ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
NGUYỄN THÙY DUNG
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA QUÁ TRÌNH CANH TÁC
CHÈ TỚI MÔI TRƢỜNG ĐẤT THỊ TRẤN BẮC SƠN HUYỆN PHỔ YÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Khoa học Môi trƣờng
Khoa
: Môi trƣờng
Khóa học
: 2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Giảng viên hƣớng dẫn
: ThS. Nguyễn Thị Huệ
Thái Nguyên, năm 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những
sự giúp đỡ, hỗ trợ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác.
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay,
em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy cô, gia đình và
bạn bè.
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi
sinh viên, đó là khoảng thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, để củng cố
và vận dụng những kiến thức mà mình đã được học trong nhà trường. Được
sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường,
em đã về thực tập tại Ủy ban nhân dân Thị trấn Bắc Sơn huyện Phổ Yên –
tỉnh Thái Nguyên. Hiện nay em đã hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến:
Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
Ban chủ nhiệm khoa và quý thầy cô trong khoa Môi trường đã tận tình
giúp đỡ và dìu dắt em trong suốt quá trình học tập
Ban lãnh đạo và toàn thể các cán bộ công nhân viên của Ủy ban nhân dân
Thị trấn Bắc Sơn huyện Phổ Yên.
Tôi xin chân thành cảm ơn bà con nhân dân trong Thị trấn đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt nội dung đề tài.
Bảng 4.5 Các loại thuốc BVTV bị cấm sử dụng tại Việt Nam……………...49
Bảng 4.6 Cách sử lý bao bì HCBVTV sau khi sử dụng.................................. 51
Bảng 4.7 Hiện trạng sử dụng phân bón của khu vực thị trấn Bắc Sơn ........... 52
Bảng 4.8. Đánh giá nồng độ pH đất chè tại Thị trấn Bắc Sơn ........................ 54
Bảng 4.9 Đánh giá hàm lượng Nts trong đất chè tại Thị trấn Bắc Sơn ........... 55
Bảng 4.10 Đánh giá hàm lượng Pts trong đất chè tại Thị trấn Bắc Sơn .......... 55
Bảng 4.11 Đánh giá lượng mùn trong đất chè tại Thị trấn Bắc Sơn ............... 56
ii
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ thể biện tuổi vườn chè trên địa bàn thi ̣trấ n Bắ c Sơn ........ 46
Hình 4.2 Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật .................................... 48
Hình 4.3 Cách sử lý bao bì HCBVTV sau khi sử dụng .................................. 51
iii
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Tên tiếng việt
6
HTX
Hợp tác xã
7
HCBVTV
Hóa chất bảo vệ thực vật
8
MTST
Môi trường sinh thái
9
NN & PTNN
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
10
NPK
Phân tổng hợp
16
TQ
Trung Quốc
17
STT
Số thứ tự
18
UBND
Ủy Ban Nhân Dân
19
XD
Xây dựng
iv
v
v
vi
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Thị trấn Bắc Sơn – huyện Phổ
Yên – Thái Nguyên ................................................................................... 32
3.3.2 Tình hình sản xuất và quá trình canh tác chè tại Thị trấn Bắc Sơn –
Phổ Yên – Thái Nguyên............................................................................ 32
3.3.3 Đánh giá ảnh hưởng của biện pháp canh tác chè đến môi trường đất .....32
3.3.4 Đề xuất định hướng, giải pháp hạn chế tác động đến môi trường. .. 32
3.4 Phương pháp nghiên cứu. .......................................................................................... 33
3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp. ............................... 33
3.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp ................................. 33
3.4.3 Phương pháp lấy mẫu ..................................................................... 34
3.4.4 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm...................... 34
3.4.5 Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu và so sánh ....................... 34
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................ 36
4.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của Thị trấn Bắc Sơn – Huyện Phổ
Yên - Tỉnh Thái Nguyên ................................................................................................... 36
4.1.1 Điều kiện tự nhiên ............................................................................ 36
4.1.2 Đánh giá hiện trạng kinh tế - xã hội ............................................... 38
4.2 Tình hình sản xuất và quá trình canh tác chè tại Thị trấn Bắc Sơn .......... 44
4.2.1 Tình sản xuất chè tại Thị trấn Bắc Sơn. ........................................... 44
4.2.2. Các hoạt động trong quá trình canh tác chè trên địa bàn nghiên cứu .....47
4.3 Đánh giá ảnh hưởng của biện pháp canh tác tới môi trường đất .............. 52
4.4 Đề xuất định hướng giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường đất .......... 56
4.4.1 Khuyến cáo người dân về mức độ ảnh hưởng của quá trình canh tác
chè tới môi trường ..................................................................................... 56
4.4.2 Một số biện pháp phát triển ngành chè, cải tạo đất và bảo vệ môi trường.... 59
tâm nghiên cứu chè tại các miền đất nước, các khóa đào tạo về ngành chè của
các trường đại học nông nghiệp. Hiện nay nước ta có khoảng 34 tỉnh thành
trồng chè trong đó tập trung vào 14 tỉnh.
