Nghiên cứu thực trạng và ứng dụng đấu thầu điện tử tại việt nam trong lĩnh vực mua sắm chính phủ - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------

NGHIÊM NGỌC DŨNG

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ỨNG DỤNG ĐẤU THẦU ĐIỆN TỬ
TẠI VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC MUA SẮM CHÍNH PHỦ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hà Nội – 2013


TRANG PHỤ BÌA
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------

NGHIÊM NGỌC DŨNG

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ỨNG DỤNG ĐẤU THẦU ĐIỆN TỬ
TẠI VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC MUA SẮM CHÍNH PHỦ

Chuyên ngành : Quản trị Kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THỦY BÌNH


Công nghệ thông tin

CĐT

Chủ đầu tư

CSDL

Cơ sở dữ liệu

e-GP

Mua sắm công qua mạng

HSMST

Hồ sơ mời sơ tuyển

KH&ĐT

Kế hoạch và Đầu tư

KHĐT

Kế hoạch đấu thầu

TBMT

Thông báo mời thầu


Bảng số 2: Lợi ích các bên tham gia thực hiện mua sắm chính phủ điện tử …...

42

Bảng số 3: So sánh hình thức đăng tải thông tin trong đấu thầu………..........

51

Bảng số 4: So sánh quy trình đấu thầu truyền thống và đấu thầu điện tử……

57

4


DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ số 1: Phân kỳ dự án …………………………………………..…...

29

Sơ đồ số 2: Chu kỳ dự án………..………… ..………… ..………………

33

Sơ đồ số 3: Quy trình đăng ký tham gia hệ thống…………………………

99

Sơ đồ số 4: Quy trình đấu thầu rộng rãi và hạn chế qua mạng…………….


Sơ đồ số 12: Quy trình thương thảo, hoàn thiện hợp đồng ………………..

108

Sơ đồ số 13: Các chức năng của hệ thống đấu thầu điện tử ………………

72

Sơ đồ số 14: Sơ đồ tìm kiếm hàng hóa dịch vụ trên hệ thống đấu thầu
điện tử ……………………………………………………………………..

74

Sơ đồ số 15: Quy trình mua hàng theo hợp đồng lựa chọn nhiều nhà cung
cấp (MAS) ………………………………………………………………...
Sơ đồ số 16 Quy trình mua sắm hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng MAS ...

109
76

Sơ đồ số 17 Quy trình tổng quát của hợp phần phần Quản lý hợp đồng và
Thanh toán qua mạng …………………………...

80

Sơ đồ số 18 Quy trình ký hợp đồng xây lắp/tư vấn ……………………….

81


DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ ...................................................................................... 5
PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 7
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU VÀ ỨNG DỤNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG LĨNH VỰC MUA SẮM CHÍNH PHỦ TẠI
VIỆT NAM ........................................................................................................... 11
1.1 Khái niệm về hoạt động mua sắm, đấu thầu, và thương mại điện tử........... 11
1.2 Đặc điểm, phân loại và tác động của TMĐT đến Chính phủ điện tử .......... 13
1.3 Đặc điểm, mục tiêu, vai trò và tầm quan trọng của công tác đấu thầu ........ 20
1.4 Hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu của Việt Nam .............................. 35
1.5 Khả năng ứng dụng của đấu thầu điện tử trong lĩnh vực mua sắm chính phủ
tại Việt Nam .................................................................................................... 39
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG ĐẤU THẦU ĐIỆN TỬ TRONG
LĨNH VỰC MUA SẮM CHÍNH PHỦ TẠI VIỆT NAM ................................... 45
2.1 Thực trạng Hệ thống đấu thầu điện tử Việt Nam ....................................... 45
2.2 Phân tích quy trình đấu thầu điện tử hiện nay ............................................ 49
2.3 Một số đánh giá về việc ứng dụng đấu thầu điện tử tại Việt Nam .............. 58
CHƯƠNG III MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỂ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG ĐẤU
THẦU ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM ..................................................................... 73
3.1 Đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp lý .......................................................... 73
3.2 Đề xuất hoàn thiện hệ thống đấu thầu điện tử ............................................ 76
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 95

