Xây dựng và nâng cao năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước hiện nay qua thực tiễn tại tỉnh nghệ an - Pdf 39

NGUYỄN ĐÌNH HÙNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------

Nguyễn Đình Hùng

QUẢN TRỊ KINH DOANH

XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA
NGƯỜI CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ
ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
QUẢN TRỊ KINH DOANH

KHOÁ: 2011B
Hà Nội – Năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------------------------------Nguyễn Đình Hùng

XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA
NGƯỜI CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ
ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN


2. Lịch sử nghiên cứu ..........................................................................................................9
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu......................................................................11
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.....................................................................12
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ
ĐOÀN CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH – HĐH .................................13
1.1. CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ ..........................................................................................13
1.1.1. Khái niệm cán bộ đoàn cơ sở ..................................................................................13
1.1.2. Vai trò của cán bộ đoàn cơ sở .................................................................................14
1.1.3. Đặc điểm của cán bộ đoàn cơ sở .............................................................................16
1.1.4. Phân loại cán bộ đoàn cơ sở ....................................................................................16
1.2. NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ ...................................17
1.2.1. Khái niệm năng lực lãnh đạo ...................................................................................17
1.2.2. Yêu cầu đối với năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa – hiện đại hóa .........................................................................................18
1.2.3. Tiêu chí đo lường năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở .................................21
1.2.4. Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở ...........................22
Chương 2:

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA

NGƯỜI CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH –
HĐH ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN ..............25

3


2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA TỈNH NGHỆ AN .............25
2.2. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH NGHỆ AN .............................................................................................................30
2.2.1. Số lượng .................................................................................................................. 30


5


Danh mục các bảng:
Bảng 2.1: Thống kê độ tuổi của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở tỉnh Nghệ An
Bảng 2.2: Thống kê về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của đội ngũ cán
bộ đoàn cấp cơ sở tỉnh Nghệ An

6


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy thanh niên luôn là lực lượng xung kích,
đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trong bối cảnh hiện nay, sự nghiệp
đổi mới có thành công hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào lực lượng thanh niên.
Đoàn Thanh niên cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, chỗ
dựa vững chắc của chính quyền; để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà đất nước đang
đặt ra đối với thanh niên thì đòi hỏi cần phải có đội ngũ cán bộ đoàn đủ phẩm chất và
năng lực
Khi nói về vai trò của thanh niên và đội ngũ cán bộ đoàn trong sự nghiệp đổi
mới Đảng ta đã khẳng định: "Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước
bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách
mạng Việt Nam có vững bước theo con đường XHCN hay không phần lớn tùy thuộc
vào lực lượng thanh niên, vào sự bồi dưỡng, rèn luyện của thế hệ thanh niên" Do đó,
xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn có năng lực, giữ vai trò hết sức quan trọng, vì chính đội
ngũ cán bộ đoàn là những người lãnh đạo tổ chức thực hiện đường lối, biến đường lối,
chính sách thành hiện thực.
Trong hệ thống tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thì đoàn cơ sở giữ vai trò

trước những khó khăn, hạn chế đó là khả năng đáp ứng ngày càng đa dạng nhu cầu của
thanh niên; công tác quy hoạch, đào tạo còn bất cập chưa đáp ứng được đặc thù cán bộ
đoàn luân chuyển nhanh. Cán bộ ít được đào tạo bài bản, phần lớn dựa vào kinh
nghiệm; một bộ phận năng lực công tác, phương pháp, lề lối làm việc hạn chế, thiếu
nhiệt tình say mê với phong trào, khó thuyên chuyển điều này đã góp phần không nhỏ
làm giảm suy giảm năng lực của tổ chức đoàn và đội ngũ cán bộ đoàn. Từ thực trạng
đó, trrước yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH, với trách nhiệm của

