HỆ QUẢ CỦA TOÀN CẦU HOÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, dưới tác động của các nhân tố thời
đại. Toàn cầu hoá trở thành một xu thế khách quan với những hiện tượng sôi
động, phức tạp, tác động và diễn ra ở hầu khắp mọi nơi trên thế giới. Những
năm gần đây toàn cầu hoá được bàn luận sôi nổi trên thế giới cũng như ở
nước ta, nó trở thành vấn đề trung tâm của lý luận và có ý nghĩa thực tiễn lớn
lao. Đặc biệt đối với nước ta hiện nay, trong điều kiện chúng ta mở cửa, tham
gia hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, gia nhập tổ chức thương mại thế giới
(WTO), nghiên cứu hệ quả của toàn cầu hoá và tác động ảnh hưởng của nó
đối với quá trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực của nước ta là một vấn
đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, thông qua đó để chúng ta nhận thức và thực
hiện tốt quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Toàn cầu hoá mà cốt lõi là toàn cầu hoá kinh tế, là một quá trình mà
các nền kinh tế của các quốc gia dân tộc trên thế giới liên kết với nhau, thâm
nhập vào nhau, tác động lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau tạo thành một chỉnh
thể của nền kinh tế thế giới và được quy định bởi các định chế kinh tế quốc tế.
Quá trình đó chỉ hoạt động kinh tế của một nước đã vượt ra khỏi biên giới
quốc gia, từ đó làm cho hoạt động kinh tế và vận hành kinh tế có nội dung và
ý nghĩa quốc tế. Xét về thể chế kinh tế, đó là kinh tế mở cửa ra bên ngoài vừa
xuất khẩu vừa nhập khẩu, tức là thực hiện cơ chế kinh tế thị trường mở cửa.
Toàn cầu hoá vừa là một khái niệm chỉ phạm vi, tức là kinh tế của tuyệt đại đa
số quốc gia được đưa vào trong phạm vi chung của thị trường thế giới, vừa là
một khái niệm về trình độ, chỉ những yếu tố kinh tế chủ yếu trên thế giới phải
2
có năng lực và điều kiện để bố trí trong phạm vi toàn cầu. Mặc dù việc xác
vốn khổng lồ và mở rộng thi trường tiêu thụ. Vì vậy mấy chục năm gần đây
các công ty xuyên quốc gia phát triển nhanh chóng. Đến năm 1997 có hơn
53.000 công ty xuyên quốc gia toàn cầu, xuất khẩu hàng năm đạt hàng nghìn
tỷ USD, chiếm 1/3 kim ngạch xuất khẩu thi trường thế giới, hiện nay cùng với
sự phát triển của máy tính, kỹ thuật thông tin vệ tinh, mạng thông tin toàn
cầu, sự lưu động vốn quốc tế tăng nhanh, kinh tế thế giới không chỉ hạn chế
trong phân công quốc tế và hợp tác quốc tế các lĩnh vực sản xuất, mà các lĩnh
vực đều nhanh chóng tiến tới toàn cầu hoá. Toàn cầu hóa, sự phát triển của
cách mạng khoa học công nghệ, của kinh tế tri thức hội nhập kinh tế là những
quá trình đang nảy sinh và phát triển ở các nước tư bản phát triển và hiện
đang lan ra toàn cầu, lôi cuốn mọi quốc gia dân tộc trên thế giới, kể cả các
nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Toàn cầu hóa về kinh tế là sự điều chỉnh và
thích ứng với sản xuất tư bản chủ nghĩa, phù hợp với sự xã hội hóa cao độ
của lực lượng sản xuất xã hội, đang diễn ra trong lòng các nước. Toàn cầu
hóa, thực tế đang tạo ra cho các nước kém phát triển và đang phát triển cơ
hội mới để đi lên phía trước nhanh hơn. Với toàn cầu hóa kinh tế “khu
vực trung tâm” cần một sự phát triển nào đó của “ngoại vi”, trở thành thị
trường hàng hóa và dịch vụ, tiếp nhận đầu tư phù hợp với quy mô cơ cấu
và chất lượng của nền kinh tế ở trung tâm. Chính điều này cắt nghĩa vì sao
trong những thập niên gần đây việc lưu thông trao đổi hàng hóa dịch vụ,
chuyển giao công nghệ lại nhộn nhịp giữa các nước phát triển với các
nước đang phát triển. Bối cảnh phát triển của thế giới đương đại cho thấy
bất cứ quốc gia nào, không phân biệt trình độ phát triển, chỉ có thể phát
triển thuận lợi trong một môi trường mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Toàn cầu hoá xuất hiện như là một xu thế tất yếu của phát triển kinh tế
mỗi quốc gia và các dân tộc trên thế giới.
