Một số giải pháp về quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại cục thuế tỉnh nam định - Pdf 39

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-------------------------

NGUYỄN VĂN TRUNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
TẠI CỤC THUẾ TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-------------------------

NGUYỄN VĂN TRUNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
TẠI CỤC THUẾ TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ BÍCH NGỌC

HÀ NỘI - 2013


:
:
:
:
:
:

Giá trị gia tăng
Thu nhập doanh nghiệp
Tiêu thụ đặc biệt
Tài sản cố định
Sản xuất kinh doanh
Ngân sách nhà nước

KT-XH
TNHH
DNTN
HTX
ISO

:
:
:
:
:

Kinh tế - xã hội
Trách nhiệm hữu hạn
Doanh nghiệp tư nhân

Bảng 2.19: Các ứng dụng tin học đã triển khai nhằm phục vụ công tác quản lý
thuế ........................................................................................................................ 65


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Trang

MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1 
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH ..................................................................... 5 
1.1. Một số vấn đề cơ bản về thuế........................................................................... 5 
1.1.1. Khái niệm về thuế ......................................................................................... 5 
1.1.2. Bản chất, chức năng của thuế........................................................................ 6 
1.1.3. Hệ thống thuế, phân loại thuế và các yếu tố cấu thành một sắc thuế............ 8 
1.1.4. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường.............................................. 11 
1.2. Quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh .................................. 14 
1.2.1. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nền kinh tế thị trường ................... 14 
1.2.2. Các sắc thuế đối với các doanh nghiệp ....................................................... 19 
1.3. Nội dung quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh ................... 25 
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm về quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc
doanh ..................................................................................................................... 25 
1.3.2. Tổ chức bộ máy quản lý thuế...................................................................... 27 
1.3.3. Nội dung quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh ................ 29 
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI

ĐỊNH ............................................................................................. 75 
3.1. Các quan điểm cơ bản trong việc tăng cường công tác quản lý thuế nhằm
tăng thu NSNN trên địa bàn tỉnh Nam Định......................................................... 75 
3.1.1. Việc áp dụng các biện pháp nâng cao công tác quản lý thuế phải đảm bảo
đúng Luật Quản lý thuế......................................................................................... 75 
3.1.2. Đảm bảo SXKD phát triển, đảm bảo nguồn thu cho NSNN ...................... 75 
3.1.3. Đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế....................................... 76 
3.1.4. Nâng cao hiệu quả quản lý thuế .................................................................. 76 
3.2. Định hướng, mục tiêu của Cục thuế Nam Định về quản lý thu NSNN giai
đoạn 2011-2015..................................................................................................... 77 
3.2.1. Quan điểm phát triển KT-XH của tỉnh Nam Định...................................... 77 
3.2.2. Mục tiêu phát triển KT-XH của tỉnh Nam Định đến năm 2015 ................. 77 
3.2.3. Mục tiêu của Cục thuế Nam Định về quản lý thu ngân sách nhà nước giai
đoạn 2011-2015..................................................................................................... 78 


3.3. Các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Nam Định. .................................................... 78 
3.3.1. Tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thuế, phát triển nguồn
nhân lực đảm bảo thực hiện tốt quản lý thuế doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo
cơ chế tự khai, tự nộp:........................................................................................... 79 
3.3.2. Tăng cường công tác kê khai và kế toán thuế ............................................. 81 
3.3.3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền hỗ trợ, nâng cao nhận thức của các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh ...................................................................................... 85 
3.3.4. Nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm tra thuế............. 87 
3.3.5. Tăng cường công tác quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế đối với các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh............................................................................ 88 
3.3.6. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, hạ tầng kỹ thuật tiên tiến nhằm
nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế. ............................................................. 90 
3.3.7. Một số giải pháp khác ................................................................................. 92 