6


PHẦN MỞ ĐẦU
 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, Thương mại điện tử (TMĐT) đang dần trở thành một khái niệm
quen thuộc đối với các doanh nghiệp và người dân. Các doanh nghiệp ngày càng

Quyết định số 1073/QĐ-TTg ngày 12/7/2010 đã xác định việc ứng dụng TMĐT trong
việc mua sắm chính phủ là một trong những mục tiêu quan trọng của ứng dụng TMĐT.
Hơn nữa, Nghị định 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước
để xây dựng một chính phủ điện tử, tinh giản, gọn nhẹ, minh bạch, tăng tính hiệu lực và
hiệu quả đã được ban hành.
Việc ứng dụng thương mại điện tử trong mua sắm chính phủ với hình thức
đấu thầu qua mạng sẽ cung cấp một dịch vụ công quan trọng trong hệ thống chính
phủ điện tử.
Với đề tài “Nghiên cứu thực trạng và ứng dụng Đấu thầu điện tử tại Việt
Nam trong lĩnh vực mua sắm chính phủ” tôi hy vọng sẽ tổng quan được những nội
dung cơ bản về một phương thức triển khai mới trong lĩnh vực mua sắm chính phủ
hiện nay.
 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu thực trạng và ứng dụng thương mại điện tử trong mua sắm chính
phủ bằng hình thức đấu thầu điện tử, đánh giá sơ bộ kết quả triển khai thí điểm tại
một số đơn vị, từ đó đề xuất phương án triển khai trong thời gian tới phù hợp với
tình hình thực tế tại Việt Nam.
 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết, các văn bản quy phạm
pháp luật hiện hành và kết quả triển khai thí điểm hệ thống đấu thầu điện tử tại Việt
Nam trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012. Từ các số liệu, thông tin thu thập
được, nghiên cứu sẽ tập trung phân tích và đánh giá việc ứng dụng hệ thống đấu
thầu điện tử theo các nội dung cơ bản sau:
(1) Việc ứng dụng CNTT trong mua sắm chính phủ trước khi hệ thống đấu
thầu điện tử được đưa vào sử dụng.
(2) Kết quả đạt được trong quá trình ứng dụng đấu thầu điện tử tại Việt Nam
từ thời điểm bắt đầu áp dụng hệ thống (năm 2009) đến năm 2012.
8





- Chương II: Thực trạng ứng dụng đấu thầu thầu điện tử trong lĩnh vực mua
sắm chính phủ tại Việt Nam.
- Chương III: Một số đề xuất để hoàn thiện hệ thống đấu thầu điện tử tại Việt
Nam.

10


CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU VÀ ỨNG DỤNG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG LĨNH VỰC MUA SẮM CHÍNH PHỦ
TẠI VIỆT NAM

1.1 Khái niệm về hoạt động mua sắm, đấu thầu, và thương mại điện tử
1.1.1 Khái niệm chung về mua sắm
Mua sắm là các hoạt động mua hàng hóa, dịch vụ dưới các hình thức trực tiếp
hoặc gián tiếp. Các chứng chỉ xác nhận các hoạt động mua sắm có thể là hóa
đơn, hợp đồng mua sắm. Có các dạng hoạt động mua sắm chính sau:
- Mua sắm cá nhân: chủ thể bên mua là cá nhân.
- Mua sắm tổ chức: chủ thể của bên mua là một tổ chức như: chính phủ của
một quốc gia, cơ quan, doanh nghiệp…
1.1.2 Khái niệm Thương mại điện tử
Thương mại điện tử được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, như “Thương
mại điện tử” (Electronic commerce), “Thương mại trực tuyến” (online trade),
“Thương mại không giấy tờ” (paperless commerce) hoặc “kinh doanh điện tử” (ebusiness). Tuy nhiên, “Thương mại điện tử” vẫn là tên gọi phổ biến nhất và được
dùng thống nhất trong các văn bản hay công trình nghiên cứu của các tổ chức hay
các nhà nghiên cứu. TMĐT bắt đầu bằng việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông
qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, các doanh nghiệp tiến tới ứng

