TIỂU LUẬN CHUYÊN NGÀNH vận DỤNG QUAN điểm mác lê NIN, tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về dân CHỦ và THỰC HÀNH dân CHỦ TRONG xây DỰNG CHẾ độ dân CHỦ XHCN ở nước TA - Pdf 39

1

SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ VÀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ TRONG
XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY
Dân chủ là một phạm trù chính trị - xã hội, phản ánh mối quan hệ giai cấp, nhà
nước và mối quan hệ giữa người với người. Dân chủ có quá trình ra đời, hình thành và
phát triển hoàn thiện phụ thuộc vào trình độ phát triển mọi mặt của đời sống xã hội.
Nội dung, bản chất của dân chủ do bản chất giai cấp cầm quyền chi phối. Thuật ngữ
dân chủ ra đời ra đời rất sớm và chế độ dân chủ xuất hiện cùng với sự xuất hiện giai
cấp, nhà nước và nó được bổ sung, phát triển và hoàn thiện qua các giai đoạn lịch sử.
Dân chủ tư sản là bước đột phá lớn trong sự phát triển của dân chủ, nó phá tan đi “đêm
trường trung cổ” của đế chế phong kiến, trong đó sự kết hợp chặt chẽ giữa thần quyền
với vương quyền đã hạn chế rất lớn quyền dân chủ của con người. Tuy vậy, đó cũng
chỉ là “thứ dân chủ cắt xén, khốn khổ, giả dối”. Chỉ khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời
mới có quan điểm đúng đắn, khoa học về dân chủ và chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa
(XHCN). Chỉ có chủ nghĩa xã hội (CNXH), dân chủ mới được thực thi rộng rãi, triệt
để, thực sự đem lại quyền lực cho đại đa số quần chúng nhân dân lao động, con người
mới thực sự tự do, bình đẳng, phát triển toàn diện cá nhân. Nghiên cứu dân chủ và dân
chủ XHCN của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh để thấy rõ cơ sở của Đảng Cộng
sản Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện chế độ dân chủ XHCN hiện nay.
Đồng thời là cơ sở cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch
lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá cách mạng nước ta trong giai
đoạn hiện nay.
1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH VỀ DÂN CHỦ VÀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ TRONG XÃ HỘI.


2



sung sức, chống lại hệ tư tưởng giáo hội - phong kiến phản động. Chính vì vậy, tư
tưởng dân chủ lại có điều kiện để củng cố, bổ sung và phát triển. Đánh dấu sự ra đời
của chủ nghĩa xã hội không tưởng với tư cách là trào lưu tư tưởng của nhân loại. Tô
Mát Morơ (1478 - 1535) với tác phẩm “UTOPI” đã kế thừa, bổ sung và phát triển tư
tưởng dân chủ nhân loại. Trong tác phẩm của mình, ông đã mơ ước đến xã hội tương
lai, xã hội đó là một khối thống nhất về kinh tế, nền kinh tế đó dựa trên sở hữu chung
về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, xã hội được tổ chức một cách bình đẳng cho
mọi thành viên. tuy nhiên, trong xã hội đó, ông thừa nhận có nhà nước, nhà nước tổ
chức ra do nhu cầu của xã hội và vì hạnh phúc của nhân dân, “...chức năng cơ bản của
nhà nước là kiểm kê và phân phối, điều hành lao động, làm ngoại thương, kiểm duyệt
công việc của các gia đình...”1
Thế kỷ XVIII, cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất diễn ra đánh dấu sự phát
triển lớn của lịch sử xã hội loài người. Những tiến bộ của kinh tế - xã hội, khoa học kỹ
thuật đã tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Giai cấp tư sản
(GCTS) nhân danh tự do dân chủ của đa số, đại diện cho người lao động tiến hành
cách mạng tư sản, với khẩu hiệu: “tự do, bình đẳng, bắc ái” đã tập hợp lực lượng tiến
hành cách mạng xã hội, lật đổ sự thống trị của đế chế phong kiến, thiết lập nên chế độ
TBCN ở châu Âu. trước sự thắng lợi của GCTS và sự phát triển của nền kinh tế
TBCN, tư tưởng dân chủ có điều kiện phát triển và thực thi trong xã hội. Nền dân chủ
tư sản hình thành, phát triển và là nền dân chủ rộng rãi nhất trong lịch sử xã hội lúc
bấy giờ. Nhưng, rốt cục nội dung, cơ chế dân chủ do nhà nước tư sản đặt ra làm cho
quyền lực tập trung về tay GCTS, tạo ra một kiểu dân chủ mà dân chúng không có
thực quyền chính trị. Tuy có bầu cử, ứng cử, tam quyền phân lập, tự do ngôn luận, tự
do cá nhân, nhưng quyền lực nhà nước thực sự vẫn nằm trong tay GCTS, thậm chí
trong tay một số nhà tư bản đầu sỏ. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã vạch ra bản chất của
hiện tượng xã hội ấy và cũng chỉ rõ những hình thức bề ngoài của dân chủ mà các giới
1