Nhiều địa phương trong nước, trong đó có tỉnh Thái Nguyên có nhiều
kinh nghiệm trồng, chăm sóc thu hoạch và chế biến chè. Không ai biết chính
xác điều gì đã làm chè Thái Nguyên thơm và ngon đến thế, có lẽ một phần là
1
2
do khí hậu nơi này phù hợp, có người lại bảo do mảnh đất này có nhiều yếu tố
dinh dưỡng trời ban, một số lại nói là do bàn tay những nghệ nhân làm chè.
Hiện nay tỉnh Thái Nguyên có diện tích lớn thứ 2 trong cả nước khoảng
17.660 ha, cả 9 huyện, thành thị đều sản xuất chè.
Thị Trấn Bắc Sơn là một trong những vùng sản xuất chè nhỏ nhưng có
chất lượng ngon của Thái Nguyên. Tổng diện tích chè toàn thị trấn là
143.47ha, được phân bố tập trung một số xóm. Mặc dù, Thị trấn Bắc Sơn chỉ
có các cơ sở nhỏ lẻ kinh doanh chè nhưng cây chè vẫn là cây công nghiệp
chính của Thị trấn.
Tuy nhiên sản xuất chè hiện nay đang có những mặt trái của nó, do
nhận thức không đầy đủ của người dân nên họ đã và đang sử dụng thái quá
phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật, điều đó không những không làm tăng
hiệu quả của sản xuất mà còn để lại một khối lượng lớn tồn dư trong đất, làm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đất.
Vì vậy nghiên cứu tác động của các yếu tố canh tác nói chung và việc
sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật nói riêng cho chè để thấy được sự
ảnh hưởng của chúng tới năng suất, chất lượng chè, cũng như ảnh hưởng tới
môi trường xung quanh là rất cần thiết. Từ đó sẽ đưa ra những biện pháp sử
địa bàn Thị trấn.
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ
cho công tác sau này
- Cung cấp thêm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu.
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần hoàn thiện lý luận về đánh giá hiện trạng môi trường nói
chung và ảnh hưởng của biện pháp canh tác tới môi trường nói riêng.
3
4
- Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất,khai thác những thế mạnh về
đất tại địa phương nhằm nâng cao mức thu nhập của người dân.
- Góp phần xây dựng những giải pháp những mô hình sử dụng đất phù
hợp nhằm sử dụng hợp lí và có hiệu quả về tài nguyên đất trên địa bàn thị trấn.
4
5
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
2.1.1.1 Một số khái niệm
Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc
hại, gây tổn hại hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khỏe, sự an toàn hay
sự phát triển của con người và sinh vật trong môi trường đó. Chất gây ô
nhiễm có thể là chất rắn (như rác) hay chất lỏng (các dung dịch hóa học, chất
thải của dệt nhuộm, rượu, chế biến thực phẩm), hoặc chất khí (SO2 trong núi
lửa phun, NO2 trong khói xe, CO từ khói đun …), các kim loại nặng như chì,
đồng … cũng có khi nó vừa ở thể hơi vừa ở thể rắn như thăng hoa hay ở dạng
trung gian.
Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của
thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và
thiên nhiên.
Ô nhiễm môi trường là sự có mặt của các chất hoặc năng lượng với
khối lượng lớn trong môi trường mà môi trường khó chấp nhận
Chất gây ô nhiễm là những chất không có trong tự nhiên hoặc vốn có
trong tự nhiên nhưng nay có hàm lượng lớn hơn và gây tác động có hại cho
môi trường tự nhiên cho con người cũng như sinh vật sống.
- Khái niệm nguồn gây ô nhiễm
Ô nhiễm môi trường có thể do nhiều nguồn khác nhau. Nguồn gây ô
nhiễm là nguồn thải ra các chất gây ô nhiễm. Có nhiều cách chia các nguồn
gây ô nhiễm.
Theo tính chất hoạt động, gồm 4 nhóm: Quá trình sản xuất (nông
nghiệp, công nghiệp, du lịch, tiểu thủ công nghiệp), quá trình giao thông vận
tải, sinh hoạt và tự nhiên.
