TÀI LIỆU THAM KHẢO
NÂNG CAO NHẬN THỨC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HỌC ĐƯỜNG
DÀNH CHO GIÁO VIÊN - LỚP 7
Đồng Nai, năm 2013
Tài liệu dành cho giáo viên - Nâng cao nhận thức Bảo vệ môi trường - Lớp 7
BÀI 1.
MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
MỤC TIÊU BÀI HỌC
-
Giúp các em ôn lại kiến thức đã học về nguyên nhân ô nhiễm không khí, qua đó nêu ra
nguồn gây ô nhiễm không khí và các chất gây ô nhiễm không khí.
-
Giúp cho các em phân biệt nguồn gốc gây ô nhiễm không khí trong nhà và không khí xung
quanh.
PHẠM VI TÍCH HỢP/ HỔ TRỢ KIẾN THỨC
-
Môn: VẬT LÝ 7
Bài 15. Chống ô nhiễm tiếng ồn
Không khí khô: là hỗn hợp của một số loại khí, trong đó thành phần chủ yếu như sau:
Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai
1
Tài liệu dành cho giáo viên - Nâng cao nhận thức Bảo vệ môi trường - Lớp 7
Bảng 1-1 Thành phần hoá học của không khí khô
Thành phần
Ký hiệu
% thể tích
Nitơ
N2
78,084
Oxy
O2
20,9476
Argon
SO2
0,0001
Hydro
H2
0,00005
-
0,000308
Các khí khác
Tổng cộng (%)
100
(Nguồn: ASHRAE (1985). ASHRAE Handbook – Fundamental, New York)
Không khí ẩm: Không khí ẩm: được định nghĩa là sự kết hợp giữa hai thành phần
không khí khô và hơi nước.
2. Không khí trong nhà
Chắc hẳn ai cũng đã biết và cũng đã nghe nhiều về tình trạng chất lượng không khí quá
kém, quá ô nhiễm ở các thành phố, đặc biệt là các thành phố lớn. Thế nhưng, những cảnh báo
đó chỉ mới dành cho không khí ở ngoài trời, trên đường phố…, và chúng ta đã biết gì về tình
trạng không khí trong ngôi nhà của mình.
Các tổ chức xây dựng, môi trường thế giới gần đây đã cảnh báo rằng, không khí trong nhà
có nhiều nguy cơ ô nhiễm hơn bên ngoài. (Thật vậy, người ta thường nói đi ra ngoài cho
thoáng mát, hít không khí trong lành… chứ đâu có ai bảo vô nhà hít không khí trong lành).
Chất gây ô nhiễm sơ cấp:
Chủ yếu phát sinh trực tiếp từ một quá trình, chẳng hạn như tro từ một vụ phun trào núi
lửa, khí carbon oxit (CO) từ một chiếc xe khí thải động cơ hay khí sulfurơ (SO2) phát thải
từ các nhà máy,….
Chất gây ô nhiễm sơ cấp phát sinh do tự nhiên và hoạt động của con người như:
Khí sulfurơ (SO2) - là chất gây ô nhiễm không khí có nồng độ thấp trong khí quyển,
tập trung chủ yếu ở tầng đối lưu. Khí sulfurơ sinh ra do núi lửa phun, do đốt nhiên liệu
than, dầu, khí đốt, sinh khối thực vật, quặng sunfua,.v.v... và trong các quá trình công
nghiệp khác nhau. SO2 trong không khí khi gặp oxy và nước tạo thành axit, tập trung
trong nước mưa gây ra hiện tượng mưa axit. Đây là một trong những nguyên nhân cho
mối lo ngại về tác động môi trường của việc sử dụng các nhiên liệu như các nguồn năng
lượng.
Các oxit nitơ (NOx): NOx được dùng để chỉ hỗn hợp nitơ oxit và nitơ dioxit (NO) và
NO2) trong không khí đồng thời cùng có mặt. NOx kết hợp với Hemoglobin (Hb) tạo
thành. Ở các khu đô thị, giao thông thải ra khoảng 50% lượng NOx trong không khí.
-
Đặc biệt là nitơ dioxit (NO2) phát thải từ lò đốt ở nhiệt độ cao và cũng phát sinh từ
tự nhiên do phóng điện trong các cơn dông. Có thể nhìn thấy ở dạng chùm mây mù
màu nâu trên trời hoặc theo hướng gió của thành phố. NO2 là một trong những chất
gây ô nhiễm không khí nổi bật nhất.
