TIỂU LUẬN CHUYÊN NGÀNH XUNG đột dân tộc, sắc tộc TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY, ý NGHĨA đối với CÔNG tác dân tộc - Pdf 39

1

XUNG ĐỘT DÂN TỘC SẮC TỘC TRÊN THẾ GIỚI,
Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN TỘC
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Bước sang thiên niên kỷ mới, thế giới đang đứng trước những vấn đề
hết sức phức tạp, đến nay thế giới chưa có một ngày im tiếng súng. Sau khi
trật tự thế giới hai cực bị đổ vỡ, thế giới đang diễn ra những quá trình: hợp
tác - đấu tranh - xâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau để thiết lập một trật tự thế
giới mới - trật tự theo hướng đa cực, dẫn đến cục diện thế giới có nhiều vấn
đề biến đổi phức tạp, xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới diễn ra mang tính
toàn cầu, đe dọa nghiêm trọng độc lập dân tộc, hòa bình, ổn định và an ninh
quốc tế. Đánh giá tình hình thế giới hiện nay, Đảng ta khẳng định: “Trong
những năm tới, trên TGT, hoà bình, hợp tác là xu thế lớn … nhưng vẫn tiềm
ẩn những yếu tố bất trắc khó lường … những cuộc chiến tranh cục bộ, xung
đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can
thiệp, lật đổ, tranh chấp về lãnh thổ và tài nguyên thiên nhiên tiếp tục diễn ra
ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp” 1. Vì vậy nghiên cứu vấn đề
xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Quan hệ daõn toọc (bao goàm quan heọ giửừa caực quoỏc gia daõn
toọc vaứ quan heọ toọc ngửụứi trong moọt quoỏc gia daõn tộc). Quan heọ
saộc toọc laứ quan heọ giửừa caực coọng ủoàng ngửụứi coự sửù khaực bieọt
naứo ủoự veà vaờn hoaự, ngoõn ngửừ, toõn giaựo, toọc ngửụứi, chuỷng toọc.
Ngaứy nay, quan heọ daõn toọc, saộc toọc raỏt nhậy caỷm vaứ heỏt sửực
phửực taùp, bụỷi vỡ quan heọ naứy taực ủoọng tụựi taõm lyự, yự thửực, lụùi
ớch vaứ baỷn saộc vaờn hoaự, cuứng vụựi nhửừng sửù khaực bieọt cuỷa caực
1

ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006, tr.21.



3

xra-en và Pa-le-stin; phong trào ly khai đòi độc lập ở Tây Tạng do Đạt-lai
Lạt-ma theo đuổi từ nhiều năm qua. Khu vực tây Nam Á vẫn nóng lên với
cuộc xung đột kéo dài giữa Ấn-độ và Pa-ki-xtan ở khu vực Ca-sơ-mia. Bên
cạnh đó cuộc chiến đòi ly khai của phong trào “Những con hổ giải phóng Tamin” ở Xri-lan-ca, phong trào đòi độc lập ở Đông Ti-mo và A-xê ở In-đô-nêxi-a, đó là những vấn đề phức tạp và nhậy cảm ở khu vực Châu Á hiện nay.
Ở châu Phi, các cuộc xung đột đẫm máu giữa các bộ tộc người Hu-tu
và người Tút-xi ở U-gan-đa, phong trào Hồi giáo cực đoan ở An-giê-ri, Xuđăng và cuộc chiến tranh giữa Ê-rơ-tê-ri-a và Ê-ti-ô-pi. Còn ở châu Mỹ và
châu Đại dương luôn xảy ra xung đột giữa người gốc Âu với thổ dân bản địa;
vấn đề phân biệt chủng tộc giữa người da đen với người da trắng ở Hoa-kỳ;
xung đột giữa cộng đồng người nói tiếng Pháp với người nói tiếng Anh ở Cana-đa.
Từ những sự kiện trên cho thấy rằng vấn đề dân tộc, sắc tộc thực sự là
vấn đề phức tạp, căng thẳng gây nên cho các quốc gia những hậu quả hết sức
nặng nề cả về kinh tế, chính trị, văn hoá-xa hội và môi trường; đe doạ hoà
bình, an ninh các khu vực và thế giới. Các cuộc xung đột, chiến tranh dân tộc,
sắc tộc gây nên sự chia rẽ làm suy yếu các lực lượng cách mạng và tiến bộ, có
lợi cho chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế. Thông qua các cuộc
xung đột, chiến tranh ở các khu vực, các nước đế quốc được dịp bán vũ khí,
bòn rút tài nguyên các nước để thu lợi nhuận. Lợi dung tình hình phức tạp,
chúng ra sức kích động, chia rẽ làm suy yếu các nước đang phát triển, các lực
lượng tiến bộ; tìm cách gây ảnh hưởng hoặc quay trở lại các khu vực, thực
hiện ách thống trị kiểu mới đối với các dân tộc.
Hính thức các cuộc xung đột sắc tộc, dân tộc rất đa dạng; xung đột mâu
thuẫn quyền lực chính trị giữa các phe phái; xung đột về tranh chấp lãnh thổ,
biên giới giữa các dân tộc; đối đầu, cạnh tranh quyết liệt giữa các tôn giáo