8


người cán bộ đoàn, tôi chọn đề tài: “Xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo của
người cán bộ đoàn cấp cơ sở trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nước hiện nay qua thực tiễn tại tỉnh Nghệ An” làm luận văn tốt nghiệp lớp cao
cấp lý luận chính trị của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu:
Về chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn nói chung và cán bộ đoàn cấp cơ sở nói
riêng thì đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu, đề cập từ những góc độ khác nhau; các
nghiên cứu này được trình bày dưới nhiều hình thức như sách tham khảo, luận văn,
luận án, các bài viết đăng báo, tạp chí… Liên quan đến vấn đề nghiên cứu, có thể kể
đến một số công trình tiêu biểu sau:
- Luận án tiến sỹ "Đổi mới đội ngũ cán bộ đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh cấp huyện trong điều kiện hiện nay"; của nghiên cứu sinh Lê Văn Cầu, thực hiện
tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 1999.
- Luận văn thạc sỹ: "Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục truyền thống cho đoàn viên các cơ quan Dân Chính Đảng tỉnh Nghệ An" của tác
giả Vương Quang Minh; bảo vệ tại Trường Đại học Vinh năm 2001.
- Bài "Những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm trong thực hiện Nghị
quyết Trung ương 4 về công tác thanh niên ở Nghệ An", của tác giả Vương Quang
Minh, đăng trên Tạp chí Thanh niên, số 12-2005.

hoá đất nước, của tác giả Văn Tùng, Nxb.Thanh niên, Hà Nội, năm 2001.
Nghiên cứu về năng lực đội ngũ cán bộ đoàn nói chung và cán bộ đoàn cấp cơ sở là
vấn đề phức tạp còn tương đối mới mẻ. Những công trình nghiên cứu về vấn đề này mà

10


tác giả tiếp cận được đã trình bày được những vấn đề mang tính chất lý luận chung; mà
chưa đề cập sâu đến những vấn đề mang tính thực tiễn đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở, đặc
biệt ở một địa bàn như tỉnh Nghệ An.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH qua thực
tiễn ở tỉnh Nghệ An.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về vai trò của cán bộ đoàn; các quan niệm
về năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở; tiêu chí đánh giá, những nhân tố tác động
và ảnh hưởng đến năng lực cán bộ đoàn cơ sở.
- Phân tích thực trạng năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ
An trong thời gian qua, qua đó rút ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh
nghiệm.
- Đề xuất phương hướng, mục tiêu và các giải pháp khả thi nhằm nâng cao năng
lực đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn đẩy mạnh CNHHĐH.
3.3. Phạm vi nghiên cứu.
Luận văn nghiên cứu đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là các uỷ viên
Ban Thường vụ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ An từ năm 2007 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
4.1. Cơ sở lý luận.


thích ứng với yêu cầu từng giai đoạn cách mạng. Nếu chất lượng cán bộ không chuyển
kịp với tình hình và nhiệm vụ mới thì không những cán bộ không quyết định thắng lợi
đường lối mà còn mắc sai lầm. Trong chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ, Đảng Cộng
sản Việt Nam đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách
mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt
trong công tác xây dựng Đảng”.
Cán bộ đoàn là cán bộ hoạt động chính trị - xã hội được Đảng giao nhịêm vụ
làm công tác vận động thanh thiếu nhi, trực tiếp thực hiện công tác vận động tuyên
truyền giáo dục thanh thiếu nhi theo đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và Điều
lệ Đoàn. Đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp gồm: Cán bộ đoàn chủ
chốt, cán bộ đoàn chuyên trách, cán bộ đoàn bán chuyên trách, cán bộ đoàn không
chuyên trách, cán bộ đoàn kiêm nhiệm. Trong đó, đội ngũ cán bộ đoàn chủ chốt là
những cán bộ đứng đầu, quan trọng nhất, có tác dụng chi phối chính toàn bộ hoạt động
của tổ chức đoàn thanh niên ở từng cấp, từ cơ sở đến Trung ương như bí thư đoàn xã,