-
Đinitơ oxit (N2O): là loại khí gây hiệu ứng nhà kính, được sinh ra trong quá trình
đốt các nhiên liệu hoá thạch. Hàm lượng của nó đang tăng dần trên phạm vi toàn
cầu, hàng năm khoảng từ 0,2 -0,3%. Một lượng nhỏ N2O khác xâm nhập vào khí
quyển do kết quả của quá trình nitrat hoá các loại phân bón hữu cơ và vô cơ. N2O
xâm nhập vào không khí sẽ không thay đổi dạng trong thời gian dài, chỉ khi đạt tới
những tầng trên của khí quyển nó mới tác động một cách chậm chạp với nguyên tử
-
Các VOC hydrocacbon khác (NMVOC) cũng là khí nhà kính đáng kể thông qua vai
trò tạo ra ozôn và trong việc kéo dài tuổi thọ của mêtan trong khí quyển; mức độ tác
động khác nhau tùy thuộc vào chất lượng không khí địa phương. Trong NMVOCs,
các hợp chất thơm benzen, toluen và xylen có thể là chất gây ung thư và có thể dẫn
đến bệnh bạch cầu.
Cloroflorocacbon (CFC): là những hoá chất do con người tổng hợp để sử dụng trong
nhiều ngành công nghiệp và từ đó xâm nhập vào khí quyển. CFC11 hoặc CFCl3 hoặc
CFCl2 hoặc CF2Cl2 (còn gọi là freon12 hoặc F12) là những chất thông dụng của CFC.
Một lượng nhỏ CFC khác là CHC1F2 (hoặc F22), CCl4 và CF4 cũng xâm nhập vào khí
quyển. Cả hai hợp chất CFC11 và CFC12 hoặc freon đều là những hợp chất có ý nghĩa
kinh tế cao, việc sản xuất và sử dụng chúng đã tăng lên rất nhanh trong hai thập kỷ vừa
qua. Chúng tồn tại cả ở dạng sol khí và không sol khí. Dạng sol khí thường làm tổn hại
tầng ozôn, do đó là sự báo động về môi trường, những dạng không sol khí thì vẫn tiếp tục
sản xuất và ngày càng tăng về số lượng. CFC có tính ổn định cao và không bị phân huỷ.
Khi CFC đạt tới thượng tầng khí quyển chúng sẽ được các tia cực tím phân huỷ. Tốc độ
phân huỷ CFC sẽ rất nhanh nếu tầng ôzôn bị tổn thương và các bức xạ cực tím tới được
những tầng khí quyển thấp hơn.
Bụi (PM): là các hạt nhỏ rắn lơ lửng trong không khí. Bụi có thể xảy ra tự nhiên, có
nguồn gốc từ núi lửa, bão bụi, rừng, cháy đồng cỏ, thảm thực vật sống, và bụi nước biển.
Hoạt động của con người, chẳng hạn như việc đốt các nhiên liệu hóa thạch trong xe, các
nhà máy điện và các quá trình công nghiệp khác nhau cũng tạo ra một lượng đáng kể các
sol khí.
Các gốc tự do kết nối với bụi mịn trong không khí.
Kim loại độc hại như chì và thủy ngân, đặc biệt là hợp chất của chúng.
Amoniac (NH3) phát sinh từ các quá trình nông nghiệp, là loại khí có mùi hăng đặc
trưng.
Mùi từ rác thải, nước thải và các quá trình công nghiệp
Ô nhiễm vật lý: nhiệt độ, độ ồn, rung, ánh sáng, độ ẩm, tốc độ gió..., ô nhiễm chất
phóng xạ.
Vi sinh vật: vi trùng, vi rút, nấm mốc…
3. Nguồn gây ô nhiễm không khí ngoài trời:
Nguồn gây ô nhiễm không khí liên quan đến các hoạt động địa phương, các yếu tố chịu
trách nhiệm cho việc phát thải các chất ô nhiễm vào khí quyển.
Ô nhiễm không khí có thể do nhiều nguồn khác nhau, có nhiều cách để phân loại các nguồn
gây ô nhiễm.
a) Theo nguồn phát sinh (do tự nhiên hay nhân tạo)
Nguồn tự nhiên: núi lửa, động đất, bụi tạo thành do bão cát, sự phân tán của phấn hoa, mùi
hôi của các quá trình phân hủy sinh học.
Ô nhiễm do hoạt động của núi lửa: Hoạt động của núi lửa phun ra một lượng khổng
lồ các chất ô nhiễm như tro bụi, khí SOx NOx, có tác hại nặng nề và lâu dài tới môi
trường.
Ô nhiễm do cháy rừng: Cháy rừng do các nguyên nhân tự nhiên cũng như các hoạt
động thiếu ý thức của con người, chất ô nhiễm như khói, bụi, khí SOx NOx, CO,
THC .
Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai
5
Tài liệu dành cho giáo viên - Nâng cao nhận thức Bảo vệ môi trường - Lớp 7
bay, tàu hỏa…
b) Theo tính chất hoạt động
-
Do các quá trình tự nhiên gây ra: núi lửa, cháy rừng, do phân hủy các chất hữu cơ
trong tự nhiên, do đại dương. Tổng hợp các yếu tố gây ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên
rất lớn nhưng phân bố tương đối đồng đều, không tập trung trong một vùng. Trong quá
trình phát triển, con người đã thích nghi với các nguồn này. Cụ thể:
Bụi từ các nguồn tự nhiên, thông thường ở những vùng đất rộng lớn với ít hoặc
không có thảm thực vật
Khí mêtan, phát ra bởi quá trình tiêu hóa thức ăn động vật, ví dụ như gia súc
Khí radon từ quá trình phân rã phóng xạ trong lớp vỏ trái đất. Radon là khí phóng
xạ trơ không màu, không mùi, được hình thành từ sự phân rã của radium. Nó được
coi là một mối nguy hiểm sức khỏe. Khí radon từ các nguồn tự nhiên có thể tích lũy
trong các tòa nhà, đặc biệt là trong khu vực kín như tầng hầm và nó là nguyên nhân
phổ biến thứ hai của ung thư phổi, sau thuốc lá.
Khói và khí cacbon oxít (CO) từ cháy rừng
Hoạt động núi lửa, sản xuất lưu huỳnh, clo, và tro bụi
Thảm thực vật, trong một số khu vực, phát ra môi trường một lượng đáng kể của
các hợp chất bay hơi (VOC) vào những ngày ấm áp.
-
Do các quá trình sản xuất công nghiệp
Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất của con người. Các quá trình gây ô nhiễm là quá
trình đốt các nhiên liệu hóa thạch: than, dầu, khí đốt tạo ra: cacbon đioxit (CO2), cacbon
oxit (CO), sunfurơ (SO2), các nitơ oxit (NOx) và các chất hữu cơ chưa cháy hết: muội
than, bụi, quá trình thất thoát, rò rỉ trên dây chuyền công nghệ, các quá trình vận
chuyển các hóa chất bay hơi, bụi và từ lò đốt chất thải.
-
Do hoạt động sinh hoạt
Là nguồn gây ô nhiễm tương đối nhỏ, chủ yếu là các hoạt động đun nấu sử dụng nhiên
liệu nhưng đặc biệt gây ô nhiễm cục bộ trong một hộ gia đình hoặc vài hộ xung quanh.
Tác nhân gây ô nhiễm chủ yếu: cacbon oxit (CO), bụi, khí thải từ các nhà máy, xe cộ,..
Tại các nước phát triển và các nước nghèo, việc đốt sinh khối truyền thống là nguồn
gốc chính phát thải chất gây ô nhiễm không khí. Sinh khối truyền thống bao gồm gỗ,
chất thải cây trồng và phân.
c) Theo bố trí hình học
Có thể chia nguồn ô nhiễm thành ba nhóm như sau:
Điểm ô nhiễm: ống khói các nhà máy, các nhà máy, thiết bị sản xuất cụ thể (các nguồn
cố định).
Đường ô nhiễm: đường giao thông các loại: đường bộ, đường hàng không, đường
thủy…
Vùng ô nhiễm: bao gồm nhiều điểm ô nhiễm được bố trí gần nhau như khu tập trung
nhiều trang trại chăn nuôi, khu công nghiệp tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp công
nghiệp…
d) Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng không khí xung quanh
Tại Việt Nam, để đánh giá chất lượng môi trường không khí xung quanh, Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về Chất lượng không
khí xung quanh QCVN05:2009/BTNMT và QCVN06:2009/BTNMT kèm theo Thông tư số
16/2009/TT-BTNMT.
Phạm vi áp dụng:
Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai
người ta lại thường đóng kín cửa sổ (để chống ồn và chống rét) khiến các loại khí độc
hại không thoát ra ngoài được
2. Từ các vật nuôi trong nhà, sâu bọ, gián – sinh ra vi khuẩn
Các loại vi khuẩn và các chất dễ gây dị ứng phát ra từ các vật nuôi trong nhà (chó,
mèo,…) hay những loại sâu bọ, gián... thường khó nhìn thấy trong không khí, nhưng về
Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai
8
Tài liệu dành cho giáo viên - Nâng cao nhận thức Bảo vệ môi trường - Lớp 7
mặt hoá học thì có: chúng thường xuất hiện trong khí đốt của máy sưởi ấm nhà, hoặc
trên những miếng dùng để nướng đồ ăn, khói thuốc lá, mùi sơn tường, mùi cồn, vécni...
3. Từ các nơi ẩm ướt trong nhà – sinh ra nấm mốc
Nấm mốc sinh ra từ các nguồn ẩm ướt, hoặc vệ sinh không đúng, cũng sẽ làm tăng
thêm lượng khí cacbonic và mùi hôi trong phòng ở.
Bụi và các tạp chất khí kể trên luôn bay lơ lửng trong không khí kèm theo các loại vi
trùng, dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe con người.