4



dân tộc” là bước khởi đầu. Do điều kiện lịch sử chưa bộc lộ rõ, các ông chỉ
làm sáng tỏ vấn đề công nhân quyết định vấn đề dân tộc, chưa thấy chiều
ngược lại, vấn đề dân tộc đối với vấn đề giai cấp, áp bức dân tộc đối với áp
bức giai cấp, đấu tranh dân tộc đối với đấu tranh giai cấp. Song, từ cuối thế kỷ
XIX, vấn đề các cường quốc tư bản áp bức bóc lột thuộc địa ngày càng gia
tăng. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra cho giai cấp công nhân ở các nước đi áp
bức thấy rằng: “Hãy lấy địa vị của dân tộc đi áp bức mà nói, một dân tộc đi áp
bức dân tộc khác có thể có tự do được không?” 1. Những tư tưởng cơ bản của
Mác và Ăngghen về quan hệ giai cấp - dân tộc sau này được Lênin phát triển
một cách sâu sắc, là ngọn đuốc soi sáng các vấn đề thực tiễn của cách mạng
giải phóng dân tộc trong thời đại mới.
Đến nay mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân không
còn gói gọn trong một quốc gia dân tộc, mà mang tính toàn cầu. V.I.Lênin
khẳng định: “Những lợi ích của giai cấp công nhân và của cuộc đấu tranh của
giai cấp ấy chống chủ nghĩa tư bản đòi hỏi phải có sự đoàn kết hoàn toàn và
sự thống nhất chặt chẽ nhất của công nhân tất cả các dân tộc, những lợi ích đó
đòi hỏi phải chống lại chính sách dân tộc chủ nghĩa của giai cấp tư sản thuộc
bất cứ quốc gia nào”1. Như vậy, mối quan hệ dân tộc - giai cấp đặt ra cần phải
được giải quyết đồng thời trong tiến trình cách mạng của giai cấp công nhân,
đấu tranh giải phóng dân tộc cũng đồng nghĩa với giải phóng giai cấp và
ngược lại. Chủ nghĩa xã hội chính là việc giải phóng con người và xã hội khỏi
mọi hình thức áp bức, bóc lột và sự tha hóa. Nhưng, nói đến chủ nghĩa xã hội
không chỉ nói đến sự tồn tại của các giai cấp, áp bức và đấu tranh giai cấp, mà
còn phải đề cập đến sự tồn tại của các dân tộc, quốc gia, áp bức và đấu tranh
dân tộc. Trong cuộc đấu tranh ấy: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân
tộc được quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại: đó là
1
1


kiếm chác. Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ ra sức lợi
dụng mâu thuẫn và xung đột dân tộc, đã kích động chiến tranh để kiềm chế sự
2

V.I. Lênin toàn tập, Sđd, tr. 375.