Đỗ Tư, Lược khảo những tư tưởng XHCN và CSCN, Nxb CTQG, H. 1996, tr. 76.

1

V.I. Lênin, toàn tập, Nxb tiến bộ, M. 1976, T.33, tr. 107.


5

Đối tượng thực hiện dân chủ càng được mở rộng, thì bản chất của chế độ dân chủ càng
tiến bộ và ngược lại.
Trình độ phát triển của chế độ dân chủ phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế chính trị - xã hội lịch sử cụ thể. Dân chủ tư sản là một bước phát triển vượt bậc so với
các nền dân chủ trước đó trong lịch sử, nhưng đó chỉ là dân chủ hình thức nằm trong
sự mất dân chủ lớn nhất, cơ bản nhất là mất tự do. Nền dân chủ tư sản được xây dựng
trên cơ sở tước đoạt quyền tự do chính đáng của đông đảo quần chúng nhân dân lao
động, bảo vệ lợi ích tối đa cho thiểu số GCTS thống trị. Lênin viết: “vậy là trong xã
hội tư bản chủ nghĩa, chúng ta chỉ có một thứ dân chủ cắt xén, khốn khổ giả dối, một
thứ dân chủ chỉ dành riêng cho bọn giàu có, cho số ít.” 1. Vì vậy, dân chủ tư sản không
phải là cái đích cuối cùng mà loài người hướng tới. Với khát vọng bao đời của con
người muốn vươn lên làm chủ và được quyền làm chủ không chỉ bản thân mình mà
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do vậy, dân chủ tư sản cần phải được thay thế
bằng một nền dân chủ mới tốt đẹp hơn, tiến bộ hơn, đó là dân chủ XHCN.
Dân chủ XHCN là một thể chế chính trị, trong đó quyền lực xã hội thuộc về
nhân dân, là một hình thức tự quy định của nhân dân để chi phối các cá nhân, các tổ
chức và toàn xã hội, trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, được bảo đảm
bằng pháp luật của nhà nước XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sự ra đời
của dân chủ XHCN được đánh dấu bằng sự ra đời của nhà nước XHCN. Suy cho cùng,
chế độ dân chủ cũng là một hình thức nhà nước, đấu tranh cho thắng lợi của CNXH
cũng là đấu tranh cho thực hiện chế độ dân chủ hoàn toàn. Lênin viết: “Không thể có
chủ nghĩa xã hội thắng lợi mà lại không thực hiện dân chủ hoàn toàn, giai cấp vô sản
cũng không thể nào chuẩn bị để chiến thắng giai cấp tư sản được nếu nó không tiến
hành một cuộc đấu tranh toàn diện, triệt để và cách mạng để giành dân chủ.”2.

nên thừa và tự tiêu vong bấy nhiêu.”2
Nền dân chủ XHCN ra đời là sự kế thừa và phát triển các giá trị dân chủ của
nhân loại, là nền dân chủ mang bản chất GCCN. Đây là nền dân chủ cuối cùng trong
lịch sử xã hội loài người. Tính chính trị của dân chủ sẽ mất đi khi xã hội không còn
giai cấp, không còn nhà nước, khi xã hội cộng sản đã phát triển trên cơ sở của chính
nó.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ trong xã hội.
1
2

V.I.Lênin, toàn tập, Nxb tiến bộ, M. 1976, T.33, tr. 109 - 110.
Sđd, tr. 110.