13


bí thư huyện đoàn, bí thư tỉnh đoàn.
Trong hệ thống phân cấp hành chính Việt Nam, cấp cơ sở là cấp thấp nhất,
thường được gọi chung là cấp xã, bao gồm cả xã - phường - thị trấn. Đây là nơi diễn ra
mọi hoạt động và cuộc sống của người dân. Cán bộ cấp cơ sở nói chung và cán bộ đoàn
cơ sở nói riêng là những người hàng ngày tiếp xúc trực tiếp với nhân dân, có điều kiện
gần gũi, hiểu biết về người dân; năm bắt nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, phát hiện
kịp thời những vấn đề đang nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống. Đồng thời, chính họ cũng
là những người trực tiếp đưa chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật
của Nhà nước và các chủ trương của Đoàn vào cuộc sống.
Cán bộ đoàn cấp cơ sở là những người tham gia Ban Thường vụ đoàn cấp xã,
phường, thị trấn. Họ là những người xung kích đi đầu trong các hoạt động của Đoàn ở
địa phương; là cánh tay nối dài của Đảng, Nhà nước, Mặt trận ở cơ sở đến thanh niên,

Hai là, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là lực lượng trực tiếp tổ chức, giáo dục, rèn
luyện đoàn viên, thanh thiếu nhi ở cơ sở.
Vị trí, vai trò này của cán bộ đoàn cơ sở xuất phát bởi chính vai trò của tổ chức
đoàn cơ sở. Đoàn cơ sở có vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ hệ thống đoàn thanh
niên, bởi vì đây là một trong những nhân tố quan trọng hình thành nên nền tảng của tổ
chức đoàn, là nơi trực tiếp tổ chức giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng và phát huy vai trò
xung kích cách mạng của đoàn viên thanh niên, là cầu nối giữa tổ chức đoàn với thanh
niên. Mọi chủ trương của đoàn cơ bản đều được tổ chức triển khai ở cơ sở, chất lượng
của tổ chức cũng như chủ trương của các cấp bộ đoàn phần lớn được kiểm nghiệm và
phản ánh qua hiệu quả hoạt động của tổ chức đoàn cơ sở. Ngoài ra, đoàn xã còn là hạt
nhân lãnh đạo và là thành viên tập thể của Hội Liên hiệp thanh niên cơ sở, Đoàn định

15


hướng về chính trị, tư tưởng cho hoạt động của Hội. Đối với Đội thiếu niên tiền phong
Hồ Chí Minh, Đoàn quyết định phương hướng, nhiệm vụ công tác Đội và phong trào
thiếu nhi. Đoàn là lực lượng chủ yếu, nòng cốt trong việc đẩy mạnh công tác xã hội
hoá sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng.
Ba là, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là lực lượng nòng cốt tổ chức các phong trào
hành động cách mạng trong thanh niên, là lực lượng quan trọng trong quá trình đẩy
nhanh CNH-HĐH hiện nay.
Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là phải tổ chức
phong trào thanh niên ở cơ sở nhằm tham gia tích cực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, cơ cấu đầu tư, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn và bên ngoài; tham gia giải quyết vấn đề ruộng đất đối
với nông dân, tiêu thụ sản phẩm, phát triển công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu,
công tác khuyến nông, đầu tư khoa học kỹ thuật mới trong nông nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp; vấn đề vay vốn phát triển ngành nghề, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc
làm; phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, thực hiện dân chủ hoá, hợp tác hoá nông

ban chấp hành đoàn cấp xã từ 5 - 15 đồng chí. Để điều hành hoạt động giữa hai kỳ hội
nghị ban chấp hành, ban chấp hành đoàn xã bầu ra các đồng chí uỷ viên ban thường vụ
trong số các uỷ viên ban chấp hành.
1.2. NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ
1.2.1. Khái niệm năng lực lãnh đạo:
Theo cuốn Gốc và nghĩa của từ tiếng Việt thông dụng thì năng lực được chia
làm hai vế: Năng là lối làm việc, lực là sức mạnh. Năng lực được hiểu là sức mạnh có
thể làm nổi việc.