7

phát triển của các dân tộc, xé nhỏ và làm suy yếu các nước không nằm trong
quỹ đạo của Mỹ. Chúng ra sức lợi dụng tình hình đó để bán vũ khí, thử vũ khí
mới, vừa để thực thi áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, chống phá lực lượng cách
mạng, tiến bộ, lập chính phủ thân Mỹ như cuộc chiến ở Ápganixtan, I.rắc,
Côsôvô, Li Băng … Đối với một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại đế quốc
Mỹ coi vấn đề dân tộc là mũi tiến công chiến lược, bằng chiến lược “Diễn
biến hòa bình”, tìm mọi cách chia rẽ đoàn kết dân tộc, kích động ly khai, “tự
trị” để làm suy yếu, đi đến xóa bỏ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa trên thế
giới.
Thứ ba: Do sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới.
Sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã tác động lớn đến vấn đề
dân tộc. Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế thoái trào, lực lượng dân
chủ và tiến bộ trên thế giới mất đi chỗ dựa vững chắc. Các lực lượng tiến bộ ở
các dân tộc hoang mang, mất phương hướng chính trị, tình đoàn kết quốc tế
suy giảm, dẫn đến suy yếu. Đồng thời, các dân tộc thuộc thế giới thứ ba gặp
nhiều khó khăn hơn trước, họ thiếu đi sự giúp đỡ trực tiếp của Liên Xô, thiếu
đi trụ cột giữ vững hòa bình, an ninh thế giới. Các trào lưu dân tộc chủ nghĩa
thừa dịp bùng phát mạnh mẽ khắp nơi.
Thứ tư: Do sai lầm trong giải quyết vấn đề dân tộc, sắc tộc của các
giai cấp cầm quyền. Có thể nói, sự bùng nổ xung đột, nội chiến dân tộc có
nguyên nhân lớn từ các chính sách sai lầm của Đảng và nhà nước cầm quyền,

mang tính khu vực và quốc tế, như: vấn đề đạo Hồi, đạo Thiên chúa.
Những cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới từ trước đến nay để
lại những hậu quả hết sức to lớn. Không những chỉ ở quốc gia đó, mà còn ảnh
hưởng lớn đến hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế. Trong vài thập kỷ vừa
qua, hàng trăm vạn người đã chết vì chiến tranh xung đột, hàng triệu dân
thường phải chạy tị nạn khắp nơi trong cảnh đói rét khốn cùng, hàng chục vạn
phụ nữ, trẻ em chết đói. Nhất là các cuộc xung đột ở châu Phi, Ban căng,


9

Ápganixtan, đông Timo, Xécbia, Côsôvô … Xung đột và nội chiến gây ra hậu
quả nặng nề về kinh tế - xã hội, sự tàn phá các cơ sở kinh tế, văn hóa, tiềm lực
quốc gia bị suy kiệt. Các dân tộc anh em bị đẩy vào cảnh huynh đệ tương tàn,
thù hằn sâu sắc. Quan hệ tộc người, dân tộc bị rạn nứt, gây hậu quả nghiêm
trọng. Mặt khác xung đột dân tộc, sắc tộc phá vỡ sự đoàn kết quốc tế, làm suy
yếu lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho
các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động, chia rẽ, dung túng. Các
nước đế quốc lợi dụng lúc tương tàn của chiến tranh để bòn rút tài nguyên, áp
đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Nội chiến và xung đột dân tộc, sắc tộc còn
để lại hậu quả nghiêm trọng về môi trường trước mắt cũng như lâu dài. Hàng
ngàn tấn hóa chất độc hại, trăm ngàn tấn vũ khí trút xuống trái đất, điều đó
không phải ngay một lúc có thể khắc phục được, mà phải chi hàng chục tỷ
đôla trong thời gian dài mới giải quyết triệt để.
Tóm lại, còn chủ nghĩa đế quốc thì nguy cơ xung đột dân tộc, sắc tộc
còn hiện hữu, sự bất đồng về lợi ích và tư tưởng bá chủ, áp đặt giá trị của chủ
nghĩa đế quốc lên các dân tộc là những nguyên nhân sâu xa dẫn đến xung đột
và nội chiến. Xung đột dân tộc, sắc tộc để lại hậu quả to lớn cả về người và
của cho nhân loại. Sức tàn phá của nó nặng nề trên tất cả các lĩnh vực: Kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường.

vệ tài nguyên và môi trường sinh thái.
Sáu là: Quyền công dân được đảm bảo bất kể nguồn gốc là dân tộc
nào. Trong một quốc gia đều có quyền bình đẳng trong mọi mặt hoạt động
kinh tế, chính trị, xã hội; quyền bình đẳng này phải được thể chế bằng pháp
luật.
Bảy là: Các Đảng và nhà nước cầm quyền, cần phải có đường lối,
chính sách giải quyết vấn đề dân tộc phù hợp, không ngừng xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc, phải nâng cao trình độ sản xuất, tạo ra cơ sở vật chất, kỹ
thuật, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các dân tộc; giải quyết tốt