7

Vào những năm đầu thế kỷ XX, trên thế giới đã diễn ra cuộc khủng hoảng mới
do sự phát triển không đều vốn có của CNTB. Sự tranh giành thuộc địa của chủ nghĩa
đế quốc đã trở nên gay go quyết liệt. Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc đã trở nên tột
đỉnh, đẫn đến nổ ra chiến tranh thế giới lần thứ nhất. ảnh hưởng của cuộc chiến tranh
đã lan rộng khắp các thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, trong đó có nước ta. Để bù lại
những thiệt hại trong chiến tranh, thực dân Pháp đã tăng cường bóc lột nhân dân ta hết
sức thậm tệ. Trước cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân lầm than cực khổ, nhiều phong
trào yêu nước liên tiếp nổ ra, như: phong trào Cần vương phò vua cứu nước, phong
trào Duy tân của Phan Bội Châu, cuộc khởi nghĩa của Phan Chu Trinh, tư tưởng của
Quốc dân đảng... song tất cả các phong trào đó đều dẫn đến thất bại. Nguyên nhân dẫn
đến sự bế tắc, khủng hoảng đó là sự lựa chọn sai con đường cách mạng trước xu thế
phát triển mới của xã hội loài người. Vượt lên tầm nhìn của các nhà tư tưởng đương
thời, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước, khi tiếp xúc với chủ nghĩa Mác Lênin, đặc biệt là khi đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc” của Lênin, Người đã tìm
thấy con đường cho cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa

dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có
vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy.” 1.
Trong khi xác định đối tượng và lực lượng lãnh đạo đấu tranh thực hiện dân quyền, để
mở rộng thế và lực của cách mạng, Hồ Chí Minh trú trọng đến việc liên minh các giai
tầng trong xã hội, phát động tinh thần yêu nước hướng về giải phóng dân tộc.
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng nước ta, Hồ
Chí Minh đã chỉ rõ: mâu thuẫn giữa nông dân với tầng lớp địa chủ phong kiến - đó là
mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc - là tiền đề cho cuộc đấu tranh cho dân chủ; mâu thuẫn
giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược là tiền đề của cuộc đấu tranh vì
CNXH. Hai mâu thuẫn này phải được giải quyết đồng thời trong tiến trình cách mạng.
Đấu tranh cho dân chủ tất yếu chuyển sang đấu tranh vì CNXH; đấu tranh cho CNXH
là tiếp tục hoàn thiện đấu tranh cho dân chủ. Trong chính cương vắn tắt, Hồ Chí Minh
đã chỉ rõ:
“Tư sản dân quyền cách mạng, thổ địa cách mạng để tiến tới xã hội cộng sản”.
1

Sđd, tr. 267, 268.


9

Như vậy, việc xác định con đường cách mạng Việt Nam, lãnh đạo cách mạng
Việt Nam và lực lượng trong cuộc cách mạng được Hồ Chí Minh chỉ rõ với mục đích
cuối cùng là: “...làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự
do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” 2. Mục đích của
Người đó cũng chính là khát vọng của hàng vạn con người Việt Nam trong gần một
thế kỷ dưới sự đô hộ của thực dân Pháp. ý chí vươn lên tự khẳng định mình, đấu tranh
cho độc lập tự do của dân tộc, đưa người dân lên làm chủ và quyền làm chủ không chỉ
bản thân mình mà trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, được Hồ Chí Minh khái quát:
“Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ”. Đó là sự biểu đạt quyền lực của nhân