4
hội; cả cơ hội mở rộng thị trường và cơ hội hợp tác, canh tranh, cả về chiến
lược dài hạn và về tổ chức tiến hành cả ở tầm vĩ mô của quốc gia và ở tầm vi
mô của từng cá nhân, từng doanh nghiệp, tạo điều kiện cơ hội tiếp nhận các
công nghệ mới có hiệu quả để nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành.
Toàn cầu hoá, một mặt gây sức ép mãnh liệt và gay gắt về cạnh tranh, đòi hỏi
phải tiến hành những cải cách sâu rộng để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu
quả của mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp, chỉ rõ vị trí hàng đầu của yếu tố
chất lượng, yếu tố thời gian, yếu tố nâng cao giá trị gia tăng để có sức cạnh
tranh và hiệu quả. Mặt khác, toàn cầu hoá mở ra những địa bàn và cách thức
hoạt động mới, những thị trường mới, những đối tác mới cho từng nước, nhất
là các nước đang phát triển. Có thể nói đó là thời cơ của lịch sử.
Toàn cầu hoá thúc đẩy sự xích lại gần nhau của các quốc gia dân tộc,
mở rộng quan hệ giao lưu hợp tác trên các lĩnh vực của đời sống xã hội giữa
các quốc gia, châu lục ngày càng phát triển, góp phần vào việc nâng cao trình
độ dân trí và tự khẳng định vai trò xã hội của các quốc gia dân tộc.
Toàn cầu hoá tạo ra các hình thức tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội, văn
hoá, giáo dục của quốc tế và khu vực, và hình thành luật pháp quốc tế để giải
quyết những vấn đề chung toàn cầu như về dân số, môi trường, lương thực, y
tế, sức khoẻ, an ninh và an toàn xã hội.
Mặt tiêu cực, toàn cầu hoá làm trầm trọng thêm sự bất công xã hội, đào
sâu hố ngăn cách giàu, nghèo trong phạm vi từng nước và giữa các nước với
nhau, gây bất mãn sâu sắc trong đông đảo nhân dân lao động, đem lại nhiều
tai hoạ cho giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân khác. Toàn cầu hoá
hiện nay “phân phối” thành quả rất bất công, người giàu, nước giàu được lợi,
người nghèo, nước nghèo bị thiệt, từng mảng dân cư thế giới như bị loại ra
ngoài tiến trình toàn cầu hoá. Trong những thập niên vừa qua, toàn cầu hoá
trên thực tế là một quá trình hai chiều: vừa hội nhập vừa phân hoá, diễn ra
6
7
tranh chấp, xung đột. Toàn cầu hoá đặt các nước đang phát triển trước những
thách thức, do thực trạng thế và lực của các nước này yếu hơn hẳn các nước
phát triển.