11

quan hệ xã hội bằng cách thủ tiêu bóc lột, đảm bảo công bằng xã hội, xóa bỏ
tình trạng áp bức giai cấp, áp bức dân tộc. Đồng thời đấu tranh khắc phục chủ
nghĩa sô vanh, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc, tôn trọng quyền tự
quyết của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc; hợp tác phát triển trên cơ sở đảm bảo lợi
ích của tất cả các dân tộc. Không ngừng giáo dục ý thức, trách nhiệm của các
dân tộc trong cộng đồng quốc gia dân tộc, tăng cường đoàn kết với các dân
tộc khác trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, cùng chung sức xây dựng khối đoàn
kết, hòa bình, tương thân, tương ái giúp đỡ nhau tiến bộ. Đấu tranh chống các
hành động chia rẽ, gây hận thù giữa các dân tộc, các quốc gia dân tộc.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, Đảng và Nhà nước ta
luôn quan tâm giải quyết tốt các mối quan hệ giữa các dân tộc trong cộng
đồng dân tộc Việt nam. Xuất phát từ thực tiễn, nước ta là một quốc gia đa tộc
người (gồm 54 tộc người) trong đó người Việt (Kinh) chiếm đa số (khoảng
87%), các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 13%. Các dân tộc (tộc người) sống
đan xen trên toàn bộ lãnh thổ cả nước, ở các xã, huyện, tỉnh từ Bắc vào Nam.
Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, cùng với sự phát triển của quá trình tộc
người, các quan hệ tộc người cũng hình thành và phát triển đa dạng, phức tạp.

kỳ thực dân Pháp xâm lược, chúng dùng chính sách ngu dân, chia để trị, dùng
người dân tộc này cai trị dân tộc khác, nên cũng có giai đoạn mất đoàn kết
giữa các dân tộc miền núi và miền xuôi. Từ khi Đảng ta ra đời lãnh đạo cách
mạng Việt nam thì vấn đề đoàn kết dân tộc là chiến lược của cách mạng Việt
nam. Bất kể ở giai đoạn nào, đấu tranh giành độc lập cũng như xây dựng và
bảo vệ tổ quốc, Đảng ta luôn chú trọng giải quyết tốt: “Chính sách bình đẳng,
đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát
triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển
chung của cộng đồng các dân tộc Việt nam”1. Trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc: Đảng ta luôn coi “đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh
1

ĐCSVN, Cương lĩnh xây dựng đất nước TKQĐ lên CNXH, Nxb Sự thật, H.1991, tr.16.


13

giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo
của Đảng là đường lối chiến lược nhất quán của cách mạng Việt Nam; là
nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo
đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” 2. Chính
vì vậy, quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, nhà nước ta đều tôn trọng lợi
ích, truyền thống,văn hóa, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc; chống mọi
biểu hiện dân tộc lớn, kỳ thị hoặc gây chia rễ dân tộc. Trong các chính sách
phát triển kinh tế - xã hội của Đảng đều có những ưu tiên đúng mức cho các
vùng dân tộc thiểu số còn lạc hậu, bảo đảm bình đẳng trên thực tế giữa các
dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt nam.
Bên cạnh những mặt tích cực, trong những năm qua, quan hệ dân tộc ở
Việt Nam cũng còn không ít những vấn đề phức tạp mà kẻ thù có thể lợi dụng
để chống phá.

chức lực lượng phản động, gây bạo loạn. Chúng tăng cường xâm nhập biên
giới, tuyên truyền xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách dân tộc của
Đảng, chia rẽ các tộc người, truyền đạo, mua chuộc nhân dân … hòng gây
mất ổn định chính trị xã hội. Lợi dụng nhận thức còn hạn chế của đồng bào
dân tộc thiểu số, kích động xúi dục gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa miền núi và
miền xuôi. Chúng âm mưu chia nhỏ nước ta với kế hoạch “3 Tây” đi đến
thành lập “Vương quốc người HMông” ở Tây bắc, “Nhà nước Đề ga tự trị” ở
Tây nguyên và “Nhà nước Khơme crôm” ở Tây nam. Thực trạng trên cho
thấy vấn đề dân tộc và mối quan hệ dân tộc hiện nay là vấn đề hết sức nhạy
cảm và đang bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta.
Hơn bao giờ hết, chúng ta phải hết sức cảnh giác phát hiện và ngăn chặn kịp
thời những nguyên nhân có thể gây ra mâu thuẫn và xung đột dân tộc. Một
mặt phải tích cực hơn nữa trong việc nâng cao nhận thức của cả cộng đồng,
có chính sách hợp lý phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của từng vùng, miền, đặc biệt là khu vực miền núi, vùng sâu, xa,
vùng căn cứ cách mạng, thực hiện bình đẳng thực sự giữa các dân tộc trên
mọi lĩnh vực. Mặt khác, phải luôn nêu cao cảnh giác, tích cực đấu tranh trên