4. Bếp lò, lò sưởi
Thiết bị nhiệt, đặc biệt là bếp gas, có thể tạo ra khí cacbon oxit và nitơ đioxit là chất
gây ô nhiễm chính gây ra nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi, và thậm chí tử vong nếu
không được thông gió đúng cách. Các thiết bị khác, chẳng hạn như máy nước nóng,
máy sấy, v.v,… cũng phát ra các loại khí tương tự.
Hiện nay nhiều gia đình ở nước ta vẫn dùng than làm chất đốt. Bếp than thải ra một
lượng bụi, khí cacbonic khá lớn, nhưng dù dùng bếp dầu trong nhà cũng không tránh
được việc thải ra bụi, khí cacbonic. Ngoài ra, trong quá trình xào nấu thức ăn sẽ bốc ra
các hạt chất dầu mỡ làm ô nhiễm không khí trong bếp.
5. Do tẩy rửa và thuốc diệt côn trùng
8. Do sơn, đánh bóng đồ gỗ: khi khô, mọi loại sơn đều phát ra các hợp chất hữu cơ dễ bay
hơi (VOC) gây ra nhức đầu, buồn nôn hay chóng mặt. Các sản phẩm như chất tẩy sơn,
chất tẩy dính và sơn dạng bình xịt cũng có thể chứa metylen clor, là chất gây ra ung thư
ở động vật.
9. Phương tiện đi lại để trong nhà để xe - là nguồn chính của khí cacbon oxít, phát thải khí
độc hại này thường bắt đầu trong nhà để xe riêng của chúng ta.
Tiêu chuẩn đánh giá
- Hiện tại, môi trường không khí bên trong của các cơ sở, đơn vị sản xuất được đánh giá
dựa theo 21 tiêu chuẩn Vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động do
Bộ truởng Bộ Y tế ban hành ngày 10 tháng 10 năm 2002 tại Quyết định số 3733/2002/QĐ
– BYT. Trong đó, hai mươi mốt (21) tiêu chuẩn Vệ sinh lao động được áp dụng cho các cơ
sở có sử dụng lao động.
Phần trả lời câu hỏi trong sách học sinh:
1. Khói thuốc lá ; 2- Vi khuẩn, nấm mốc; 3.- Lò sưởi; 4 - Sản phẩm tẩy rửa
5. Sản phẩm nhựa; 6 - giường tủ mới; 7- Sơn; 8 - xe hơi
Đáp án phần trong sách học sinh:
nguồn tự nhiên – núi lửa
nguồn nhân tạo
nguồn nhân tạo – công nghiêp
chất ô nhiễm: bụi, nhiệt
chất ô nhiễm trong nước thải
chất ô nhiễm: bụi, CO2
nguồn nhân tạo – phương tiện
chất ô nhiễm bụi, CO2
chất ô nhiễm: formandehit
nguồn tự nhiên – bò ợ, xì hơi
nguồn nhân tạo – khói xe
nguồn tự nhiên – cháy rừng
chất ô nhiễm: mêtan
chất ô nhiễm: CO2, bụi, …
chất ô nhiễm: CO2, bụi, nhiệt
BÀI ĐỌC THÊM:
HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TỈNH ĐỒNG NAI
(Nguồn: Trung tâm Quan trắc và kỹ thuật môi trường Đồng Nai, 2013)
1. Giới thiệu về mạng lưới quan trắc chất lượng không khí Tỉnh Đồng Nai
Từ năm 2012 đến năm 2013, mạng lưới quan trắc không khí tỉnh Đồng Nai đã bố trí thực hiện
quan trắc tại 2 khu vực: khu vực nền và khu vực tác động gồm (KCN, dân cư, giao thông, khu
vực chôn lấp chất thải rắn) với 79 vị trí.
- Khu vực nền: bố trí 1 vị trí quan trắc tại (Vườn Quốc gia Cát Tiên).
- Khu vực tác động:
+ Khu vực công nghiệp: quan trắc tại 16 khu công nghiệp với 34 vị trí.
+ Khu vực dân cư: bố trí 25 vị trí quan trắc.
+ Khu vực chôn lấp chất thải rắn: bố trí 10 vị trí.
Lắp đặt 02 trạm quan trắc không khí tự động cố định.
Năm 2013 sử dụng xe quan trắc không khí tự động di động để thực hiện quan trắc 24/24 giờ tại
trắc hầu hết đều đạt quy chuẩn cho phép. Trong đó, đặc trưng ô nhiễm chủ yếu tại khu vực
xung quanh các KCN là ô nhiễm bụi, nguyên nhân do:
Hoạt động giao thông.
Hoạt động xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng đô thị, công nghiệp.
Hoạt động sinh hoạt của các khu vực dân cư xung quanh.
2.2. Chất lượng môi trường không khí khu dân cư
Chất lượng không khí các khu vực dân cư
trên địa bàn tỉnh Đồng Nai còn tốt. Kết quả
quan trắc nồng độ các chất ô nhiễm (SO2,
NOx, CO và tiếng ồn) tại các vị trí quan trắc
hầu hết đều đạt quy chuẩn cho phép.