6
7
Theo phân bố không gian, gồm 3 nhóm: Điểm ô nhiễm, cố định (khói
8
- Mở rộng mạng lưới tưới tiêu.
Tất cả những biện pháp trên đều gây tác động đến môi trường đất như:
- Do thuốc bảo vệ thực vật:
Nhiều thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) có thể tồn lưu lâu dài trong đất.
Khi thuốc bảo vệ thực vật xâm nhập vào môi trường đất làm cho tính chất cơ
lý của đất giảm sút.
- Do khả năng diệt khuẩn cao nên TBVTV đồng thời cũng diệt nhiều vi
sinh vật có lợi trong đất, làm giảm hoạt tính sinh học trong đất. Một số
TBVTV như: Clo hữu cơ, DDT, lindan, aldrin, photpho hữu cơ v.v.
* Ô nhiễm đất do tác nhân hoá học:
Khi sử dụng phân bón dư thừa, phần dư đó sẽ bị rửa trôi theo nước
hoặc nằm lại trên đất gây ô nhiễm môi trường.
Đối với phân bón vô cơ: Trong phân supe lân thường có còn khoảng
5% axit H2SO4 tự do, khi đi vào môi trường đất sẽ làm giảm độ PH của đất.
Do trong đất có các ion Fe(III), Al(III) kết hợp với lượng phân bón supe dư
thừa tạo thành phophat kim loại không tan làm cho đất chai cứng và hủy diệt
các vi sinh vật có ích trong đất.
Đối với phân bón hữu cơ tự nhiên: Nếu không dùng đúng kỹ thuật và
đúng kiều lượng nên dễ gây ô nhiễm môi trường đất, gây hại cho động vật và
con người. Trong điều kiện yếm khí sẽ làm tăng quá trình khử, sinh ra các
chất ô nhiễm như H2S, CH4 và tạo mùi khó chịu, làm giảm pH của đất.
Ngoài ra các yếu tố đó còn gây ra:
- Làm đảo lộn cân bằng sinh thái
- Làm mất cân bằng dinh dưỡng
- Phá hủy cấu trúc đất.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
Một thực tế hiện nay là giá trị xuất khẩu chè Việt Nam đạt thấp so với
một số quốc gia xuất khẩu chè khác nên nông dân trồng chè cũng như doanh
- Quyết định số 04/2008/QĐ – BTNMT về việc ban hành quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về môi trường của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường.
- Quyết định số 22/2006/QĐ/BTNMT của Bộ Tài Nguyên và Môi
Trường về việc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.
9
10
- Quyết định số 33/2004/QĐ – BKHCN về việc ban hành tiêu chuẩn
Việt Nam do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành.
- TCVN 4046:1985 Đất trồng trọt – Phương pháp lấy mẫu
- TCVN 5297:1995 Chất lượng đất – Lấy mẫu – Yêu cầu chung
- TCVN 6647:2000 (ISO 11464:1994) Chất lượng đất – Xử lí sơ bộ đất
để phân tích lí – hóa.
- TCVN 7377:2004 Chất lượng đất – Xác định pH
- TCVN7375: 2004 Đất trồng trọt- Phương pháp xác định tổng số Kali.
- TCVN 7374:2004 Đất trồng trọt- Phương pháp xác định tổng số Photpho.
- TCVN 7373:2004 Đất trồng trọt- Phương pháp xác định tổng số Nitơ.
2.2 Ô nhiễm đất và nguyên nhân gây ô nhiễm đất
2.2.1 Ô nhiễm đất
Trên thế giới có gần 14,5.109 ha đất, trong đó có trên 3.106 ha đất có
khả năng trồng trọt. Tài nguyên đất trên thế giới đang bị suy thoái nghiêm
trọng do xói mòn, rửa trôi, bạc màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất,
biến đổi khí hậu. Trên tổng diện tích 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất
đóng băng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng. Trong đó, 12 % tổng diện
tích là đất canh tác, 24% là đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú,
đầm lầy. Diện tích có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác
hơn 1.500 triệu ha. Tỷ trọng đất đang canh tác trên đất có khả năng canh tác ở
Trong thực tế, các kim loại nặng nếu ở hàm lượng thích hợp rất cần cho
sự sinh trưởng và phát triển của thực vật, động vật và con người. Nhưng nếu
tích nhiều trong đất thì lại rất độc hại. Trong đất nếu chứa các kim loại nặng
có thể làm cho các kim loại nặng tích tụ trong nông sản ở mức cao, vượt quá
ngưỡng tiêu chuẩn cho phép và gây độc hại cho người sử dụng. Hàm lượng
các chất như: Cadimi (Cd), Chì( Pd), Niken (Ni), Thiếc(Sn)….có thể từ trong
đất nhất là các vùng gần khu công nghiệp tập trung, được cây trồng hấp thụ,
tích lũy lại trong nông sản. Mức độ ngưỡng cho phép hàm lượng các chất này
trong nông sản ở các nước được quy định khác nhau, tùy theo điều kiện của
mỗi nước. Ở nước ta ngưỡng cho phép đối với các kim loại nặng trong nông
sản là: 0,03 – 10 mg/kg.
