VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN CẢNH
ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số
: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT
HÀ NỘI, 2016
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu trích dẫn trong luận văn dựa trên số liệu bảo đảm độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ
NGUYỄN VĂN CẢNH
: The Asian Development Bank
Ngân hàng Phát triển châu Á
: ASEAN Free Trade Area
AFTA
Khu vực thương mại tự do ASEAN
: Asia-Pacific Economic Cooperation
APEC
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
: Bộ Tài chính
BTC
: Chính phủ
CP
: Đầu tư nước ngoài
ĐTNN
: European Union
EU
Liên minh Châu âu
: Foreign Direct Investment
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
GCNĐKĐT : Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
: Gross Domestic Products
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội.
: Giá trị gia tăng
GTGT
: International Monetary Fund
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế
: Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement
Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương
: Thông tư
: Uỷ ban nhân dân
: Value Added Tax
Thuế giá trị gia tăng
: Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
: World Trade Organization
Tổ chức thương mại quốc tế
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn cho thấy rằng trong nhiều năm đổi mới của đất nước đã
khẳng định rằng khi nhà nước sử dụng có hiệu quả công cụ pháp luật trong
quản lý thì tình hình kinh tế, chính trị xã hội ổn định, phát triển. Nếu nhà
nước buông lỏng vai trò quản lý nhà nước bằng pháp luật sẽ dẫn đến tình
trạng tùy tiện, lợi dụng những sai sót khuyết thiếu trong các quy định của nhà
nước để trục lợi, lũng đoạn nền kinh tế, tạo nguy hại cho cơ chế thị trường
nay đã phức tạp lại càng phức tạp hơn. Vì thế rất khó để quản lý, kiểm soát ở
một số lĩnh vực trong đó có lĩnh vực đầu tư nước ngoài.
Trong quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với lĩnh vực đầu tư nước
ngoài bộc lộ nhiều vấn đề và bất cập. Điều đó được thể hiện trên các mặt như
pháp luật về đầu tư còn có những bất cập cần sửa đổi, bổ sung. Cơ chế chính
sách chưa đồng bộ và chưa tạo được động lực phát triển mạnh, một số cơ chế,
chính sách, chưa sát với thực tế thiếu tính khả thi, chỉ có trên ý chí nhưng kết
quả lại không được như vậy. Nhiều cấp nhiều ngành chưa thay thế, sửa đổi
những quy định về quản lý nhà nước không còn phù hợp, chưa bổ sung những
cơ chế, chính sách mới có tác dụng thực tế, thay đổi hoặc cải cách khai thác
địa lý thuận lợi cả về tự nhiên và giao thông, thuận lợi trong việc thông
thương, giao lưu buôn bán với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Sau gần ba thập niên đổi mới và mở cửa kinh tế, nền kinh tế nước ta
đang hội nhập ngày càng cao vào nền kinh tế toàn cầu. Sau thời kỳ cải cách
và mở cửa cũng như những đổi mới căn bản trong nhận thức đường lối, chính
sách ĐTNN nhất là FDI đã đạt được nhiều thành tích vào công cuộc phát triển
nền kinh tế nước nhà. Mới đây nhất Luật đầu tư 2014 ra đời thay thế luật đầu
tư 2005 với những quy định đổi mới tiến bộ hơn. Những quy định về đầu tư
nước ngoài hấp dẫn cùng một thị trường giàu tiềm năng đã đẩy nhanh tốc độ
2
phát triển của đất nước, đồng thời với đường lối đối ngoại của nhà nước ta
trong các quan hệ quốc tế, hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập chủ
quyền và phát huy nội lực, tận dụng ngoại lực để hỗ trợ phát huy các ưu thế
trong nước. Ngoài việc phải có các biện pháp bảo đảm đầu tư nước ngoài, nhà
nước cũng cần phải dành cho đầu tư nước ngoài những ưu đãi, tận dụng mọi
nguồn lực bên ngoài góp phần phát triển kinh tế xã hội vì sự nghiệp dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. . .
Tuy vậy trên thực tế, nguồn đầu tư nước ngoài ở nước ta hiện nay vẫn
chưa đáp ứng được nhu cầu xây dựng hội nhập quốc tế cũng như chưa tương
xứng với tiềm lực về thu hút FDI của Việt Nam. Do những biện pháp ưu đãi
chưa thật sự hấp dẫn, do đường lối chính sách chưa thật thỏa đáng, chưa lôi
kéo được các nhà ĐTNN, chưa tạo ra một sân chơi bình đẳng hay vẫn còn sự
phân biệt kì thị áp đặt đối xử đầu tư trong nước và ngoài nước....