Ô nhiễm phát hiện chủ yếu tại khu vực dân
cư là ô nhiễm bụi. Nguyên nhân do:
Hoạt động giao thông.
Hoạt động sinh hoạt của khu dân cư.
Vận chuyển vật liệu xây dựng khu dân cư.
Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai
12
Tài liệu dành cho giáo viên - Nâng cao nhận thức Bảo vệ môi trường - Lớp 7
2.3. Chất lượng môi trường không khí khu chôn lấp CTR
Chất lượng môi trường không khí tại các khu vực chôn lấp chất thải rắn còn tốt.
Kết quả quan trắc nồng độ các chất ô nhiễm trong không khí (SO2, NOx, CO, NH3, H2S) đều
đạt quy chuẩn cho phép.
Ô nhiễm chủ yếu tại khu vực chôn lấp
chất thải rắn là ô nhiễm bụi. Nguyên
Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai
13
Tài liệu dành cho giáo viên - Nâng cao nhận thức Bảo vệ môi trường - Lớp 7
o Phương pháp 1: Sử dụng bảng đối chiếu (Anh, Pháp, Canada)
o Phương pháp 2: Sử dụng công thức đơn giản ( Úc , Thành phố Hồ Chí Minh)
o Phương pháp 3: Sử dụng công thức phức tạp (Mỹ, Braxin, Hồng Kông, Hàn
Quốc, Thái Lan, Bồ Đào Nha).
a) Phương pháp 1:
Phương pháp tính AQI áp dụng tại Anh
Các thông số dùng để tính AQI: NO2, SO2, O3, CO, bụi PM10
Các mức AQI như sau:
Thang màu
Mức AQI
Thấp : từ 1 ÷ 3
Trung bình : từ 4 ÷ 6
Cao : từ 7 ÷ 9
Rất cao: từ 10 trở lên
Bảng 1-2 Bảng đối chiếu AQI
O3
NO2
Trung bình giờ
17-32 96-190
50-99
89-176
3
66-99
STT
SO2
CO
bụi - PM10
Trung bình15 phút Trung bình 8 giờ Trung bình 24 giờ
ppm
μg/m3
0-3,8
0-3,2
0-21
33-66
126-153 63-76 362-477 200-249 355-442 133-166 13,5-15,4 11,6-13,2
75-86
6
154-179 77-89 478-572 250-299 443-531 167-199 15,5-17,3 13,3-14,9
87-96
7
180-239 90-119 573-635 300-332 532-708 200-266 17,4-19,2 15,0-16,5
97-107
8
240-299 120-149 636-700 333-366 709-886 267-332 19,3-21,2 16,6-18,2
108-118
9
300-359 150-179 701-763 367-399 887-1063333-399 21,3-23,1 18,3-19,9
119-129
Cao
Phương pháp tính toán AQI đã áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh, Úc.
Tại mỗi trạm, AQI sẽ được tính cho từng chất theo 2 loại là AQI theo giờ và AQI
theo ngày. So sánh AQI max của tất cả các thông số trong trạm, giá trị AQI nào lớn
nhất sẽ là chỉ số chất lượng không khí của trạm quan trắc tương ứng trong ngày.
AQI theo từng loại sẽ có giá trị bằng trung bình cộng các giá trị AQI của các trạm
thuộc cùng 1 loại .
Tiêu chuẩn áp dụng so sánh: QCVN05:2009/BTNMT - Quy chuẩn Kỹ thuật quốc
gia về Chất lượng không khí xung quanh.
Bảng 1-3 Các mức AQI tại Thành phố Hồ Chí Minh
Nhóm điểm
Chất lượng không khí
Ảnh hưởng sức khỏe
0 → 50
Tốt
51→ 100
Trung bình
Nhóm nhạy cảm, đôi khi nên giới
hạn thời gian ở ngoài nhà.
101→ 200
Kém
Tốt
Trung bình
Không tốt đối với nhóm nhạy cảm
Không tốt, có hại cho sức khỏe
Rất có hại cho sức khỏe
Nguy hiểm
Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai
15
Tài liệu dành cho giáo viên - Nâng cao nhận thức Bảo vệ môi trường - Lớp 7
2. Phương pháp tính AQI do Tổng cục Môi trường Việt Nam ban hành (ngày 01/07/2011)
a) Mục đích của việc sử dụng chỉ số chất lượng không khí
-
Đánh giá nhanh chất lượng không khí một cách tổng quát;
-
Có thể được sử dụng như một nguồn dữ liệu để xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng
không khí;
-
Cung cấp thông tin môi trường cho cộng đồng một cách đơn giản, dễ hiểu, trực quan;
-
thông số sẽ tính toán được 24 giá trị AQIxh giờ, tương ứng sẽ tính toán được 24 giá trị
AQI theo giờ để đánh giá chất lượng môi trường không khí xung quanh và mức độ ảnh
hưởng tới sức khỏe con người theo giờ.