tổ chức quốc tế và các quốc gia khác nhau trên thế giới. Nhìn chung, các khái niệm
này đều thống nhất với khái niệm của Việt Nam.
Thuật ngữ “Đấu thầu” đã xuất hiện trong xã hội từ xa xưa. Theo Từ điển
tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1998) thì đấu thầu được giải thích là
việc “Đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho
làm hoặc được bán hàng (một phương thức giao làm công trình hoặc mua hàng)”.
Như vậy bản chất của việc đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như là một sự ganh
đua (cạnh tranh) để được thực hiện một công việc, một yêu cầu nào đó.
Trên thực tế đã tồn tại một số thuật ngữ về đấu thầu trong các văn bản pháp
quy khác nhau. Tuy nhiên, bản chất của thuật ngữ về đấu thầu dù dưới dạng Quy

12


chế hay Luật cũng đều sử dụng một thuật ngữ có xuất xứ từ tiếng Anh là
“Procurement” (nghĩa là mua sắm). Như vậy, tuy gọi là Luật Đấu thầu nhưng bản
chất là Luật Mua sắm (Law on Procurement).
Hiện nay, đấu thầu được hiểu là “Quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các
yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án theo quy định của
Luật Đấu thầu trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu
quả kinh tế” (Luật Đấu thầu Điều 4 khoản 2).
Kết quả của sự lựa chọn là hợp đồng được ký kết với các điều khoản quy
định chi tiết trách nhiệm của hai bên. Một bên là nhà thầu phải thực hiện các nhiệm
vụ như nêu trong HSMT (có thể là dịch vụ tư vấn, cung cấp hàng hoá hoặc xây lắp
một công trình...), một bên là CĐT (là cơ quan chủ sở hữu vốn hoặc dùng vốn nhà
nước để thực hiện dự án) có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, nghiệm thu và thanh
toán tiền. Như vậy, thực chất của quá trình đấu thầu ở Việt Nam đối với các dự án
sử dụng vốn nhà nước là một quá trình mua sắm - chi tiêu, sử dụng vốn của Nhà
nước.
Đấu thầu điện tử hay còn gọi là đấu thầu qua mạng, là quá trình sử dụng hệ

tính được sử dụng trong giao dịch thương mại điện tử này. Ví dụ: đàm phán, ký kết
hợp đồng qua YM & thư điện tử.
- Máy fax: Có thể thay thế dịch vụ đưa thư và gửi công văn truyền thống.
Tuy nhiên hạn chế của máy fax là chỉ truyền được văn bản viết, không truyền tải
được âm thanh, hình ảnh động, hình ảnh ba chiều. Fax qua Internet là một dịch vụ
mới được ứng dụng khá rộng rãi để giảm chi phí trong giao dịch điện tử. Thiết bị
điện tử cũng không giới hạn ở máy fax truyền thống mà mở rộng ra máy vi tính và
các thiết bị điện tử khác sử dụng các phần mềm cho phép gửi và nhận văn bản fax.
Hoạt động này cũng làm mở rộng khái niệm thương mại điện tử và những quy định
về văn bản gốc, bằng chứng, văn bản do bản gốc của fax trước đây là văn bản giấy,
bản gốc của fax qua máy vi tính có thể là văn bản điện tử. Ví dụ: sử dụng winfax
gửi văn bản word từ máy vi tính đến máy fax của đối tác.
- Truyền hình: ngày nay, truyền hình trở thành một trong những công cụ
điện tử phổ thông nhất. Truyền hình đóng vai trò quan trọng trong thương mại, nhất
là trong quảng cáo hàng hóa. Song truyền hình mới chỉ là một công cụ truyền thông