được nâng lên kết quả thu ngân sách nhà nước năm sau luôn cao hơn năm trước.
Tuy nhiên, theo đánh giá chung thì công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh cũng còn bộc lộ một số tồn tại, đó là: Tình trạng
nộp thuế chưa phản ánh đúng quy mô SXKD của doanh nghiệp, còn nhiều doanh
nghiệp sử dụng hóa đơn bất hợp pháp nhằm mục đích trốn thuế, chiếm đoạt tiền
thuế của Nhà nước; việc bố trí sắp xếp lực lượng cán bộ công chức làm công tác
thanh tra kiểm tra còn ít do vậy chưa phát hiện được nhiều trường hợp vi phạm pháp
luật về thuế để ngăn chặn xử lý kịp thời; công tác tuyên truyền hướng dẫn chính
sách pháp luật thuế cho người nộp thuế có lúc còn chưa kịp thời; còn tồn tại một bộ
phận công chức thuế chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc quản lý thuế theo
hướng hiện đại hóa ngành thuế.
Hiện nay xu thế hội nhập kinh tế trong khu vực và thế giới tiến tới toàn cầu
hoá là tất yếu khách quan. Theo đó hội nhập quốc tế về thuế ngày càng rộng và sâu
nhằm khuyến khích đầu tư, tự do hoá thương mại trên toàn thế giới. Ngoài việc phải
xây dựng hệ thống chính sách thuế tương thích thì quản lý thuế phải được cải cách


2
và hiện đại hoá theo các chuẩn mực quản lý thuế quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận
lợi để thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và khuyến khích doanh
nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi đồng nhất về thuế
để phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Mặt khác, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nam Định khóa XVIII đã
đề ra một nhiệm vụ chính trị to lớn cho ngành thuế tỉnh Nam Định, đó là thu ngân
sách nhà nước đến năm 2015 đạt từ 2.200 - 2.300 tỷ đồng, gấp 2 lần năm 2010 trong
điều kiện kinh tế trên địa bàn phát triển còn chậm, chưa có nguồn thu lớn và ổn
định. Như vậy vấn đề đặt ra đối với ngành thuế Nam Định là phải tăng cường quản
lý thuế để tăng thu cho Ngân sánh nhà nước.
Những yếu tố nêu trên đặt ra một yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả
quản lý thuế nói chung, và hiệu quả quản lý thuế đối với khu vực doanh nghiệp

thuế giá trị gia tăng và thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh trên địa bàn tỉnh Nam Định. (Không bao gồm thuế giá trị gia tăng hàng nhập
khẩu)
- Về không gian: Tỉnh Nam Định.
- Về thời gian: Sử dụng các số liệu thống kê trong phạm vi 5 năm, từ năm
2008-2012 và đề ra các giải pháp cho giai đoạn 2013-2015.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Khung lý thuyết sử dụng để phân tích thực tiễn: Tổng hợp một số lý thuyết
chung về thuế, Luật Quản lý thuế; quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc
doanh.
- Các dữ liệu cần thu thập: Số doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động trên
địa bàn; tổng thu NSNN trên địa bàn; tình hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh kê
khai, nộp thuế; số thuế GTGT đã hoàn; số liệu về công tác tuyên truyền hỗ trợ; số
doanh nghiệp ngoài quốc doanh được thanh tra, kiểm tra; số thuế phát hiện sau
thanh tra kiểm tra; số liệu về nợ đọng thuế; số cán bộ công chức thuế của Cục thuế
Nam Định; cán bộ công chức thuế làm công tác thanh tra kiểm tra, tuyên truyền hỗ
trợ và các công tác khác.
- Phương pháp thu thập thông tin: Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
được thu thập từ các nguồn tài liệu, báo cáo của Cục thuế Nam Định; Niên giám
thống kê tỉnh Nam Định; các tài liệu thông tin đã được công bố trên các giáo trình,
báo, tạp chí.
- Sử dụng phương pháp thống kê để hệ thống hóa và tổng hợp số liệu theo
các tiêu thức phù hợp với mục đích nghiên cứu; phương pháp so sánh để đánh giá
sự tương quan số liệu giữa các năm; phương pháp đánh giá để rút ra những ưu
nhược điểm và nguyên nhân của công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh trên địa bàn tỉnh Nam Định.