tuyên truyền, giải thích cho quần chúng và làm cho nó thành ý kiến của quần chúng,
làm cho quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến đó.” 2. Như vậy, dân chủ theo tư
tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là quần chúng biết, quần chúng bàn, mà người lãnh đạo
cần phải thu thập, tập hợp các ý kiến lại, tạo điều kiện cho quần chúng làm.
Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là phải xây dựng nền dân chủ thực sự, nền
dân chủ được thực thi trên thực tiễn, chứ không phải là thứ dân chủ giả hiệu, dân chủ
trên khẩu hiệu “tư do, bình đẳng, bác ái”, để rồi quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp
thống trị. Đấu tranh cho nền dân chủ thực sự, làm cho quần chúng được tự do làm chủ,
nền dân chủ mang tính nhân dân sâu sắc. Người viết: “Bao nhiêu cách tổ chức và cách
làm việc, đều vì lợi ích của quần chúng, vì cần cho quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức
và cách làm việc nào không phù hợp với quần chúng thì phải có gan đề nghị cấp trên
để bỏ đi hoặc sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có
sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra. Nếu cần làm thì cứ đặt ra rồi báo cáo sau,
miễn là được việc”1.
Từ việc chỉ ra bản chất và cơ chế của dân chủ, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra mối
quan hệ biện chứng, thống nhất không tách rời giữa dân chủ và chuyên chính. Người
coi dân chủ và chuyên chính là hai vấn đề hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng là tiền đề
cơ sở cho nhau. Người viết: “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân; chuyên chính
là cái chìa khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại. Nếu hòm không có khóa, nhà không
có cửa thì sẽ mất cắp hết, cho nên có cửa phải có khóa, có nhà phải có cửa. Thế thì dân
chủ cũng cần có chuyên chính để giữ lấy dân chủ”2

Sđd, T5, tr.290.
Sđd, T5, tr.246.3
2
Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, T.8, tr.279.
2
1




Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, T.6, tr.108.
Sđd, T.8, tr.216.


12

chế “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” trong công cuộc đổi mới và xây dựng CNXH
hiện nay.
2. Thực trạng và một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện chế độ dân chủ xã hội
chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
2.1. Quá trình hình thành và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hồ Chí Minh - Người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt
Nam, do vậy, quá trình trưởng thành của Đảng gắn liền với công lao hoạt động của Hồ
Chí Minh. Đường lối cách mạng Việt Nam nói chung; quan điểm, đường lối về dân
chủ nói riêng luôn gắn liền với tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh. Thắng lợi của cách
mạng tháng Tám năm 1945 là kết quả của sự tập hợp lực lượng đông đảo quần chúng
nhân dân lao động, hay những đường lối, quan điểm đó phù hợp với tâm tư, khát vọng
của đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Quan điểm “người cày có ruộng” là
động lực to lớn của cách mạng đối với đất nước thuần nông như nước ta trước khi
giành chính quyền. Gác lại mâu thuẫn giai cấp, giải quyết mâu thuẫn dân tộc nổi dậy
cướp chính quyền khi thời cơ đến, đó là những chiến lược, sách lược của Đảng hết sức
linh hoạt và mềm dẻo. Đường lối đúng đắn đó là kết quả tư duy Hồ Chí Minh: “Dễ
mười lần, không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”1.
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời,
đứng trước tình thế cách mạng hết sức khó khăn: thù trong, giặc ngoài, “nghìn cân treo
sợi tóc” của chính quyền non trẻ. Đảng ta và Hồ Chí Minh vẫn quyết tâm tiến hành
tổng tuyển cử. Hồ Chí Minh chỉ rõ: tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự
do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nhà nước. Đã biết bao

dựng CNXH, bộ máy nhà nước từng bước được cải cách hoàn thiện. Xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân từng bước được
hoàn thiện qua các kỳ đại hội của Đảng. Ngay sau khi thống nhất đất nước,
đại hội IV (12/1976) của Đảng đã nhấn mạnh: “nắm vững chuyên chính vô
sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba
cuộc cách mạng…xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa” 1. Nội
2
1

Hồ Chí Minh, toàn tập Nxb CTQG, T.4, tr.145.
Nghị quyết Đại hội IV cuả Đảng, Nxb sự thật, H.1977, tr.29.