14


một chiều, qua truyền hình, khách hàng không thể tìm kiếm được các chào hàng,
không thể đàm phán với người bán về các điều khoản mua bán cụ thể. Gần đây, khi
máy thu hình được kết nối với máy tính thì công dụng của nó được mở rộng hơn.
Việc giao dịch và đàm phán bằng “video conference” thực hiện qua Internet trở nên
quan trọng và đẩy mạnh thương mại điện tử khi tiết kiệm được thời gian và chi phí
của các bên mà vẫn có hiệu quả như đàm phán giao dịch trực tiếp truyền thống. Ví
dụ: e-learning sử dụng video-conference và net-meeting
- Máy tính và mạng Internet: thương mại điện tử chỉ thực sự có vị trí quan
trọng khi có sự bùng nổ của máy tính và internet vào những năm 90 của thế kỷ 20.
Máy tính và Internet giúp doanh nghiệp tiến hành giao dịch mua bán, hợp tác trong
sản xuất, cung cấp dịch vụ, quản lý các hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp, liên

mà mình mong muốn. Sau khi đã chọn được cuốn sách cần mua thì người đọc phải
ra quầy thu ngân để thanh toán mua cuốn sách đó. Hiên nay, với sự ra đời của
TMĐT thì chỉ cần có một chiếc mày tính và mạng internet, thông qua vài thao tác
kích chuột, người đọc không cần biết mặt của người bán hàng thì họ vẫn có thể mua
một cuốn sách mình mong muốn trên các website mua bán trực tuyến như
amazon.com; vinabook.com.vn.
- Phạm vi hoạt động: trên khắp toàn cầu hay thị trường trong thương mại
điện tử là thị trường phi biên giới. Điều này thể hiện ở chỗ mọi người ở tất cả các
quốc gia trên khắp toàn cầu không phải di chuyển tới bất kì địa điểm nào mà vẫn có
thể tham gia vào cũng một giao dịch bằng cách truy cập vào các website thương mại
hoặc vào các trang mạng xã hội.
- Chủ thể tham gia: Trong hoạt động TMĐT phải có tổi thiểu ba chủ thể
tham gia. Đó là các bên tham gia giao dịch và không thể thiếu được tham gia của
bên thứ ba đó là các cơ quan cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực, đây là
những người tạo môi trường cho các giao dịch TMĐT. Nhà cung cấp dịch vụ mạng
và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên
tham gia giao dịch TMĐT, đồng thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin
trong giao dịch TMĐT.
- Thời gian không giới hạn: Các bên tham gia vào hoạt động thương mại
điện tử đều có thể tiến hành các giao dịch suốt 24 giờ 7 ngày trong vòng 365 ngày
liên tục ở bất cứ nơi nào có mạng viễn thông và có các phương tiện điện tử kết nối

16


với các mạng này, đây là các phương tiện có khả năng tự động hóa cao giúp đẩy
nhanh quá trình giao dịch.
- Trong TMĐT, hệ thống thông tin chính là thị trường. Trong thương mại
truyền thống các bên phải gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán, giao dịch và
ký kết hợp đồng. Trong TMĐT các bên không phải gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn

quảng cáo và phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng. Thương mại điện tử B2C đem
lại lợi ích cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng: doanh nghiệp tiết kiệm nhiều
chi phí bán hàng do không cần phòng trưng bày hay thuê người giới thiệu bán hàng,
chi phí quản lý cũng giảm hơn. Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không
phải tới tận cửa hàng, ngồi ở bất cứ nơi đâu, bất cứ khi nào cũng có khả năng lựa
chọn và so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc, cũng như tiến hành việc mua hàng.
Hiện nay, số lượng giao dịch theo mô hình thương mại điện tử B2C rất là lớn, tuy
nhiên thì giá trị giao dịch từ hoạt động này chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng giá trị
thương mại điện tử ngày nay, chiếm khoảng 5%. Trong tương lai thương mại điện
tử theo mô hình B2C sẽ còn phát triển nhanh hơn nữa. Mô hình thương mại điện tử
B2C còn được gọi dưới cái tên khác đó là bán hàng trực tuyến (e-tailing)
1.2.3.2 TMĐT giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B)
B2B là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa doanh nghiệp
với doanh nghiệp. Các giao dịch B2B chủ yếu được thực hiện trên các hệ thống ứng
dụng TMĐT như các sàn giao dịch Thương mại điện tử B2B. Các doanh nghiệp có
thể chào hàng, tìm kiếm bạn hàng, đặt hàng, ký kết hợp đồng, thanh toán qua các hệ
thống này. Ở mức độ cao, các giao dịch này có thể diễn ra một cách tự động ví dụ
như www.alibaba.com. TMĐT B2B đem lại lợi ích rất thực tế cho các doanh
nghiệp, đặc biệt giúp các doanh nghiệp giảm các chi phí về thu thập thông tin tìm
hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị, đàm phán, tăng cường các cơ hội kinh doanh.
Ngày nay, số lượng giao dịch TMĐT B2B còn rất khiêm tốn chỉ khoảng 10%, tuy
nhiên thì giá trị giao dịch từ hoạt động này chiếm rất cao, trên 85% giá trị giao dịch
TMĐT hiện nay.
1.2.3.3. TMĐT giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước (B2G)
Trong mô hình này, Cơ quan nhà nước đóng vai trò như khách hàng vàuá
trình trao đổi thông tin cũng được tiến hành qua các phương tiện điện tử. Cơ quan
nhà nước cũng có thể lập các website, tại đó đăng tải những thông tin về nhu cầu

