách Nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác
của Nhà nước được giao quản lý; quản lý ngân quỹ; tổng kế toán nhà nước; thực
giao quản lý, các khoản vay nợ, viện trợ, trả nợ của Chính phủ và chính quyền
địa phương theo quy định của pháp luật; báo cáo tình hình thực hiện thu, chi
17
NSNN cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan nhà nước liên quan theo quy
định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
- Tổ chức thực hiện công tác thống kê Kho bạc Nhà nước và chế độ báo
cáo tài chính theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức quản lý, điều hành ngân quỹ Kho bạc Nhà nước tập trung,
thống nhất trong toàn hệ thống.
- Tổ chức huy động vốn cho NSNN và đầu tư phát triển thông qua việc
phát hành trái phiếu Chính phủ.
- Tổ chức quản trị và vận hành hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho
bạc Nhà nước.
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý theo thẩm quyền
hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với
hành vi vi phạm pháp luật trong phạm vi quản lý nhà nước của Kho bạc Nhà
nước; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
trong việc sử dụng tài sản, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế thuộc lĩnh vực KBNN theo phân công,
phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật.
- Thực hiện công tác tổ chức và cán bộ. Quản lý kinh phí do NSNN cấp và tài
sản được giao theo quy định của pháp luật; được sử dụng các khoản thu phát sinh
trong hoạt động nghiệp vụ theo chế độ quản lý tài chính của Nhà nước.
- Hiện đại hoá hoạt động Kho bạc Nhà nước. Thực hiện cải cách hành
chính theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính được Bộ
trưởng Bộ Tài chính phê duyệt.
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính
mối quan tâm lớn hiện nay của các cấp từ Quốc hội, Chính phủ, đến các bộ,
ngành và các địa phương. Kiểm soát chặt chẽ các khoản chi NSNN có ý nghĩa
quan trọng trong việc tập trung nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội;
thực hành tiết kiệm, chống các hiện tượng tiêu cực, chi tiêu lãng phí; góp phần
19