11
12
Theo tác giả Lê Văn Khoa (2003), ở trong đất sự chuyển hóa các kim
loại từ ngưỡng không độc sang ngưỡng độc phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Bản chất của từng kim loại.
- Hàm lượng hoặc nồng độ sự hiện diện của chúng trong môi trường
đất, trong dung dịch đất.
- Phản ứng của đất( pH).
- Các điều kiện khác nhau như tính đa dạng sinh học của môi trường
đất, chất tạo phức, tạo kết tủa và dạng tồn tại.
Bảng 2.1 Hàm lƣợng một số kim loại nặng trong các sản phẩm
dùng làm phân bón trong nông nghiệp
Kim
Phân
2- 120
Sb
1 - 10
-
Vôi
0,1- 24
Bùn
Phân
Nƣớc
Thuốc
thải
chuồng
tƣới
BVTV
2- 30
0,05- 0,1 2-3000
-
1-56
20- 1250 2-7000
-
2-44
( Nguồn Lê Văn Khoa,2003)
Hàm lượng kim loại nặng ở các đất khác nhau là rất khác nhau. Qua
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Nông về các nguyên tố kim loại nặng
trong đất ở Bắc Kạn và Thái Nguyên như sau:
Bảng 2.2 Hàm lƣợng của kim loại nặng trong đất tỉnh Bắc Kạn
và Thái Nguyên
(Đơn vị tính: ppm)
STT
Kim Loại
Bắc Kạn
Thái Nguyên
1
As
1,25 – 2,98
hóa chất bảo vệ thực vật, quá trình tưới tiêu…và đặc biệt là bón phân.
Các chất đưa vào đất có tác dụng trực tiếp cải thiện dinh dưỡng của cây
trồng và cải thiện độ phì nhiêu của đất gọi là phân bón. Phân bón được chia
thành 2 nhóm chính:
- Nhóm phân hữu cơ, bao gồm phân chuồng, phân bắc , phân than bùn,
phân xanh và phân rác.
- Nhóm phân khoáng, bao gồm phân ni tơ, phân lân, phân kali, phân
magie, phân Bo.
Trong thâm canh, phân bón khoáng đã được sử dụng như đòn bẩy để
nâng cao năng suất cây trồng. Tuy vậy, việc sử dụng phân bón trong khu vực
kinh tế nông hộ còn rất nhiều hạn chế. Một số bộ phận không nhỏ nông dân
có xu hướng bón nhiều để đạt năng suất cao mà ít chú ý đến hiệu quả kinh tế
và an toàn về môi trường sinh thái. Kết quả là gây ô nhiễm đất và làm bùng
phát một số loại dịch hại nguy hiểm trên các vùng thâm canh cây trồng. Đây
là dấu hiệu của một nền nông nghiệp kém bền vững trong nông gnhieepj hiện
đại khi mà lượng hóa chất tổng hợp được đưa vào đất ngày một lớn. Ở Việt
Nam đã sử dụng nhiều loại phân bón hóa học từ những năm đầu của thập kỉ
60, lúc này nhà máy supe lân và phân lân nung chảy bắt đầu hoạt động. Một
số vùng sản xuất thâm canh cao phân hóa học đã bị lạm dụng qua mức, gây
mất cân bằng dinh dưỡng với cây trồng và giảm chất lượng môi trường đất.
Theo số liệu của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới( FAO)
thì việc sử dụng phân bón hóa học từ năm 1961 đến năm 1978 tăng từ 17 đến
40kg/ha ở các nước phát triển và từ 2- 9kg/ha ở các nước đang phát triển. Sản
13
14
xuất phân bón hóa học tăng khoảng 2 triệu tấn/ năm ở những năm đầu thế kỉ
đất trở nên “chai cứng”, tính thoáng khí kém hơn đi, vi sinh vật ít đi vì hóa
chất hủy diệt vi sinh vật.