4
5. Dự kiến đóng góp của Luận văn

người công dân của Nhà nước đó là thuế…”.
Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Trong
cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho
rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn
nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về
hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”.
Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn “Kinh
tế học” của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy như sau: “Thuế là một khoản
chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của
các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không
nhận được một cách trực tiếp hàng hoá hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không
phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”.
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze, trong cuốn “ Tài chính công” đã đưa ra
một định nghĩa tương đối cổ điển nhất: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có
tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà
nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước”.
Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: Thuế là một hình thức
phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình
thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho
việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Trên góc độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà
mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo Luật định để


6
đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước.
Trên góc độ kinh tế học, thuế được xem xét như là một biện pháp đặc biệt,
theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ
khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của Nhà

7
chuyển giao tiền từ người này sang người kia: Trong khi tất cả những khoản chuyển
giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc”.
Đặc điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ,
được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc động
viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt buộc
dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của Nhà nước, theo đó một bộ
phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm
theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế.
(2) Tính không hoàn trả trực tiếp: Tính chất không hoàn trả trực tiếp của
thuế được thể hiện ở chỗ thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua
các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả
trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực
tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế. Sau khi nộp thuế, Nhà nước
cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Như vậy, người nộp
thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế hoặc không có quyền đòi hỏi
được thừa hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế mà họ phải trả.
(3) Tính pháp lý cao: Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao.
Điều này được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước. Nhà nước là một
tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính
sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội. Vì vậy, để bắt buộc các công dân
“tự nguyện” nộp thuế thì Nhà nước phải sử dụng đến quyền lực của mình, quyền
lực ấy được thể hiện bằng luật pháp. Nhà kinh tế học Joseph E.Stiglitz nói rằng:
“Việc chuyển giao bắt buộc này giống như là ăn trộm, chỉ có một điểm khác chủ
yếu là trong khi cả hai chuyển đều là không tự nguyện, thì cách chuyển qua Chính
phủ có mang tấm áo choàng hợp pháp và sự tôn trọng do quá trình chính trị ban
cho”.
1.1.2.2. Chức năng của thuế
Chức năng của một sự vật hay một đối tượng nào đó là sự thể hiện công
dụng vốn có của nó. Đối với một phạm trù kinh tế chức năng phản ánh bản chất sự

nộp thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định.
1.1.3.2. Phân loại thuế
Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống pháp luật
thuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau. Ðể định hướng xây dựng và quản lý hệ
thống thuế, việc sắp xếp các Luật thuế có cùng tính chất thành những nhóm khác
nhau, gọi là phân loại thuế.
Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp luật thuế
thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định. Tuỳ thuộc vào mục
tiêu, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mà cơ cấu và nội dung
các Luật thuế có khác nhau. Cũng tuỳ thuộc vào cơ sở, mục đích phân định, thông
thường thuế được phân loại theo các tiêu thức sau:
- Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào Ngân sách nhà


9
nước, thuế được phân làm 2 loại: thuế gián thu và thuế trực thu.
+ Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần
thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đối
với người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. Tính chất gián thu thể hiện ở chỗ
người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau. Thuế gián thu là một
bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất,
kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế. Ở
nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,
thuế TTĐB...
+ Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của
các pháp nhân hoặc thể nhân. Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theo
quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế. Thuế trực thu trực tiếp động
viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế. Ở nước ta thuộc loại thuế này gồm:
thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất...
Sự phân loại thuế thành thuế gián thu và thuế trực thu có ý nghĩa quan trọng