15

lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kịp thời phát hiện và ngăn chặn có hiệu quả
những âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng, thực hiện
tốt quan điểm chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, thực hiện bình đẳng,
đoàn kết và tương trợ đưa dân tộc Việt nam vững bước trên con đường xã hội
chủ nghĩa.
Từ thực trạng quan hệ dân tộc ở nước ta hiện nay, để giải quyết tốt vấn
đề dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, cần nhận thức và tiến hành
tốt một số vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, quán triệt và thực hiện tốt quan điểm, chính sách dân tộc

chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng
dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội,
thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân
lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy
những giá trị , bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự
nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất. Thực tế
cho thấy, hiện nay giữa các vùng, miền và các dân tộc vẫn còn tồn tại sự
chênh lệch rất lớn về trình độ phát triển trên nhiều mặt, tạo ra sự bất bình
đẳng trong thực tế cuộc sống của nhân dân, thể hiện rõ nhất là giữa miền núi,
vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số với miền xuôi, đồng bằng, đô thị.
Cần phải có sự quan tâm giúp đỡ nhiều hơn nữa của Nhà nước, của các địa
phương cho các vùng khó khăn, vùng dân tộc. Tạo điều kiện tốt nhất cho
đồng bào tranh thủ được cao nhất sự giúp đỡ, phát huy tối đa nội lực để phát
triển theo kịp sự phát triển chung của cả nước. Lĩnh vực trọng tâm cần đặc
biệt quan tâm là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và
gắn với đó là giải quyết tốt các vấn đề xã hội như y tế, việc làm, tệ nạn xã
hội. Quan tâm chăm lo phát triển nguồn nhân lực bằng tăng cường đầu tư mở
rộng và nâng cao chất lượng giáo dục, xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học,
trung học cơ sở, ưu tiên đào tạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Ưu


17

tiên phát triển kinh tế-xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập
trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai
thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền
vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của
đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của trung
ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước. Về văn hoá, mỗi dân
tộc có bản sắc văn hoá đặc sắc cần được giữ gìn, bảo tồn và phát triển để tạo

tâm cao vượt mọi khó khăn trở ngại. Kiên trì động viên, khích lệ, tuyên truyền
vận động từng bước làm cho đồng bào nâng cao nhận thức, hiểu biết, nhận rõ
điều hay lẽ phải, điều đúng, điều sai. Hấp tấp vội vã dễ hỏng việc và khó xây
dựng được lòng tin trong đồng bào. Bà con dân tộc rất nhạy cảm với những
hành vi thô bạo, quát nạt, ép buộc phải làm những việc mà "cái bụng" chưa
ưng. Vì thế, làm công tác dân tộc phải kiên trì. Tuy nhiên, phải hiểu kiên trì
không có nghĩa là cứ ngồi đó mà chờ đợi. Trái lại, phải tích cực bám sát quần
chúng, bằng nhiều cách khéo léo tác động để hiểu bà con và giúp bà con hiểu
rõ tình hình, nhiệm vụ hăng hái thực hiện những công việc do Đảng, Nhà
nước đề ra đem lại lợi ích cho nhân dân.
Trong quan hệ đối xử với đồng bào phải tế nhị, khéo léo, khiêm tốn thể
hiện có văn hoá, được giáo dục tốt để gây thiện cảm, sự cảm phục quí mến
của nhân dân. Khi giao tiếp phải sử dụng ngôn từ dân dã, đại chúng mộc mạc
dễ nghe, dễ hiểu để cho nhân dân tiếp cận được với những thông tin, các tri
thức khoa học mà ta mong muốn trang bị cho họ. Không giáo điều, máy móc,
không sử dụng ngôn từ bóng bẩy trừu tượng khó hiểu, dễ tạo ra khoảng cách,
sự xa lạ, làm mất cảm giác thân mật gần gũi với đồng bào, mất cơ hội tiếp cận
để hiểu đời sống và tuyên truyền vận động đồng bào thiểu số.
Công tác dân tộc phải đảm bảo tính chắc chắn, có hiệu quả, quá trình
xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện chủ trương, nhiệm vụ cần xác định rõ
các bước tiến hành cụ thể nối tiếp nhau, nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Vững