Tính toán giá trị AQI theo ngày
Giá trị AQI theo ngày của từng thông số
Đầu tiên tính giá trị trung gian là AQI trung bình 24 giờ của từng thông số theo công
thức sau đây:
AQI x24h
Với:
TS x
.100
QCx
TSx: giá trị quan trắc trung bình 24 giờ của thông số X
QCx: giá trị quy chuẩn trung bình 24 giờ của thông số X
AQIx24: giá trị AQI tính bằng giá trị trung bình 24 giờ của thông số X (được làm
tròn thành số nguyên).
Lưu ý: không tính giá trị AQI24hO3.
Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai
16
Tài liệu dành cho giáo viên - Nâng cao nhận thức Bảo vệ môi trường - Lớp 7
Trung bình
năm
1.
SO2
350
-
125
50
2.
CO
30.000
10.000
5.000
-
3.
200
140
6.
Bụi ≤ 10 μm (PM10)
-
-
150
50
Ghi chú: Dấu (-) là không quy định.
c) So sánh chỉ số chất lượng không khí đã được tính toán
Sau khi tính toán được chỉ số chất lượng không khí, sử dụng bảng xác định giá trị
AQI tương ứng với mức cảnh báo chất lượng không khí và mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe
con người để so sánh, đánh giá, cụ thể như sau:
Khoảng giá
trị AQI
Chất lượng
không khí
0 – 50
Tốt
Đỏ
Trên 300
Nguy hại
Mọi người nên ở trong nhà
Nâu
Ghi chú: Nhóm nhạy cảm bao gồm: trẻ em, người già và những người mắc bệnh hô hấp
(nguồn: Quyết định số 878/QĐ-TCMT , ngày 01/07/2011của Tổng cục Môi trường)
Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai
17
Tài liệu dành cho giáo viên - Nâng cao nhận thức Bảo vệ môi trường - Lớp 7
Ô NHIỄM TIẾNG ỒN
1. Giới thiệu về ô nhiễm tiếng ồn:
Ô nhiễm tiếng ồn xảy ra khi tiếng ồn to, kéo dài gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và hoạt
động bình thường của con người.
Ô nhiễm tiếng ồn chủ yếu là do con người tạo ra, trong các hoạt động về giao thông, xây
dựng, sản xuất công nghiệp và trong sinh hoạt hàng ngày.
a) Giao thông
Hiện nay, phương tiện giao thông đang ngày càng tăng với mức độ
chóng mặt, mật độ xe lưu thông trên đường phố ngày càng lớn, gây
nên ô nhiễm về tiếng ồn do tiếng của động cơ, tiếng còi, cũng như
Xe mô tô 1 xylanh - 2 thì
80
(Nguồn : Gíáo trình Ô nhiễm không khí, NXB ĐHQG-TPHCM 2007)
b) Xây dựng
Việc sử dụng các loại máy móc, thiết bị trong xây dựng là khá phổ biến. Đây là 1 nguồn
gây ô nhiễm tiếng ồn đáng kể.
Bảng 1-6 Mức độ ồn của một số phương tiện trong ngành xây dựng
TT
Các phương tiện
Mức ồn cách nguồn 15m (dBA)
Khoảng
Trung bình
Mức ồn cách Mức ồn cách nguồn
nguồn 50m (dBA)
100m (dBA)
1
Xe lu
72,0 74,0
73,0
18
Tài liệu dành cho giáo viên - Nâng cao nhận thức Bảo vệ môi trường - Lớp 7
TT
Mức ồn cách nguồn 15m (dBA)
Các phương tiện
Khoảng
Trung bình
Mức ồn cách Mức ồn cách nguồn
nguồn 50m (dBA)
100m (dBA)
4
Máy trộn bê tông
75,0 88,0
81,5
64,5
58,5
88,0
71,5
65,5
10
Máy khoan
87,0 114
100,5
76,0
70,5
6
Máy cắt kim loại
84,0
73,5
67,5
7
100 ÷ 120
Xưởng gò
113 ÷ 114
Xưởng đúc
112
Máy cưa
82 ÷ 85
Máy đập
85
( nguồn: Gíáo trình Ô nhiễm không khí, NXB ĐHQG-TPHCM 2007)
d) Sinh hoạt
Việc bật máy nghe nhạc quá lớn cũng gây tác động không nhỏ đến thính giác của người
xung quanh, nhất là trong các quán ăn, vũ trường hay quán bar. Đây là nguồn gây ô nhiễm
mà được xem là khó xử lý nhất và chỉ dựa vào ý thức của người dân là chủ yếu trong công
tác khắc phục.