Do cơ sở thuế là thu nhập, hàng hoá hay tài sản, do đó đối tượng chịu thuế
cũng có thể là thu nhập, giá trị hàng hoá hoặc giá trị của tài sản. Mỗi một luật thuế
có một đối tượng chịu thuế riêng. Đối tượng chịu thuế có thể được tính trên một đơn
vị, trên một đơn vị vật lý hoặc một đơn vị giá trị.
- Mức thuế phải nộp trên một đơn vị đối tượng chịu thuế (Thuế suất):
Mức thuế thể hiện mức độ động viên của Nhà nước trên một đơn vị của đối
tượng chịu thuế. Trong ngôn ngữ luật thuế người ta gọi mức thuế phải nộp là thuế
suất hay định suất.
Trong một luật thuế, thuế suất hay định suất là linh hồn của sắc thuế, mang
trong mình nó gánh nặng của thuế, thể hiện nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính
và biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế - xã hội của Nhà nước, đồng thời cũng là
mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế. Vì vậy, việc xác định thuế suất trong
một luật thuế phải quán triệt quan điểm vừa coi trọng lợi ích chung của quốc gia
vừa phải chú ý thích đáng đến lợi ích của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ
giữa tập trung và tích tụ trong việc sử dụng công cụ thuế.
Thuế suất (t) được xác định dựa trên hai yếu tố: tổng số thuế cần huy động
cho Nhà nước (T) và cơ sở thuế (C):
t = T/C
Tổng số thuế cần huy động phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
trong từng thời kỳ, mức thu nhập và mức tích luỹ đạt được trong nền kinh tế quốc
dân.
- Cơ sở thuế là một bộ phận của đối tượng tính thuế được xác định làm căn
cứ tính thuế. Cơ sở thuế thường thấp hơn đối tượng tính thuế, bởi vì tồn tại mức
tối thiểu không phải nộp thuế, miễn giảm thuế. Một cơ sở thuế sau khi tính và nộp
một loại thuế tương ứng có thể trở thành cơ sở của một loại thuế khác.


11
- Miễn giảm thuế là yếu tố ngoại lệ được quy định trong một số sắc thuế.
Thực chất đó là số tiền thuế mà người nộp thuế phải nộp cho Nhà nước, song vì

T?ng thu NSNN

2008
430.549

2009
442.340

2010
559.170

2011
629.550

2012
805.500

S? thu thu? n?i d?a

329.679

330.156

423.570

530.230

690.350

(Nguồn: Tổng cục thuế )

hợp với chiến lược phát triển kinh tế trong từng thời kỳ. Do vậy, bằng các sắc thuế
khác nhau áp dụng đối với từng ngành, từng lĩnh vực khác nhau. Nhà nước điều
chỉnh quy mô đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực khác nhau.
Thực hiện cân đối hàng - tiền, cân đối cung cầu ở tầm vĩ mô, hình thành cơ
cấu kinh tế hợp lý giữa các ngành, các vùng lãnh thổ giữa trung ương và địa phương
đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng tích lũy trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đây
là điều kiện quan trọng ổn định để thúc đẩy tốc độ phát triển của nền kinh tế.


13
Thông qua pháp luật thuế Nhà nước xác định đúng đắn cơ cấu và quan hệ
giữa các sắc thuế, quy định chính xác, hợp lý đối tượng nộp thuế, chế độ miễn giảm,
phương pháp quản lý thuế để đảm bảo việc thu đúng, thu đủ đồng thời khuyến khích
những hoạt động SXKD cần thiết cho xã hội, khuyến khích những thành phần kinh
tế cần thiết, các doanh nghiệp SXKD có hiệu quả. Đồng thời hạn chế, thu hẹp
những ngành nghề, những mặt hàng cần thiết phải hạn chế kể từ sản xuất đến tiêu
dùng xã hội theo định hướng của chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Nhà
nước: “khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế
cạnh tranh và chống độc quyền không thể áp dụng một cơ chế tài chính đồng nhất
cho các doanh nghiệp Nhà nước trong giai đoạn chuyển đổi hiện nay (giữa các
doanh nghiệp kinh doanh theo cơ chế thị trường và các doanh nghiệp phục vụ các
lợi ích công cộng) để điều tiết kinh tế - xã hội. Mặt khác để chống độc quyền cần
thiết phải có Luật về mặt tài chính cần phải sử dụng công cụ thuế”
Thuế góp phần khuyến khích việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi
trường sinh thái đồng thời khuyến khích việc khai thác, sử dụng một cách tiết kiệm
có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, vật tư trong nước.
Bằng các quy định phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, thuế
không những khuyến khích được hoạt động xuất khẩu hàng hoá nội địa, từ đó thúc
đẩy sản xuất phát triển đồng thời thuế đã tạo điều kiện tốt cho quan hệ hợp tác quốc
tế trong khu vực và quốc tế. Mở rộng, phát triển đầu tư hợp tác quốc tế thông qua