Toàn cầu hoá là một “cuộc chơi” đầy lý thú vừa là lời mời gọi, hứa hẹn
nhiều cái mới mẻ, nhiều thời cơ, cơ hội lớn, đối với các nước, nhằm phát triển
kinh tế, nhưng cũng đang chứa những thách thức, thậm chí là cái bẫy lớn đối
với nhiều nền kinh tế, nhất là các nước đang phát triển cũng như các nước
chậm phát triển, còn mang nặng tính tự túc, tự cấp, còn xa lạ với những khái
niệm kinh tế thị trường hay cạnh tranh. Đối với các nước, các công ty, doanh
nghiệp, một mặt có thể có được không gian phát triển rộng lớn trong toàn cầu
để thực hiện sự bố trí tối ưu tài nguyên; nhưng mặt khác, toàn cầu hoá kinh tế
cũng đẩy họ vào một môi trường cạnh tranh phạm vi rộng hơn, đối thủ mạnh
hơn. Quy luật cạnh tranh là kẻ mạnh thắng, điều này có thể dẫn đến những
quốc gia, công ty, doanh nghiệp có ưu thế mạnh thu được nhiều lợi ích hơn,
còn những quốc gia, công ty, doanh nghiệp yếu thế thì được lợi ích ít hơn
thậm chí còn bị thiệt. Xét về tổng thể, toàn cầu hoá có thể sẽ làm nảy sinh ra
những bất công mới, như địa vị của các nước, lợi ích các nước, sự lệ thuộc…
bởi vậy người ta lo rằng, toàn cầu hoá sẽ mang đến khoảng cách chênh lệch
về phát triển kinh tế giữa các nước rộng hơn, dẫn đến sự phân hoá hai cực
càng nghiêm trọng hơn, nhất là đối với các nước có nền kinh tế thấp họ có thể
khó có cơ hội giành phần thắng. Một số quốc gia, bộ phận nhân dân có thể trở
thành nạn nhân của toàn cầu hoá. Tất nhiên, sự phát triển của nền kinh tế thế
giới là một quá trình động, đa tầng, đa dạng, cơ hội và cạnh tranh cùng tồn tại
và tiến hành trong một kết cấu tổ hợp đa nguyên, bởi thế, đối với phần lớn
người tham gia có thể tìm thấy cơ hội và ưu thế, thực hiện lợi ích tương đối
của mình. Toàn cầu hoá là một cuộc chơi sòng phẳng nhưng không được từ
chối, từ chối nó là chấp nhận thua, là tự bóp chết nền kinh tế của chính quốc
2
Văn kiên Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb CTQG. H. 2001. Tr13.
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb CTQG. H, 2006. tr 183.
9
quốc tế trên các lĩnh vực khác”3. Tuy nhiên do hệ quả của quá trình toàn cầu
hoá tác động, vì vậy quá trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực của nước
ta, bên cạnh những thời cơ, chúng ta cũng gặp không ích khó khăn, đòi hỏi
Đảng và Nhà nước phải có những đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn
mới thúc đẩy nhanh được tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đất nước.
Những hệ quả tác động của toàn cầu hoá đến quá trình hội nhập kinh tế thế
giới và khu vực ở nước ta đó là:
Về cơ hội và thuận lợi, toàn cầu hoá tạo ra những cơ hội mới cho Việt
Nam chủ động hội nhập và phát triển.
Quá trình toàn cầu hoá, đặc biệt là toàn cầu hoá kinh tế xâm nhập đến
tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới, nó đặt ra nhiều thách thức, song cũng
tạo những cơ hội mới cho các nước đang phát triển, trong đó có nước ta.