17


Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo dục ấn hành thì năng lực
được hiểu là “Khả năng làm việc tốt”
Theo đại từ điển Tiếng Việt của NXB Văn hóa thông tin: Hiểu theo hai nghĩa:
1. Năng lực là những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì. Ví dụ: năng
lực tư duy của con người.
2. Năng lực là khả năng để thực hiện tốt một công việc. Ví dụ: Có năng lực
chuyên môn, năng lực tổ chức.
Tóm lại: Năng lực là khả năng của con người để thực hiện tốt công việc hay làm
việc có hiệu quả cao.
Theo nhà Tâm lý học người Nga Cơvaliốp: Năng lực là một tập hợp hoặc tổng
hợp những thuộc tính cá nhân con người đáp ứng những nhu cầu của hoạt động và bảo
đảm cho hoạt động có kết quả cao.
Như vậy, nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được kết quả hoạt động nào
đó. Năng lực không phải là những thuộc tính cá nhân riêng lẽ mà là một tổ hợp các
thuộc tính cá nhân đáp ứng yêu cầu cao của hoạt động. Các thuộc thuộc tính ấy có quan
hệ tác động lẫn nhau, thống nhất với nhau trong một chỉnh thể.
Mỗi con người có thể tích hợp nhiều năng lực tiềm ẩn, những năng lực đó được
bộc lộ ra hay không tùy thuộc vào những điều kiện chủ quan hay khách quan. Đối với

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa:
Năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở gắn chặt với kết quả hoạt động của cả
một tổ chức đoàn cấp cơ sở. Năng lực của tổ chức cấp cơ sở nói chung và tỉnh Nghệ
An nói riêng gắn trực tiếp với năng lực cá nhân của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở.
Trên thực tế khó có thể thừa nhận tổ chức đoàn cơ sở có hiệu quả trong hoạt động của

19


mình khi đội ngũ cán bộ đoàn không có năng lực hoặc năng lực thấp và ngược lại, cũng
không thể chấp nhận được một hiện trạng đội ngũ cán bộ đoàn có uy tín thực sự khi tổ
chức Đoàn không có năng lực.
Năng lực được người cán bộ đoàn cơ sở hình thành trong quá trình hoạt động,
giao tiếp và chịu sự chi phối của các nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan. Trên cơ
sở xác định các mục tiêu hoạt động cũng như những nhu cầu đẩy mạnh CNH-HĐH đất
nước, người cán bộ đoàn cơ sở tiến hành giải quyết được một cách có hiệu quả các vấn
đề thuộc về thẩm quyền của mình thì năng lực của họ được xác lập. Để người cán bộ
đoàn tạo lập năng lực trước hết cần phải có quyền lực, có những ưu thế do chức vụ
được giao, được bổ nhiệm hay bầu cử hợp pháp mang lại. Người cán bộ đoàn phải có
vị thế, chức danh, chức vụ, quyền hạn nhất định. Đây là yêu cầu cần thiết để tạo nên
năng lực, nó khẳng định uy quyền của người cán bộ đoàn cơ sở cũng như vai trò của họ
trước tập thể. Trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, chức vụ bao giờ cũng gắn
với quyền hạn, trách nhiệm; quyền lợi gắn với nghĩa vụ. Những yếu tố này thể hiện
mối quan hệ giữa các điều kiện khách quan và chủ quan tạo nên năng lực người cán bộ
đoàn cơ sở.
Ngoài ra còn phải tính đến các yếu tố khác như: cơ chế quản lý xã hội, sự tác
động công tác tổ chức các bộ, môi trường xã hội, nhóm và tập thể, các chuẩn mực xã
hội, các hoạt động giao tiếp của người cán bộ đoàn cơ sở. Nét đặc trưng của người cán
bộ đoàn cơ sở đó là sự hiểu biết và sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của thanh niên và xã
hội. Các yếu tố về trình độ nhận thức, tâm trạng, thái độ lòng tin của tập thể, của xã hội

chuyên môn của người cán bộ đoàn sẽ có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với cán bộ đoàn
viên, thanh niên.
Phong cách sống và làm việc của cán bộ đoàn cơ sở cũng là yếu tố quan trọng
hình thành nên năng lực. Phong cách sống và làm việc có liên quan trực tiếp đến năng
lực của người cán bộ đoàn cơ sở, đây là hệ thống các phương pháp được cán bộ đoàn