Đầu tư nước ngoài đang đặt ra nhiều vấn đề như: chất lượng đầu tư,
công nghệ, giá trị gia tăng, sự bất bình đẳng giữa các vùng miền, thuế, doanh
nghiệp, pháp luật, chính sách của Việt Nam đối với ĐTNN, văn bản chính
sách của các vùng miền địa phương, cách thực thi các văn bản pháp luật, hệ
- Vũ Thúy Anh (2006), Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Nhật Bản tại Việt
Nam, luận văn thạc sĩ kinh tế, Khoa kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tìm hiểu các luận văn trong phạm vi Học viện Khoa học Xã Hội về đề
tài này cho thấy, chưa có luận văn nào viết về đề tài ưu đãi đầu tư nước ngoài
theo Pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Tuy vậy, vấn đề này đã được đề cập đến trong một số luận văn:
- Luận văn “Pháp luật về thành lập và đăng ký kinh doanh của doanh
nghiệp”, Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Hồng Thanh Bạch năm 2013.
Trong luận văn, tác giả đã có sự phân tích và đánh giá cụ thể, nêu ra những
điểm vướng mắc và kiến nghị, tuy nhiên vẫn ở mức độ là một vấn đề nằm
4
trong đề tài của luận văn.
- “Thực trạng đầu tư thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp
của nhà đầu tư nước ngoài”, luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Luật năm 2007 của
tác giả Phạm Thị Kim Phượng. Luận văn nghiên cứu và phân tích, trình bày
khá chi tiết các vấn đề liên quan đến thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài nhưng luận văn được thực hiện vào thời gian Luật Doanh
nghiệp 2005 mới được áp dụng, khác hẳn với bối cảnh hiện nay khi mà Luật
Đầu tư 2014 và Luật Doanh nghiệp 2014 đã có hiệu lực. Hơn nữa, mục đích
chủ yếu của luận văn là nghiên cứu đánh giá thực trạng đầu tư thành lập
doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài theo Luật Doanh nghiệp.
- Luận văn “Quyền thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học năm 2009 của tác giả Bùi Thị Thúy
Triều[33]. Luận văn đã nghiên cứu quy định của pháp luật cũng như thực
trạng về quyền thành lập doanh nghiệp FDI, bao gồm: quyền lựa chọn lĩnh
vực đầu tư và địa bàn thành lập doanh nghiệp FDI, quyền lựa chọn loại hình
doanh nghiệp, hình thức và tỷ lệ góp vốn, quyền lựa chọn đối tác để thành lập
pháp ưu đãi với thực trạng FDI ở Việt Nam nói chung, các khu vực, địa
phương nói riêng. Sau đó đưa ra đề xuất những việc cần làm trong thời gian
tới nhằm đẩy mạnh việc thu hút FDI, qua đó góp phần hoàn thiện pháp luật,
chính sách của Việt Nam về ưu đãi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đầu tư nước ngoài, ưu đãi dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài.
+ Làm rõ thực trạng chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
nói chung, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nói riêng.
+ Đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật về ưu đãi đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam.
6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Văn bản pháp luật, chính sách ưu đãi đầu tư
nước ngoài của Việt Nam, Văn bản chính sách pháp luật của thành phố Hạ
Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Phạm vi nghiên cứu: Các chính sách pháp luật về ưu đãi đầu tư nước
ngoài theo quy định của pháp luật việt Nam, văn bản chính sách pháp luật của
thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Văn bản tổng kết, kết quả số liệu đánh giá tình trạng ưu đãi đầu tư qua
các năm.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích các chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài đồng
thời so sánh đối chiếu với các chính sách ưu đãi của thành phố Hạ Long, tỉnh
Quảng Ninh. Qua đó thấy được khuyết điểm, bất cập trong chính sách ưu đãi đầu
tư nước ngoài của Việt Nam và sự liên kết đối với địa phương, khu vực.
- Ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu kinh
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư nước ngoài
1.1.1. Khái niệm đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài là một trong những vấn đề chiến lược quan trọng để
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, việc tranh thủ nguồn vốn từ các nhà đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam mang ý nghĩa vô cùng to lớn khi đất nước đang
tiến hành công cuộc hiện đại hóa công nghiệp hóa, do đó việc tranh thủ nguồn
vốn, chuyển giao vốn từ quốc gia phát triển sẽ tạo bước đà cho việc phát triển
đất nước.
Theo nghĩa thông thường thì đầu tư chính là việc hi sinh các nguồn lực
hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu hút về cho nhà đầu tư các
kết quả nhất định, trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra trước đó.
Theo từ điển bách khoa toàn thư thì “Đầu tư là việc bỏ ra nguồn lực,
nhân lực, tài lực nào đó sao cho có hiệu quả kinh tế xã hội”.