Thuận lợi trước hết đó là tạo cơ hội cho ta đẩy mạnh quá trình mở cửa hội
nhập kinh tế quốc tế, thâm nhập vào thị trường khu vực và thế giới. Hiện nay
vấn đề thị trường xuất nhập khẩu là một trong những vấn đề sống còn của bất
cứ nền kinh tế nào. Đổi mới hội nhập là quá trình đột phá chiếm lĩnh thị
trường thế giới. Trước xu thế toàn cầu hoá, nền kinh tế nước ta đã và đang
khai thác thị trường quốc tế rộng lớn, đa dạng, nếu trước thời kỳ đổi mới
(1986 ), kim ngạch xuất khẩu nước ta có năm chỉ đạt 500 triệu USD, thì ngày
nay là trên 30 tỷ USD, trong đó có hơn 16 tỷ USD xuất khẩu. Thực hiện đầy
đủ những cam kết của AFTA từ năm 2006 hàng hoá của Việt Nam có điều
kiện xâm nhập tự do vào tất cả thị trường của các nước ASEAN. Chúng ta gia
Bên cạnh đó, toàn cầu hoá, và sự hội nhập kinh tế thế giới cho chúng ta
cơ hội tiếp nhận và đổi mới trang thiết bị, nhất là khoa học công nghệ hiện
đại. Là nước đi sau, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để tiếp nhận công nghệ
tiên tiến của các nước phát triển, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Tham gia vào nền kinh
tế toàn cầu, nước ta có cơ hội được hưởng những thành quả tiến bộ của khoa
học và công nghệ mới, đó là một cơ hội cho những nước chậm phát triển như
nước ta. Ngày nay, tốc độ phổ cập tri thức mới, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến
11
đang diễn ra nhanh chóng, thông qua nhiều hình thức và nhiều kênh thông tin
khác nhau; phổ biến nhất là chuyển giao công nghệ, nhờ đó các nước đang
phát triển, nhất là nước ta có thể thực hiện và rút ngắn quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta đòi hỏi
phải có tiền đề về khoa học - công nghệ của quốc tế. Trước đây tiền đề quốc
tế chủ yếu, quan trong nhất là sự giúp đỡ về kinh tế, kỹ thuật của các nước xã
hội chủ nghĩa tiên tiến, ngày nay tiền đề quốc tế quan trọng nhất chính là cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Sử dụng tiền đề đó, thực
chất là chủ động tiếp cận những thành quả kinh tế, khoa học công nghệ của
nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa tư bản hiện đại thông qua con đường hợp
tác, giao lưu kinh tế quốc tế, thông qua dòng chảy mạnh mẽ của xu hướng
toàn cầu hoá. Nếu không tận dụng được những cơ hội thuận lợi do cách mạng
khoa học - công nghệ hiện đại mang lại, thì chúng ta không có được những
điều kiện về kinh tế - kỹ thuật, để xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì vậy đòi hỏi
chúng ta phải có chiến lược hội nhập đúng đắn. Biết nắm bắt, tận dụng tốt
khoa học - công nghệ hiện đại chúng ta sẽ phát triển nhanh, bền vững kinh tế xã hội, đẩy nhanh được tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Những thành tựu sau hơn 20 năm đổi mới đã chứng minh: Do áp dụng tốt
khoa học - công nghệ tiên tiến chúng ta đạt được nhiều thành tựu nổi bật, đặc
phương pháp quản lý tiên tiến, mới không ngừng nâng cao được sức cạnh
tranh của mình, tiến hành hội nhập kinh tế thế giới và khu vực có hiệu quả.
Về khó khăn và thách thức, toàn cầu hoá đem lại cho chúng ta nhiều cơ
hội, song bên cạnh đó hệ quả của nó cũng để lại cho chúng ta không ít những
khó khăn, thách thức. Những thách thức đó vừa mang tính thời đại, vừa mang
tính đa dạng phức tạp. Có những thách thức mang tính nhất thời, song phần
lớn là những thách thức lâu dài; có những thách thức đã lộ diện, có thể dự
đoán được, nhưng cũng có những thách thức còn tiềm ẩn mà hậu quả của nó
để lại khó lường, vì vậy trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực
13
chúng ta cần nhận thức đầy đủ những thách thức cơ bản để có đường lối chiến
lược, sách lược sát đúng. Những thách thức cơ bản đó là:
Về kinh tế, có thể thấy rằng những thách thức về kinh tế từ môi trường
toàn cầu hoá đem lại cho nước ta hiện nay, là những thách thức lớn và phức
tạp. Có những khó khăn thử thách đơn thuần về kinh tế như cạnh tranh trên
trường quốc tế, nhưng cũng có những thách thức kinh tế gắn chặt với chính
trị, như tạo khó khăn, gây sức ép chính trị đối với nước ta. Nếu không vượt
qua được những thách thức từ bên ngoài về kinh tế, thì không thể xoá bỏ được
nguy cơ tụt hậu về kinh tế.