Thiết bị/Hoạt động
Mức ồn dB
Máy hút bụi
75 - 85
Máy sấy tóc
60 - 95
Chuông điện thoại
80
( Nguồn: tổng hợp)
2. Tác hại của tiếng ồn
a) Mức âm nguy hiểm
Tai người có thể tiếp nhận những âm thanh có cường độ lên tới 140 dB. Nhưng
ngay sau đó, có thể tai chúng ta sẽ cảm thấy đau đớn vô cùng; trên thực tế những âm thanh
lớn này có thể gây tổn hại tới màng nhĩ của tai người.
Càng về già, khả năng tiếp nhận âm thanh của tai càng giảm xuống do khả năng
linh hoạt của các xương ở tai không còn được như trước. Do đó, khả năng truyền các rung
động vào tai trong cũng không được chính xác như lúc còn trẻ.
Ngưỡng nghe và ngưỡng chói tai: Âm thanh là những dao động cơ học được lan
truyền dưới hình thức sóng trong môi trường đàn hồi, nhưng không phải bất cứ sóng nào
đến tai cũng gây ra cảm giác âm thanh như nhau. Cường độ âm thanh nhỏ nhất ở một sóng
âm xác định mà tai người nghe thấy được gọi là ngưỡng nghe. Âm thanh có tần số khác
nhau giá trị ngưỡng nghe cũng khác nhau. Cường độ âm thanh lớn nhất mà tai người có thể
chịu được gọi là ngưỡng chói tai.
Bảng 1-8 Các mức âm gây ảnh hưởng đến tai người
Mức âm (dB)
>0
190
- Chỉ nghe trong thời gian ngắn đã nguy hiểm
( Nguồn: Giáo trình Điều hòa không khí và thông gió, 2013)
Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai
20
Tài liệu dành cho giáo viên - Nâng cao nhận thức Bảo vệ môi trường - Lớp 7
b) Các tổn thương do tiếng ồn gây ra:
Tiếng ồn dẫn đến các tổn thương chức năng (gây stress, rối loạn về tim mạch, tiêu hóa) và
thực thể (gây tổn thương tại ốc tai, cơ quan tiếp nhận âm thanh). Nó cũng tác động đến tâm
sinh lý, hành vi ứng xử của con người trong xã hội.
Người ta chia tác hại của tiếng ồn làm 4 mức độ:
Độ 1: Nguy hiểm, đe dọa tính mạng, mất khả năng giao tiếp, điếc vĩnh viễn.
Độ 2: Gây rối loạn chức năng và gây bệnh (stress, điếc có thể hồi phục và điếc vĩnh
viễn).
Độ 3: Ảnh hưởng đến khả năng lao động (stress, giảm kỹ năng thao tác và giao tiếp,
mất ngủ)
Độ 4: Ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống (mất sự yên tĩnh cá nhân, cản trở sự giao
tiếp, giảm thính lực).
Các ảnh hưởng có thể xảy ra âm thầm, từ từ hoặc tức thì, tùy theo cường độ lớn nhỏ của
tiếng ồn và thời gian tiếp xúc lâu hay mau.
Ảnh hưởng đến thính lực:
Tất cả các bộ phận trong tai đều đóng góp trong việc tạo ra thính giác: tai ngoài đưa tiếng
động vào màng nhĩ, tai giữa chuyển độ rung của màng nhĩ vào tai trong, và nơi đó sẽ tạo
khó khăn đi vào giấc ngủ. Nhiều khi thức giấc bất thường sẽ đưa tới thiếu ngủ và hậu quả
là sự mệt mỏi, buồn chán vào ngày hôm sau. Tiếng động trong khi ngủ cũng làm tăng huyết
Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai
21
Tài liệu dành cho giáo viên - Nâng cao nhận thức Bảo vệ môi trường - Lớp 7
áp, nhịp tim, co mạch máu ngoại vi và các cử động của cơ thể như trằn trọc, trở mình, co
chân duỗi tay. Khi tiếng ồn đạt tới 50dB về ban đêm, giấc ngủ bị đứt quãng, giấc ngủ sâu bị
tổn thất đến 60%.
Một điểm đáng lưu ý là trẻ em dường như có một cơ chế bảo vệ với tiếng động khi ngủ ban
đêm, nên các cháu vẫn ngủ ngon, ít bị thức giấc như người lớn. Tuy nhiên hệ thần kinh của
trẻ vẫn dễ bị ảnh hưởng và phản ứng.
Với bệnh tim mạch
Tiếp xúc lâu ngày với tiếng ồn đưa tới thay đổi chức năng của hệ thần kinh tự chủ, làm
tăng nhịp tim, huyết áp, sức cản mạch máu ngoại vi.
Nghiên cứu của TS. olfgang Babisch, người Đức cho thấy liên tục nghe tiếng ồn giao
thông ở mức độ 70dB có thể gia tăng rủi ro bệnh nhồi máu cơ tim.