18



19


được tiếp cận các thông tin về đấu thầu và không có nhà cung cấp nào có thể có
thông tin lợi thế hơn người khác. TMĐT trong Chính phủ điện tử cũng phải đảm
bảo thực hiện được những tiêu chuẩn cơ bản cho việc mua sắm.
1.3 Đặc điểm, mục tiêu, vai trò và tầm quan trọng của công tác đấu thầu
1.3.1 Đặc điểm, mục tiêu của công tác đấu thầu
1.3.1.1 Đặc điểm của công tác đấu thầu
Hoạt động đấu thầu là hoạt động mua sắm sử dụng vốn của Nhà nước nên
thường gọi là "Mua sắm công” hay ”Mua sắm chính phủ”. Các quy định để thực hiện
các hành vi mua sắm thông qua đấu thầu được chi phối, điều tiết bởi người sở hữu
nguồn tiền sử dụng cho việc mua sắm. Tuỳ thuộc vào nguồn vốn được sử dụng mà việc
mua sắm có những đặc điểm khác nhau. Với việc sử dụng vốn của Nhà nước, hoạt
động đấu thầu mua sắm có những đặc điểm riêng, khác với các nguồn vốn không phải
của Nhà nước.
Hoạt động đấu thầu sử dụng vốn thuộc sở hữu Nhà nước - sở hữu toàn dân để
mua sắm phục vụ lợi ích cộng đồng do đó, việc chi dùng cần được nhà nước quản lý
theo pháp luật. Đây chính là đặc điểm cơ bản để hình thành các quy định đấu thầu
mua sắm của Nhà nước nhằm làm cho việc sử dụng, chi tiêu các nguồn tiền của Nhà
nước đảm bảo hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí. Các đối tượng mua sắm để đáp
ứng các nhu cầu trực tiếp hoặc gián tiếp của Chính phủ cũng như của nhân dân,
được coi là các nhu cầu chung.
1.3.1.2 Các chủ thể tham gia vào quá trình đấu thầu
Khi đấu thầu sử dụng tiền của Nhà nước thì hoạt động này được thực hiện
bởi các cơ quan của Nhà nước, các DNNN hoặc các đơn vị có sử dụng nguồn tiền
của Nhà nước nên có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình đấu thầu để bảo đảm
được các mục tiêu của đấu thầu là cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả
kinh tế. Các chủ thể tham gia có thể bao gồm:

dự án được duyệt để đạt được các mục tiêu cơ bản về tăng trưởng kinh tế, phát triển
kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nâng cao mức sống của dân cư... theo các kế hoạch,
quy hoạch phát triển kinh tế hàng năm, 5 năm hoặc dài hạn.
Đối với từng gói thầu cụ thể, mục tiêu thể hiện qua việc lựa chọn các nhà
thầu đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện
21


việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ tư vấn), xây dựng các công
trình, hạng mục công trình, đào tạo, chuyển giao công nghệ. Việc phải mua sắm
hàng hoá; xây dựng công trình bảo đảm công năng, tính năng và hiệu năng sử dụng;
cung cấp các dịch vụ đều được thể hiện rõ trong quyết định đầu tư, KHĐT của dự
án.
a. Mục tiêu cơ bản của hoạt động đấu thầu
- Tăng cường cạnh tranh trong đấu thầu:
Một trong những yếu tố đạt được hiệu quả của công tác đấu thầu là phải bảo
đảm được quy luật cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Trong hoạt động đấu thầu nói
chung và công tác đấu thầu của Việt Nam nói riêng, mục tiêu cạnh tranh đang ngày
càng được tăng cường. Có cạnh tranh thì mới có động lực để sáng tạo, cải tiến, kích
thích người mua (BMT) đưa ra các yêu cầu phù hợp (thể hiện trong HSMT) và người
bán (nhà thầu) cạnh tranh với nhau để giành được hợp đồng (bán được hàng) với giá
bán cạnh tranh song vẫn bảo đảm chất lượng của hàng hoá, công trình, dịch vụ. Một
nguyên tắc cơ bản để bảo đảm được cạnh tranh trong đấu thầu đó là việc tạo ra sự
mâu thuẫn lợi ích” hay “xung đột lợi ích”. Xung đột lợi ích trong đấu thầu có thể hiểu
một cách nôm na rằng CĐT, BMT luôn mong muốn “nhanh, bền, tốt, rẻ” trong khi
đó, nhà thầu thì luôn muốn "làm ít, hưởng nhiều” và có nhiều hợp đồng. Tuy vậy, do
hoạt động đấu thầu là việc chi dùng tiền nhà nước nên việc mong muốn của các chủ
thể tuy là chính đáng song không thể tuỳ tiện mà cần theo quy định. Như vậy, khi có
sự xung đột lợi ích giữa các bên sẽ tạo ra động lực cạnh tranh giữa CĐT, BMT và các
nhà thầu để đạt được sự cân bằng về lợi ích thì cuộc đấu thầu sẽ diễn ra và hàng hoá,

không được thêm bớt, bổ sung.
Các thông tin liên quan tới việc tham dự thầu, tổ chức các cuộc thầu, thông
tin về dự án, thông tin về trao thầu... đều phải được thông báo công khai rộng rãi
theo quy định.
- Đảm bảo công bằng trong đấu thầu:
Đây là mục tiêu rất quan trọng trong đấu thầu. Trong quá trình thực hiện
công tác đấu thầu, phải hết sức tôn trọng quyền lợi của các bên có liên quan. Mọi
thành viên từ CĐT đến các nhà thầu, các tổ chức tư vấn được thuê thực hiện một
phần công việc trong đấu thầu đều bình đẳng với nhau trước pháp luật. Mỗi bên có
quyền và trách nhiệm được quy định. CĐT không được phép cho rằng mình là

23


người có quyền cao nhất muốn làm gì thì làm, muốn cho ai trúng thầu thì cho. Nhà
thầu không được lợi dụng quan hệ thân thiết, hoặc những tác động vật chất đối với
các thành viên tổ chuyên gia đấu thầu để làm sai lệch kết quả đấu thầu theo hướng
có lợi cho mình.
Tính công bằng trong đấu thầu thể hiện rằng các chủ thể tham gia đều phải
thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Cụ thể hơn là người có thẩm
quyền phê duyệt các nội dung trong đấu thầu phải thực hiện theo quy định mà
không thể dùng ảnh hưởng cá nhân để phê duyệt tạo thuận lợi cho một hoặc một số
cá nhân, tổ chức có lợi ích liên quan. Còn đối với CĐT phải có trách nhiệm lập
HSMT bảo đảm công bằng, không được tạo lợi thế cho một hoặc một số cá nhân,
hạn chế sự tham gia của các nhà thầu khác. Khi HSMT đã được phê duyệt thì CĐT,
BMT, tổ chuyên gia phải thực hiện theo đúng các nội dung nêu trong HSMT, không
được thiên vị, đối xử bất công với bất kỳ nhà thầu nào. Ngoài ra, mọi thông tin liên
quan đến quá trình tổ chức đấu thầu đều phải được công khai theo quy định đến tất
các nhà thầu để có cơ hội tiếp cận như nhau trong quá trình tham gia đấu thầu.
- Bảo đảm hiệu quả kinh tế của công tác đấu thầu:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status