Những năm qua, mặc dù chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế xã hội, quan trọng đáng khích lệ, nhưng về cơ bản nước ta vẫn là nước đang
phát triển, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ điểm xuất phát thấp,
GDP bình quân đầu người được xếp vào loại thấp trên thế giới. Hội nhập kinh
tế thế giới trong môi trường cạnh tranh khóc liệt, đây là thách thức lớn đặt ra
cho chúng ta cần giải quyết. Mặt khác, nước ta không những là nước đang
phát triển, mà còn là nước xã hội chủ nghĩa, do đó thách thức về kinh tế từ tác
động của toàn cầu hoá lại càng phức tạp hơn. Hiện nay trên bình diện chung,
khoảng cách về trình độ phát triển của Việt Nam so với các nước có nền kinh
đề đặt ra cho việc đi tắt đón đầu không hề đơn giản; trước hết là vấn đề yêu
cầu ngày càng cao đối với nguồn nhân lực, trong khi đó đối với nước ta, lao
động giản đơn là cơ bản, kỹ thuật tay nghề còn thấp, mức lương cơ bản chưa
cao, tính ổn định nghề nghiệp còn nhiều phức tạp ... đó là những nhược điểm
cơ bản mà chúng ta chưa thể nhanh chống khắc phục được. Bên cạnh đó để
rút ngắn tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta cần thu
hút vốn và đầu tư nước ngoài; nhưng sự cạnh tranh giữa các nước, đặc biệt là
các nước Châu Á và Đông Nam Á, thì sự cạnh tranh về vốn, thu hút đầu tư
ngày càng trở nên gay gắt hơn. Vấn đề vay vốn, công nghệ và sử dụng vốn có
hiệu quả cũng là một thách thức lớn đối với chúng ta. Thể hiện, hiệu quả sử
15
dụng nguồn vốn vay cho các dự án còn thấp và chưa được chú ý đúng mức;
hiệu quả kinh tế của dự án chưa cao, đầu tư vào dự án không đúng mục đích,
bên cạnh đó vốn đầu tư còn bị thất thoát bởi tệ quan liêu, tham nhũng.
Mặt khác do tác động của toàn cầu hoá, sự phân hoá giàu nghèo giữa
các tầng lớp dân cư, giữa các vùng miền ngày càng gia tăng, đó là những
vấn đề nan giải do mặt trái của quá trình toàn cầu hoá đem lại. Mặc dù bản
chất của chế độ ta khác với các nước tư bản; Đảng và nhà nước ta đã có
những chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn, thực hiện chính sách xoá đói
giảm nghèo đạt hiệu quả cao, song chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn
được mặt trái của toàn cầu hoá, trong đó vấn đề thất nghiệp gia tăng, sự
phân hoá giàu nghèo kéo theo những vấn đề xã hội phức tạp khác. Khắc
phục ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hoá, đối với các vấn đề xã hội và bảo
vệ môi trường để bảo đảm vừa tăng trưởng nhanh, vừa ổn định bền vững là
một thách thức lớn đối với nước ta.