Như vậy, đầu tư phải mang lại một giá trị nhất định, giá trị sau phải lớn
hơn giá trị ban đầu của các nguồn lực đầu tư. Mục đích không thể phủ nhận từ
các nhà đầu tư nhằm tạo ra lợi nhuận. Tuy nhiên không phải mọi hoạt động
đầu tư đều đem lại lợi nhuận mà nó phải phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố theo
quy luật phát triển của nền kinh tế trị trường.
Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic
Cooperation and Development – OECD), FDI được hiểu theo nghĩa rộng hơn:
“FDI là các hoạt động kinh tế của các cá nhân và pháp nhân kể cả việc cho
vay dài hạn hoặc sử dụng nguồn lợi nhuận tại nước sở tại nhằm tạo dựng các
9
10
trung làm rõ bản chất của đầu tư nước ngoài thông qua các khái niệm: đầu tư
kinh doanh, nhà đầu tư nước ngoài. Tại khoản 4 Điều 3 Luật đầu tư 2014 quy
định “đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện các
hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp
vốn; mua cổ phần; phần vốn góp; của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức
hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”. Còn tại khoản 13 Điều 3 Luật đầu tư
năm 2014 quy định “nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân có quốc tịch
nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động
đầu tư tại Việt Nam”. Như vậy dù luật đầu tư năm 2014 không đưa ra định
nghĩa thế nào là đầu tư nước ngoài nhưng về cơ bản chung vẫn là việc dịch
chuyển nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thông qua các
hình thức đầu tư.
Từ những vấn đề nêu trên, có thể định nghĩa về đầu tư nước ngoài như
sau: “Đầu tư nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa tiền và các
tài sản hợp pháp khác vào Việt Nam thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế;
đầu tư góp vốn; mua cổ phần; phần vốn góp; của tổ chức kinh tế; đầu tư theo
hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư để tiến hành các hoạt động
kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận”.
1.1.2.Đặc điểm của đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, đầu tư nước ngoài là một hiện tượng luân chuyển dòng vốn
từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, các
quốc gia luôn tìm cách để phát triển không chỉ bằng nguồn lực trong nước mà
bằng các nguồn lực của các quốc gia khác, điều này đã tạo ra sự hợp tác đầu
tư toàn diện hơn đối với các quốc gia về vấn đề kinh tế. Tổ chức thương mại
quốc tế (WTO) đã trở thành cầu nối đối với các quốc gia lại với nhau trong
lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên xét về tổng thể thì đa phần các nước phát triển tiếp
chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.
12
Thứ tư, hoạt động đầu tư nước ngoài phải mang tính tìm kiếm lợi nhuận.
Các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam đều mong muốn
tìm kiếm lợi nhuận, điều này được phản ánh trong bản chất của đầu tư là
mang lại giá trị thặng dư lúc sau sẽ lớn hơn so với vốn đầu tư ban đầu. Thông
qua các hình thức đầu tư các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tìm kiếm cho mình
những cơ hội, thị trường để có thể tìm kiếm lợi nhuận một cách tốt nhất. Theo
thống kê, các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành các hoạt động đầu tư tại Việt
Nam đa phần tập trung nhiều nhất ở các khu công nghiệp, với nguồn lao động
trẻ, dồi dào và giá thành hợp lý đã tạo ra một khoản lợi nhuận khổng lồ cho
nhà đầu tư nước ngoài, điều này còn thể hiện qua ngân sách đóng góp của nhà
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Do đó, có thể thấy rằng, đầu tư nước ngoài
phải mang tính lợi nhuận thông qua các dự án đầu tư, tuy nhiên bên cạnh tính
lợi nhuận thì các nhà đầu tư nước ngoài cũng phải đảm bảo các nghĩa vụ,
trách nhiệm xã hội. Đây là vấn đề nhà nước luôn quan tâm và xem là một sự
cam kết giữa quốc gia Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài.
1.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI)
là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác
bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước
ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Tổ chức thương mại thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước
(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư)
cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt
về kết quả kinh doanh. Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là
nước chủ nhà không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh,
thu ngay được tiền thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho người lao động.
14
Mặt khác, do độc lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ
động đầu tư và để cạnh tranh, họ thường đầu tư công nghệ mới, phương tiện
kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình
độ tay nghề người lao động. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước chủ nhà
khó tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát được
đối tác đầu tư nước ngoài và không có lợi nhuận.