14

dung làm chủ tập thể XHCN từng bước được thực hiện trên mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội, mọi người đều được tự do vươn lên làm chủ bản thân, làm
chủ xã hội, làm chủ XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua sự quản lý
của Nhà nước XHCN. Đây là giai đoạn lịch sử mới của cách mạng Việt Nam
- giai đoạn thực hiện dân sinh, mở rộng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN giai đoạn đầy rẫy những khó khăn, phức tạp và cả những hạn chế của tư duy,
nhận thức trước sự chuyển biến mới của cách mạng cũng như xu thế vận động
mới trên thế giới.
Trước tình hình cách mạng giai đoạn mới, yêu cầu của cải tổ, đổi mới
đặt ra cho tất cả các quốc gia, trong đó có nước ta, trước hết bắt đầu từ đổi
mới tư duy, nhận thức. Thực hiện dân sinh chính là thực hiện yêu cầu cơ bản
của dân chủ trên lĩnh vực kinh tế đó là công bằng xã hội. Trong đó kinh tế
luôn vận động, phát triển theo quy luật khách quan của nó, do vậy, thực thi
dân chủ trên lĩnh vực kinh tế để giải phóng sức lao động sản xuất, huy động
được những tiềm năng, nâng cao năng suất lao động. Từ thực hiện dân chủ
trong lĩnh vực kinh tế tiến đến thực hiện dân chủ tự quản của nhân dân, dần

của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh
đạo”1. Từ phương hướng cơ bản trên, qua các kỳ Đại hội của Đảng đều được
bổ sung, hoàn thiện, thực thi dân chủ trên thực tế ngày càng được quan tâm
giám sát, bầu không khí dân chủ trong quần chúng nhân dân lao động được
cởi mở.
Bước sang thiên niên kỷ mới, với “Đại hội trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới” của
Đảng, Đảng ta tiếp tục khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng là nguyên nhân của
mọi thành công của cách mạng Việt Nam, đồng thời khẳng định dân chủ XHCN vừa là
mục tiêu vừa là động lực của cách mạng Việt Nam. Đại hội IX của Đảng tiếp tục
khẳng định: “Nhà nước ta là cộng cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân
dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân” 2, và nhấn mạnh: “Thực hiện
ĐCSVN - cương lĩnh xây dựng đất nước trong TKQĐ lên CNXH, Nxb ST, H.1991, tr 8 - 9.
Sđd, tr.9.
23
ĐCSVN, văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG. H.2001, tr.131,134.
2
1


16

tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân
tham gia quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng. Khắc phục
mọi biểu hiện dân chủ hình thức. Xây dựng luật trưng cầu ý dân.” 3 Đến Đại hội X của
Đảng, một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong phương hướng phát triển kinh tế – xã
hội 5 năm (2006- 2010) Đảng ta xác định: “Phát huy dân chủ, tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao hiệu lực của Nhà nước pháp quyền xó hội chủ
nghĩa, tạo bước chuyển rừ rệt về cải cỏch hành chớnh, ngăn chặn và đẩy lùi tệ
quan liêu, tham nhũng, lóng phớ".