Hơn nữa, việc giữ vững nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội
nhập kinh tế thế giới, dưới sự tác động của toàn cầu hoá là một thách thức lớn
Những tác động đó còn ảnh hưởng đến tiến trình hội nhập kinh tế thế
giới và khu vực của nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Mặt khác
trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, vì lợi ích của sự nghiệp xây dựng đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta chủ động hội nhập, chấp
nhận luật chơi của toàn cầu hoá, trong đó tác động mặt trái của nó không chỉ
về kinh tế mà cả về chính trị, tư tưởng, điều này chúng ta cần phải nhận thức
đúng. Quá trình toàn cầu hoá là một xu thế khách quan của thời đại, song hiện
nay cơ bản là do chủ nghĩa tư bản chi phối, vì vậy toàn cầu hoá không đem lại
mọi cơ hội và lợi ích cho các nước như nhau, trái lại các nước phải chịu sức
ép, những điều kiện mà chủ nghĩa tư bản áp đặt: ví du như lợi dụng vấn đề
viện trợ kinh tế, vay vốn ODA, vấn đề đầu tư ... để can thiệp vào công việc nội
bộ của các nước, thông qua các hoạt động kinh tế để thực hiện mục đích chính
17
trị, can thiệp vào chủ quyền quốc gia các dân tộc. Đối với nước ta, độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, có mối quan hệ biện chứng với nhau. Có cũng
cố được độc lập dân tộc mới xây dựng được chủ nghĩa xã hội, ngược lại, xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội mới giữ vững được độc lập dân tộc. Những
thách thức đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng chính là những
thách thức đe doạ nền độc lập dân tộc. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động quốc tế, đứng đầu là đế quốc
Mỹ đang ra sức chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta, lợi dụng chiêu bài
nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo ...để thực hiện chiến lược xoá bỏ tất cả các
chế độ chính trị không phục tùng sự thống trị của chúng. Quá trình toàn cầu hoá,
Mỹ và phương tây không từ bỏ âm mưu chiến lược “diễn biến hoà bình”, đặc
biệt chiến lược ấy còn nguy hiểm hơn nhiều khi gắn liền với kinh tế, vì vậy
chúng ta phải thấy được những toan tính của chủ nghĩa đế quốc sử dụng các biện
pháp kinh tế để thực hiện âm mưu xâm phạm độc lập chủ quyền quốc gia dân
an ninh, chính trị, xã hội ở nước ta hiện nay. Mặt khác, quá trình hội nhập
kinh tế thế giới, các luồng văn hoá bên ngoài cũng có điều kiện thâm nhập
vào nước ta làm cho văn hoá dân tộc, văn hoá truyền thống bị xói mòn,
nghiêm trọng nhất là văn hoá chính trị bị suy giảm, ý thức hệ bị lủng đoạn,
điều đó sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc. Thực tế cho thấy, các nước phương tây, lấy toàn cầu
hoá làm công cụ, ra sức truyền bá những quan niệm về giá tri, văn hoá, tư
tưởng của họ, thực hiện chính sách “thực dân văn hoá”, can thiệp vào công
việc chính trị, ngoại giao, làm suy yếu ý chí dân tộc, phá hoại khối đại đoàn
kết dân tộc, biến họ thành nước lệ thuộc. Theo cách đó, họ hy vọng sẽ giành
được thắng lợi triệt để, và lâu dài hơn, so với dùng sức mạnh quân sự. Sự du
nhập ý thức hệ tư sản, đã trở thành một trong những biện pháp cơ bản để một
số nước lớn phương tây, thực hiện diễn biến hoà bình đối với các nước khác,
19
thậm chí trở thành mối hiểm hoạ gây nên những biến động ở các nước. Trào
lưu toàn cầu hoá tạo cơ hội thuận lợi cho các nước phương tây sử dụng hệ
thống truyền thông hiện đại, nhằm thực hiện tuyên truyền đa nguyên về chính
trị, tư nhân hoá về kinh tế, phi chính trị hoá Quân đội, phân trị hoá lãnh thổ và