Hình thức cũng rất phổ biến ở Việt Nam là thành lập doanh nghiệp liên
doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, doanh
nghiệp được thành lập tại nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa
các bên hoặc các bên nước chủ nhà với các Bên nước ngoài để đầu tư kinh
doanh tại nước sở tại. Như vậy, hình thức doanh nghiệp liên doanh tạo nên
pháp nhân đồng sở hữu nhưng địa điểm đầu tư phải ở nước sở tại. Hình thức
doanh nghiệp liên doanh có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình trạng
thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế
nhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa
sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm
quản lý của nước ngoài. Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc
kiểm soát được đối tác nước ngoài. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công
cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả,
tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập
vào nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ
xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể
có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn
thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước. Ưu điểm của hình
thức này là thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết cấu hạ tầng, đòi hỏi lượng
vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm áp lực vốn cho ngân sách
16
nhà nước. Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển giao có được những công
trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực khác để phát triển kinh
tế. Tuy nhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độ rủi ro cao, đặc biệt là rủi
ro chính sách; nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý, công nghệ.
Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp: Khi thị trường
chứng khoán phát triển, các kênh đầu tư gián tiếp (FPI) được khai thông, nhà
đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần, mua lại các doanh nghiệp ở nước
sở tại, nhiều nhà đầu tư rất ưa thích hình thức đầu tư này.
Ở đây, về mặt khái niệm, có vấn đề ranh giới tỷ lệ cổ phần mà nhà đầu
tư nước ngoài mua - ranh giới giúp phân định FDI với FPI. Khi nhà đầu tư
nước ngoài tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán
nước sở tại, họ tạo nên kênh đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI). Tuy nhiên, khi
tỷ lệ sở hữu cổ phiếu vượt quá giới hạn nào đó cho phép họ có quyền tham
gia quản lý doanh nghiệp thì họ trở thành nhà đầu tư FDI. Hình thức mua cổ
phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp có ưu điểm cơ bản là để thu hút vốn
và có thể thu hút vốn nhanh, giúp phục hồi hoạt động của những doanh
nghiệp bên bờ vực phá sản. Nhược điểm cơ bản là dễ gây tác động đến sự ổn
định của thị trường tài chính. Về phía nhà đầu tư, đây là hình thức giúp họ đa
dạng hoá hoạt động đầu tư tài chính, san sẻ rủi ro nhưng cũng là hình thức đòi
hỏi thủ tục pháp lý rắc rối hơn và thường bị ràng buộc, hạn chế từ phía nước
chủ nhà.
1.3.Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam
Mỗi hiện tượng, sự vật đều có hai mặt. Vì vậy, hoạt động đầu tư nước
USD [37, tr.4].
Hai là, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu
Sự phát triển của đầu tư nước ngoài đã tạo ra một hệ thống các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển đáng kể. Nhà nước với chức năng
phát triển kinh tế luôn tạo điều kiện để hoạt động đầu tư nước ngoài phát
18
triển, trong các biện pháp điều kiện đó, là sự ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu,
ưu đãi đối với các dự án đầu tư tại các nơi khu chế xuất, khu công nghiệp, khu
kinh tế điều này làm cho hoạt động xuất nhập khẩu với Việt Nam phát triển.
Theo báo cáo kỷ yếu 25 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trước
năm 2001, xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài chỉ đạt 45,2% tổng kim
ngạch, kể cả dầu thô. Từ năm 2003, xuất khẩu của khu vực này bắt đầu vượt
khu vực trong nước và dần trở thành nhân tố chính thúc đẩy xuất khẩu, chiếm
khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012. Không chỉ vậy, đầu tư
nước ngoài còn thay đổi cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ
trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng tỷ trọng mặt hàng chế tạo.
Một trong các thị trường đáng kể đó là thông qua kênh đầu tư nước ngoài,
Việt Nam tích cực mở rộng thị trường xuất khẩu như: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản,
Hàn Quốc....
Ba là, đầu tư nước ngoài còn góp phần tăng ngân sách nhà nước
Thông qua các hoạt động đầu tư tại Việt Nam, các nhà đầu tư nước
ngoài tiến hành các hoạt động kinh doanh tại Việt Nam phải chịu các loại
thuế, điều này sẽ góp phần bổ sung vào ngân sách nhà nước, tạo ra một nguồn
thu chủ yếu và thường xuyên đối với ngân sách nhà nước.
Bốn là, đầu tư nước ngoài kéo theo việc chuyển giao công nghệ.
Việt Nam là quốc gia đang phát triển, các doanh nghiệp chủ yếu thuộc
dạng nhỏ và vừa. Do đó, việc tranh thủ ngồn vốn để nâng cao hiệu quả kinh
Điều lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 1977 là một văn bản luật đầu
tiên điều chỉnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tuy nhiên đối tượng đầu tư
vào Việt Nam chỉ dừng lại ở một số nước xã hội chủ nghĩa.
Sự phát triển kinh tế toàn cầu đã làm cho các quốc gia hợp tác ngày
càng nhiều, nhiều vùng kinh tế được thành lập và phát triển. Trong bối cảnh
đó, Việt Nam không thể tự nhốt mình, do đó sự hợp tác, hội nhập là điều tất
20