Ảnh hưởng trên sự học hỏi
Khi trẻ em tiếp xúc thường xuyên với tiếng ồn thường xuyên thì sẽ gặp khó khăn trong việc
phát triển các kỹ năng nghe và nói, cho đến khi chúng bước vào tuổi thiếu niên. Những
nghiên cứu cho thấy khi trẻ em học tập trong một môi trường có quá nhiều tiếng ồn thì sẽ
tiếp thu bài học chậm hơn những trẻ em học tập trong những môi trường yên tĩnh.
Học tập trong những môi trường ồn ào sẽ bị nghèo nàn về từ ngữ cũng như kỹ năng nhận
thức bị hạn chế, kỹ năng viết cũng bị hạn chế.
Những trẻ em học trong những lớp học có gắn loa phóng thanh quá lớn cũng sẽ ảnh hưởng
đến sự tiếp thu bài giảng.
Ảnh hưởng lên sự thực hiện công việc
cáu gắt, có nguy cơ gây bệnh mãn tính nặng hơn.
Giảm sức đề kháng của cơ thể, tăng tỷ lệ mắc hội chứng dạ dày – tá tràng, rối loạn tiêu hoá.
Tác động lâu dài của tiếng ồn đối với con người gây ra bệnh mất ngủ, suy nhược thần kinh
và có thể gây bệnh tâm thần.
Dưới tác động trường diễn của tiếng ồn, có nguy cơ làm giảm hàm lượng của một số axít
amin không thể thay thế trong các mô gan và tim như lyzin, methionin, phenylalanin,
histidin.
Tiếng ồn còn làm thay đổi tỷ lệ thành phần các axít amin tự do trong huyết thanh và hồng
cầu như giảm treonin và alanin, tăng serin.
Phần đáp án trong sách học sinh: Tác hại của tiếng ồn qua các hình ảnh sau :
1. Ảnh hưởng thính lực
2. Ảnh hưởng khả năng học tập
3. Ảnh hưởng giấc ngủ
4. Ảnh hưởng mọi người xung quanh
5. Ảnh hưởng thính lực
6. Ảnh hưởng khả năng trao đổi, truyền thông trong công việc
7. Ảnh hưởng hành vi con người, đễ dẫn đến xung đột
8. Ảnh hưởng tim mạch
9. Ảnh hưởng đến không gian xung quanh, gây phiền toái đến người khác
3. Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn ở các quốc gia
a) Quy định kiểm soát tiếng ồn ở một số nước:
Mỹ thông qua Đạo luật Kiểm soát Tiếng ồn năm 1972. Nhiều thành phố cấm âm thanh quá
lớn ở khu dân cư vào ban đêm (thường là từ 10 giờ tối đến 6 giờ sáng hôm sau); ngưỡng
cường độ âm thanh này được nâng lên vào ban ngày.
Ở thành phố Portland (bang Oregon), ai gây ra âm thanh vượt ngưỡng sẽ bị phạt tới 5.000
USD/lần vi phạm, thậm chí bị phạt nhiều lần trong một ngày. Portland ra quy định không
chỉ dựa vào cường độ âm thanh tính theo đơn vị decibel (dB) mà còn dựa vào cả cao độ và
tần số.
Nhiều bang (trong đó có California tiên phong) yêu cầu các thành phố trực thuộc đưa yếu
tố tiếng ồn vào quy hoạch chung, có hướng dẫn chi tiết về quyết định quy hoạch đất đai để
Xác định mức độ ồn ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng theo các tiêu chuẩn cho
phép hiện hành;
Xác định ảnh hưởng của các nguồn gây tiếng ồn riêng biệt hay nhóm các nguồn gây
tiếng ồn;
Cung cấp thông tin giúp cho việc lập kế hoạch kiểm soát tiếng ồn;
Đánh giá diễn biến ô nhiễm tiếng ồn theo thời gian và không gian;
Cảnh báo về ô nhiễm tiếng ồn;
Đáp ứng các yêu cầu của công tác quản lý môi trường của Trung ương và địa
phương.
-
Thông số quan trắc
LAeq mức âm tương đương;
LAmax mức âm tương đương cực đại;
LAN,T mức phần trăm;
Phân tích tiếng ồn ở các dải tần số 1 ôcta (tại các khu công nghiệp);
Cường độ dòng xe (đối với tiếng ồn giao thông).
-
Thời gian và tần suất quan trắc:
Tần suất quan trắc tiếng ồn, tối thiểu phải là 04 lần/năm.
-
Thời gian quan trắc:
Đối với tiếng ồn tại các khu vực quy định và tiếng ồn giao thông: đo liên tục 12, 18
hoặc 24 giờ tuỳ theo yêu cầu;
Đối với tiếng ồn tại các cơ sở sản xuất, phải tiến hành đo trong giờ làm việc;