phương tây hoá lối sống. Đó là những thách thức về văn hoá mà chúng ta phải
nắm bắt cơ hội, nhận rõ những thách thức, để vượt qua thử thách, xây dựng
nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Về xã hội: Đây cũng là một thách thức hết sức nghiêm trọng đối với tất
cả các nước, cũng như nước ta hiện nay. Cùng với toàn cầu hoá, các tệ nạn xã
hội ngày càng gia tăng, như đại dịch HIV - AIDS, nạn tham nhũng, nạn buôn
lậu, nạn tà giáo, sự di dân bất hợp pháp, sự gia tăng tội phạm có tổ chức, nạn
khủng bố ...đó thực sự là những thách thức đối với nền văn minh thế giới,
cũng như là vấn đề xã hội còn nhấc nhối ở nước ta, trong quá trình hội nhập
hình doanh nghiệp mới đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
Điều chỉnh các quy định về quyền kinh doanh xuất khẩu theo hướng có lợi
cho mọi thành phần kinh tế tham gia, có chính sách ưu đãi, hỗ trợ các doanh
nghiệp làm hàng xuất khẩu, tiến hành cải cách thủ tục hải quan theo thông lệ
chung. Cần nghiên cứu và sớm phân loại dịch vụ thương mại, có quy định cụ
thể về lộ trình mở cửa thị trường thương mại mậu dịch ở tất cả các lĩnh vực
của nền kinh tế như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông …Xoá bỏ dần sự
phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo môi trường cạnh
tranh lành mạnh trong nước và tăng khả năng cạnh tranh của ta trong việc thu
hút vốn đầu tư nước ngoài. Cần phát triển mạnh các ngành công nghiệp chế biến
và nông phẩm, hải sản, các ngành có lợi thế cạnh tranh trong khu vực và thế
giới. Đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp và các chính sách huy động
vốn, phát huy các nguồn vốn bên trong, coi đó là nền tảng để thu hút các nguồn
vốn bên ngoài. Giữ vững nền kinh tế độc lập tự chủ, đi đôi với mở rộng hợp tác
quốc tế. Điều chỉnh hệ thống pháp lý và điều chỉnh cơ cấu kinh tế, nhanh chống
21
hoàn chỉnh hệ thống pháp lý trong lĩnh vực kinh tế. Khẩn trương đào tạo đội ngũ
cán bộ đáp ứng những yêu cầu cấp bách của quá trình hội nhập hiện nay.
Hai là, giải pháp về chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng,
vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế và toàn xã hội trong quá
trình hội nhập. Hoàn thiện hành lang pháp lý theo chuẩn quốc tế. Mở rộng
dân chủ, đi đôi với giữ vững kỹ cương phép nước, xây dựng hệ thống chính
trị xã hội chủ nghĩa trong sạch vững mạnh, đảm bảo môi trường hoà bình, ổn
định thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Nhà
nước có đủ phẩm chất năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong
giai đoạn mới, nâng cao chế độ trách nhiệm, đấu tranh chống bệnh quan liêu,
loại bỏ những phần tử tham nhũng, thoái hoá, biến chất ra khỏi bộ máy của
buôn lậu, nạn tà giáo, sự di dân bất hợp pháp, sự gia tăng tội phạm có tổ
chức. Đồng thời làm tốt công tác bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ tài
nguyên khoáng sản quốc gia.
Như vậy, thực hiện tốt những nội dung biện pháp trên, là cơ sở để
Đảng và Nhà nước đề ra đường lối, chính sách chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá, cũng như khắc phục những hệ quả
tiêu cực do những tác động của toàn cầu hoá đem lại. Nhận thức sự ảnh
hưởng do tác động của toàn cầu hoá, quân đội nhân dân Việt Nam với tư
cách là một thành viên trong hệ thống chính trị, thực hiện chức năng
nhiệm vụ của mình tất yếu cũng bị ảnh hưởng tác động của toàn cầu hoá
như yêu cầu phải đổi mới vũ khí trang thiết bị, xây dựng cơ cấu tổ chức
biên chế, nâng cao trình độ năng lực chuyên môn...