Thứ nhất, tạo lập được cơ sở kinh tế nhất định cho nền dân chủ
XHCN. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chính là giải quyết mối
quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Do vậy, lực
lượng sản xuất được giải phóng, quan hệ sản xuất được mở rộng trên cơ sở đa
dạng quyền sở hữu. Sở hữu cá nhân là quyền tự do dân chủ trong lĩnh vực
kinh tế, là cơ sở, động lực để mở rộng dân chủ trên các lĩnh vực chính trị, văn
hóa, xã hội.
Thứ hai, tạo ra những cơ sở chính trị, hệ thống chính trị ngày càng
phát triển và hoàn thiện. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
từng bước được đổi mới, cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước
trong sạch vững mạnh là trọng tâm của đổi tổ chức bộ máy và phương thức
hoạt động của hệ thống chính trị. Cụ thể hóa các quan điểm của Đảng đề ra
những biện pháp đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát
huy dân chủ, tăng cường hiệu lực quản lý xã hội của Nhà nước bằng pháp
luật.
Thứ ba, quyền làm chủ thực tế của nhân dân ngày càng được bảo đảm,
nội dung quyền làm chủ của nhân dân được đưa vào hiến pháp, pháp luật. Hệ
thống pháp luật được cụ thể hóa bằng các văn bản dưới luật, tạo ra được hành
lang thông thoáng cho người dân tự do, dân chủ, sống và làm việc theo hiến
pháp và pháp luật.


18

Thứ tư, từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đây là
cơ sở hết sức quan trọng cho Nhà nước quản lý, điều hành xã hội bằng pháp
luật. Hệ thống pháp luật được đổi mới, bổ sung, công tác luật pháp được tăng
cường, quy trình ban hành và hướng dẫn thi hành luật được đổi mới. Nhiều bộ
luật được bổ sung, ban hành kịp thời trước yêu cầu vận động và phát triển của
nền kinh tế và các vấn đề mời nảy sinh.

dân chủ XHCN cần tập trung làm tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị XHCN. Thực chất việc
đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là xây dựng nền
dân chủ XHCN. Mục đích cuối cùng của hệ thống chính trị là thực hiện quyền
làm chủ của nhân dân lao động, giữa quyền lực chính trị và quyền lực xã hội
quan hệ chặt chẽ với nhau, có quyền lực chính trị là có quyền lực xã hội,
quyền lực xã hội được thực hiện thì quyền lực chính trị mới được giữ vững và
phát huy. Do vậy, xây dựng ché độ dân chủ XHCN, điều kiện tiên quyết là
phải xây dựng được hệ thống chính trị vững mạnh. Hệ thống chính trị là điều
kiện căn bản nhất để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, giữ vững định
hướng cho sự phát triển. Đồng thời là khâu then chốt để xây dựng và hoàn
thiện dân chủ XHCN và hiện thực hóa sự lãnh đạo của Đảng về quyền làm
chủ của nhân dân lao động. Hệ thống chính trị còn giữ vai trò chủ đạo chi
phối, quyết định các hệ thống khác trong xã hội như: văn hóa, đạo đức..., và
tác động trực tiếp đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội và ngay cả bản
thân hệ thống chính trị. Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị cần phải
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nền tảng vững chắc cho sự vận hành của cơ
chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ”. Đảng
lãnh đạo thông qua đường lối chính trị là những định hướng cơ bản cho việc


20

xây dựng hiến pháp, pháp luật, đồng thời Đảng lãnh đạo việc xây dựng, mở
rộng các hình thức hiệp thương của các tổ chức chính trị - xã hội, thu hút
đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực vào việc xây dựng, giám sát
các hoạt động của chính quyền nhân dân các cấp, làm cho nhân dân thực sự
tham gia vào những công việc nhà nước. Xây dựng hệ thống chính trị phải
được tiến hành đồng bộ các thành tố, cả tổ chức, phương thức, nội dung hoạt
động, đặc biệt cần phải có bước đi vững chắc, thận trọng, tiếp thu có chọn lọc