21


sử dụng để tác động những người dưới quyền, lựa chọn phương pháp làm việc khoa
học và quản lý đúng là rất quan trọng đối với cán bộ đoàn nó ảnh hưởng ngay đến năng
lực của họ.
Người cán bộ đoàn có năng lực thì phải có được sự tín nhiệm và phục tùng,
thậm chí đến mức tự nguyện của tập thể, của cấp dưới và các cộng sự; có được sự đánh
giá cao của cấp trên, sự khâm phục của bạn bè, đồng nghiệp, đây là những yếu tố giúp
họ có được phạm vi ảnh hưởng rộng rãi.
Như vậy, năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là sự kết hợp giữa các điều
kiện khách quan và chủ quan của người cán bộ đoàn, trong đó cần phải nhấn mạnh
những yếu tố hợp thành quan trọng nhất là có đủ quyền và thực hiện quyền được giao
phó, có nhân cách mẫu mực, hoàn thiện để được thừa nhận và tín nhiệm, có phẩm chất,
năng lực đáp ứng yêu cầu được giao. Trong những yếu tố này, cán bộ đoàn phải đặc
biệt chú ý tự bồi dưỡng và rèn luyện phẩm chất, năng lực sao cho tương xứng với chức
vụ và thực hiện được quyền hạn, trách nhiệm được giao phó.
1.2.3. Tiêu chí đo lường năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở:
Năng lực thực chất của người cán bộ đoàn cơ sở được biểu hiện ở năng lực thực
sự của họ trong việc tiếp nhận thông tin mới, cung cấp và xử lý thông tin. Những thông
tin có liên quan đến hoạt động của tổ chức đoàn phải được cung cấp đầy đủ, xử lý đề ra
được những quyết định đúng đắn, kịp thời, có chất lượng. Thái độ và hiệu quả tiếp
nhận, xử lý thông tin là dấu hiệu đáng tin cậy để xác định người cán bộ đoàn có năng
lực thực chất hay không.

vun vén cá nhân, lợi dung danh nghĩa tập thể, đối với cấp trên thì xun xoe, nịnh hót.
Năng lực không thực chất dù biểu hiện dưới hình thức nào cũng đều có hại cho
công việc và bản thân người cán bộ đoàn. Do đó, người cán bộ đoàn cần tỉnh táo để có

23


yếu tố cần thiết ban đầu của quá trình gây dựng củng cố và nâng cao năng lực tránh
năng lực giả hoặc thiếu năng lực.
1.2.4. Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở:
- Thứ nhất, về tiêu chuẩn cán bộ đoàn cơ sở.
Tiêu chuẩn là điều quy định làm căn cứ để đánh giá, phân loại và xác định năng
lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở. Tiêu chuẩn cán bộ đoàn cơ sở là những quy định
đối với cán bộ về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ văn hoá, chuyên
môn, ngoại ngữ, năng lực trí tuệ; khả năng đoàn kết, tập hợp quần chúng; lề lối làm
việc, tác phong công tác và sức khoẻ. Các yếu tố đó quan hệ mật thiết với nhau tạo nên
phẩm chất, năng lực người cán bộ đoàn cơ sở, mối yếu tố đều có vai trò riêng, song
chúng gắn bó chặt chẽ, là tiền đề của nhau, hợp lực tạo ra năng lực công tác, hoàn
thành các chức trách nhiệm vụ trên thực tế.
Việc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nói chung và cán bộ
đoàn cơ sở nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng đối với nâng cao năng lực đội ngũ cán
bộ đoàn cơ sở. Bởi lẽ, tiêu chuẩn cán bộ là cơ sở và tiền đề để làm căn cứ xem xét,
đánh giá, lựa chọn, bố trí, sắp xếp, giới thiệu ứng cử; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng,
sắp xếp cán bộ và đồng thời giải quyết chế độ chính sách cán bộ đoàn. Tiêu chuẩn cũng
là cơ sở để từng cán bộ đoàn phấn đấu, tự rèn luyện để hoàn thiện mình.
- Thứ hai, cơ chế đánh giá cán bộ đoàn cơ sở.
Đánh giá cán bộ là khâu đầu rất quan trọng và khó, rất nhạy cảm trong công tác
cán bộ, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở.
Nếu đánh giá đúng sẽ xác định chính xác năng lực của cán bộ, đây là căn cứ cho việc
bố trí đúng cán bộ và cán bộ sẽ phát huy được ưu điểm và thế mạnh của mình còn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status