1.2.1.1. Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Theo Luật doanh nghiệp năm 2005 thì:“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh
là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lời”.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là loại hình doanh nghiệp ngoài Nhà nước,
trong đó các cá nhân hoặc nhóm cá nhân làm chủ doanh nghiệp và được tổ chức
dưới các hình thức pháp lý khác nhau như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã.
1.2.1.2. Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Theo số liệu thống kê, tính đến hết năm 2012 Việt Nam có khoảng 470.000
doanh nghiệp ngoài quốc doanh đăng ký theo Luật doanh nghiệp. Khu vực doanh
nghiệp ngoài quốc doanh đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững của các
nền kinh tế nói chung và của Việt Nam nói riêng. Đặc biệt là đối với Việt Nam đang
trên con đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Vai trò của các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh thể hiện qua các mặt sau đây:
(1) Đóng góp vào kết quả hoạt động của nền kinh tế, tăng thu cho NSNN:


15
Cũng như khu vực DNNN, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nước
ta đã cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu cho sản xuất và
tiêu dùng trong nước. Ngoài ra, doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn cung cấp hầu
hết sản phẩm trong nhiều ngành công nghiệp truyền thống thu hút nhiều lao động
như giầy dép, chiếu cói,... Như vậy các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã góp phần
không nhỏ vào kết quả hoạt động của nền kinh tế, tăng thu cho NSNN.
(2) Tạo ra việc làm, thu nhập cho phần lớn người lao động, góp phần giảm tỷ
lệ thất nghiệp, xoá đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội:

(4) Đóng góp quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước:
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
tất cả các khía cạnh như. vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế. Trước
hết là sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng nhờ sự phát triển thông qua các ngành công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng
được phân bố đều hơn về lãnh thổ ở cả vùng nông thôn, thành thị, miền núi, đồng
bằng. Bên cạnh đó sự gia tăng mạnh mẽ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
còn có tác dụng làm cho cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi, sự phát triển của các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn kéo theo sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế
thông qua sự đa dạng hoá các ngành nghề, duy trì, phát triển các làng nghề truyền
thống.
(5) Góp phần tăng cường và phát triển các mối quan hệ kinh tế:
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hình thành và phát triển trong các ngành
nghề khác nhau luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau và có mối liên kết với
DNNN. Nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới thành lập chỉ nhằm mục đích
cung cấp sản phẩm cho DNNN. Vì vậy, khi khu vực doanh nghiệp ngoài quốc
doanh phát triển sẽ góp phần tăng cường các mối quan hệ liên kết hỗ trợ khu vực
DNNN nhờ đó rủi ro kinh doanh sẽ được chia sẻ và góp phần tăng hiệu quả của nền
kinh tế xã hội, đồng thời cùng với DNNN tạo ra các mối liên kết hiệu quả trong
tổng thể các chuỗi giá trị và chuỗi giá trị toàn cầu.
1.2.1.3. Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
(1) Đặc điểm chung:
Phần lớn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có quy mô SXKD nhỏ, hoạt
động chủ yếu trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ sử dụng nhiều lao động, doanh
nghiệp ngoài quốc doanh có những đặc điểm khác biệt so với DNNN trong quá
trình hình thành và phát triển.
- Về hoạt động SXKD: Hầu hết các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ cần
một lượng vốn ít, số lao động không nhiều, diện tích mặt bằng nhỏ với các điều kiện
làm việc đơn giản đã có thể bắt đầu hoạt động SXKD. Nguồn vốn kinh doanh chủ

doanh nghiệp đều tìm mọi cách để tránh thuế, trốn thuế để đem lại lợi ích cho doanh
nghiệp.
(2) Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Nam
Định:
- Về ngành nghề kinh doanh: Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh SXKD ở
nhiều lĩnh vực như sản xuất, xây dựng, chế biến, dịch vụ, thương mại, du lịch, vận
tải, cơ khí, đồng thời hoạt động kinh doanh nhiều ngành nghề như kết hợp kinh
doanh thương mại và dịch vụ, sản xuất và dịch vụ, kinh doanh đa ngành nghề, lĩnh
vực...



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status