Theo Viện Tài Nguyên thế giới, đến năm 1993 quỹ đất của toàn nhân
loại là 13,042 triệu ha. Như vậy , mỗi năm theo mức sử dụng phân đạm hóa
học năm 1995, mỗi hecta phải gánh chịu: 200 triệu tấn (N0 3-)/13,042 triệu ha
= 0.0153 tấn, tức 15,3 kg. Tuy nhiên, cũng theo tư liệu của viện, đất trồng trọt
chiếm 20,6%. Vậy lượng N03- tích lũy trong đất trồng trọt tăng lên gấp 5 lần,
nghĩa là 75 kg (N03-)/ha. Nếu tính lượng đất trong một ha có phân bố (N0 3-)
ngấm sâu 0,5m thì sau một năm sử dụng phân đạm khoáng, hàm lượng (N0 3-)
trong đất khoảng 7,5 ppm – 8 ppm.
Người ta cũng làm nghiên cứu, xác định được rằng lượng đạm sinh ra
trên đồng ruộng chỉ khoảng 35 – 55% là có nguồn gốc phân hóa học, phần
lớn hơn vẫn là nhờ phân hữu cơ. Như vậy (N0 3-) tích lũy sẽ lớn hơn nhiều so
với giá trị 8ppm.
Các nhà nghiên cứu cho thấy các loại phân bón hóa học khi bón vào
đất không được cây trồng sử dụng hoàn toàn. Thông thường hệ số sử dụng
phân đạm gần 60%, 15 – 25% bị mất khỏi đất ở dạng bay hơi, khoảng 10 –
15%chuyển sang dạng chất hữu cơ trong đất và 15 – 25% bị mất do rửa trôi ở
dạng (N03-). Tuy nhiên các giá trị này có thể thay đổi biên độ rộng phụ thuộc
vào các điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu và phương pháp.
Nếu như việc sử dụng phân khoáng đã làm cho đất bị thoái hóa, bị chai
cứng, giảm độ phì nhiêu thì tập tục sử dụng phân hữu cơ cũng gây ảnh hưởng
không nhỏ tới hệ sinh thái đất.
Hiện nay ở các vùng nông thôn miền bắc, tập quán sử dụng phân bắc và
phân chuồng tươi trong canh tác vẫn còn phổ biến. Chỉ riêng trong nội thành
Hà Nội, hàng năm lượng phân bắc thải ra khoảng 550.000 tấn, trong khi đó,
công ty vệ sinh môi trường chỉ đảm bảo thu được 1/3, số còn lại được nông
15
16
17
- Nhóm lân hữu cơ (Organic photphates) bao gồm 2 hợp chất là
Parathion và Malathion. Nhóm thuốc này có thời gian bán phân hủy nhanh
hơn so với nhóm Clo hữu cơ, xong thường có độ độc cao so với người và
động vật, và đang được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay.
- Nhóm cacbamat gồm những hóa chất ít bền vững hơn trong môi
trường tự nhiên, xong cũng có độc tính cao đối với người và động vật.
Ở Việt Nam hiện hay có khoảng 450 hợp chất được dùng làm hóa chất
bảo vệ thực vật với nhiều thương hiệu khác nhau. Một số loại được sử dụng
phổ biến như aldrin, diedrin, lindan, endrin, wofatox, monito, basa,…. Các
thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng khá đa dạng về chủng loại và gia tăng về
số lượng. Hàng năm các nước sử dụng tới hơn 30 nghìn tấn/ năm thuốc bảo vệ
thực vật các loại.
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, các thuốc bảo vệ thực vật được sử
dụng nhiều nhất ở Việt Nam là nhóm lân hữu cơ (56%). Phổ biến nhất là
wofatox (25 – 38%), monito (18,38 – 92%), nhóm cacbamat (pada sử dụng
nhiều nhất (3,9 – 16,4%) sau đó là nhóm thuốc trừ sâu nấm bệnh (vadiam
67%). Tần suất phun thuốc trừ sâu có thể từ 1 – 3 lần cho vụ lúa, 28 – 30 lần
cho trồng rau, 15 – 30 lần cho trồng chè.
Những năm gần đây do nhiều nơi sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật với
khối lượng lớn, một số nơi dùng tùy tiện không đúng kỹ thuật nên đã gây ra
những hậu quả to lớn cho môi trường và sức khỏe của con người. Ảnh hưởng
của hóa chất bảo vệ thực vật đối với môi trường và sức khỏe con người thể
hiện ở nhiều mặt nhưng đáng lo ngại nhất là khả năng tích đọng và tồn dư lâu
ngày trong môi trường đất và nước theo kiểu thấm sâu, bào mòn của hóa chất