đồng trong ứng xử các quan hệ xã hội ở các môi trường xã hội như ở gia đình,
khu dân cư, nơi cộng đồng và ngoài xã hội. Bên cạnh đó phải kiên quyết đấu,
phê phán các quan điểm dân chủ sai trái như các quan điểm dân chủ tư sản,
dân chủ siêu giai cấp, dân chủ vô tổ chức, vô kỷ luật, dân chủ vô hạn độ...
Ba là, tạo mọi điều kiện để “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”. Thực
hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý
xã hội, thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng. Khắc phục biểu hiện
dân chủ hình thức. Muốn được như vậy cần phải nâng cao trình độ mọi mặt,
người dân cần phải được thông tin đầy đủ các vấn đề của đất nước. Đặc biệt
cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế dân chủ để nhân dân được quyền tham gia,
giám sát trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước, xây dựng luật trưng
cầu dân ý, lấy ý kiến của nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng của đất
nước. Thành lập và kiện toàn hệ thống thanh tra, kiểm tra, tòa án, kiểm sát.
Bốn là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, pháp chế XHCN,
bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện quản lý đất nước bằng pháp
luật. Dân chủ và pháp luật có mối quan hệ biện chứng và tác động qua lại lẫn
nhau, luật pháp là cơ sở để phát huy dân chủ, là sự cụ thể hóa cả về thể chế,
nội dung của dân chủ. Trình độ dân chủ của quần chúng càng cao, thì pháp
luật càng được thực hiện nghiêm chỉnh. Xây dựng hệ thống pháp luật phải
được tiến hành đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời
có những văn bản dưới luật để cụ thể hóa và trực tiếp tổ chức kịp thời. Đào


22

tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ ngành luật và chấn chỉnh các tổ chức, cơ
quan thi hành luật. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng luật cần phải kiểm tra, xử
lý nghiêm minh các vụ vi phạm pháp luật. Khắc phục tình trạng cực đoan, hô
hào dân chủ mà không đề cập đến việc giữ vững kỷ cương xã hội.
Năm là, coi trọng đẩy mạnh phát triển sản xuất, nâng cao trình độ

XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng nước ta. Nghiên cứu
vấn đề dân chủ để thấy rõ sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, tư
tưởng dân chủ nói riêng vào cách mạng nước ta của Đảng và chủ tịch Hồ Chí
Minh. Là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước, đồng thời là một
lực lượng chính trị đặc biệt; thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình quân
đội ta có ví trí, vai trò quan trọng trong việc góp phần xây dựng và hoàn thiện
chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Trước hết, quân đội phải
quán triệt sâu sắc đường lối quan điểm của Đảng trong xây dựng chế độ dân
chủ XHCN hiện nay, làm tròn chức năng nhiệm vụ của mình, đặc biệt là chức
năng chức năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Thường xuyên chú
trọng xậy dựng quân đội vững mạnh về mọi mặt, để nâng cao sức mạnh chiến
đấu của quân đội. Thường xuyên rèn luyện và nâng cao ý thức cảnh giác cách
mạng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động xâm lược của các thế lực
thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, nền dân chủ,
độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Thường xuyên
chăm lo xây dựng và kiện toàn hệ các tổ chức chính trị – xã hội trong quân
đội vững mạnh, trong đó dặc biệt chú trọng xây dựng tổ chức đảng các cấp
trong sạch vững mạnh, đủ sức lãnh đạo toàn diện trên các mặt công tác. Hoàn
thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ huy trong quân đội phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ
của tình hình mới, nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi
mặt của Đảng đối với quân đội; phát huy vai trò và hiệu lực quản lý của người
chỉ huy, vai trò của các tổ chức quần chúng tăng cường đoàn kết, giữ nghiêm
kỷ luật. Ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ ở đơn vị


24

cơ sở, bảo đảm các quyền dân chủ về chính trị, kinh tế, quân sự của cán bộ,
chiến sỹ, các quyền và nghĩa vụ của quân nhân. Đồng thời, đấu tranh không
khoan nhượng với các quan điểm sai trái, lợi dụng dân chủ, nhân quyền chống

lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; kỷ luật, điều lệnh, điều lệ của
quân đội. Tích cực làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân trên địa bàn
đóng quân xây dựng nếp sống chấp hành ý thức pháp luật. Tích cực tham gia xây
dựng các thể chế, thiết chế dân chủ ở đơn vị cơ sở và địa phương trên địa bàn
đóng quân, bảo đảm góp phần làm cho môi trường dân chủ ở đơn vị được phát
huy.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status