19

chắc ở đây là sự vững chắc về quan điểm, chính sách, quyết tâm tiến hành dân
vận và tạo ra kết quả bền chặt trong đồng bào, dù có bị tác động xấu vẫn
không thay đổi. Kết quả công tác dân tộc phải mang lại sự phát triển bền vững
đối với từng địa phương, vùng dân tộc và toàn bộ sự nghiệp cách mạng của
Đảng.

để hiểu tâm tư nguyện vọng của bà con nhân dân, hiểu phong tục tập quán,
tình hình kinh tế, chính trị đời sống mọi mặt của nhân dân. Hiểu dân có ý
nghĩa cực kỳ quan trọng, đó là cơ sở để đề ra những chủ trương chính sách
đúng đắn, phù hợp mang lại hiệu quả trực tiếp cho công tác dân vận và nâng
cao đời sống nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: "Cán bộ không gần
dân, không hiểu dân thì Đảng, Nhà nước như người bị bịt mắt, bịt tai ". Vị trí
và sức mạnh của dân là vô cùng to lớn, do vậy dù là cán bộ cũng có nhiều
điểm phải học dân. Người thường dạy: phải "học dân chúng" để "nâng cao
dân chúng", phải khiêm tốn, biết gợi ý cho dân nói, biết lắng nghe, không
được tự cho mình cái gì cũng hay cũng giỏi, tự cao tự đại. Trên thực tế cuộc
sống và hoạt động lao động sản xuất của nhân dân đã làm nảy sinh nhiều sáng
kiến hay, tổng hợp được nhiều kinh nghiệm quí báu đòi hỏi người cán bộ cách
mạng phải tiếp thu bổ sung cho quá trình công tác của mình.
Tiến hành công tác dân tộc yêu cầu trước hết với người cán bộ là phải
có trách nhiệâm với dân, phải vì dân. Bởi vì dân là gốc, là cơ sở để có thể giải
quyết và giải quyết tốt mọi vấn đề nếu biết dựa vào dân. Có trách nhiệm với
dân là biết quan tâm chăm lo, bảo vệ lợi ích thiết thực chính đáng hợp pháp
của nhân dân, mọi chương trình kế hoạch được vạch ra là nhằm nâng cao đời
sống mọi mặt của nhân dân, vì lợi ích của dân, vì sự phát triển của đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "cán bộ, nhân viên từ cấp trên đến cấp dưới đều


21

là đầy tớ của nhân dân, đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân" 1; "bao
nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân…".
Phong cách "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm
với dân" luôn gắn chặt với cách tiếp cận dân : "nghe dân nói, nói dân hiểu,
làm dân tin". Nghe dân nói là trọng dân, là phải gần dân, để hiểu dân và học
dân, tiếp thu những ý kiến đóng góp của dân. Chân thành mong muốn được

Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa
quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Ở nước ta, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức là
lực lượng đông đảo nhất, chiếm đa số trong dân cư Việt Nam, giữ vai trò nền
tảng cơ sở chính trị - xã hội. Trong đó, giai cấp công nhân là lực lượng cách
mạng nhất, tiến bộ nhất trong xã hội, có đội tiên phong là Đảng cộng sản Việt
Nam giữ vai trò lãnh đạo đất nước. Do vậy, xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc dự trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng sẽ tạo ra sức mạnh to lớn cho
sự nghiệp cách mạng nước ta. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, dưới sự lãnh
đạo của Đảng, nhân dân ta mà nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức đã làm nên những thành tựu to lớn
trong thế kỷ XX, cũng như những năm đầu của thế kỷ XXI, đưa sự nghiệp
cách mạng nước ta tiến lên tầm cao mới. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mở cửa hội nhập kinh tế thế
giới, để vượt qua những khó khăn, thách thức, đưa cách mạng nước ta vững
bước tiến lên, cần phải tiếp tục tăng cường, củng cố, khối đại đoàn kết dân tộc
trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng
lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải lấy mục tiêu giữ vững độc
lập thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh làm điểm tương đồng, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt
đối xử về quá khư,ù thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mơ,û tin cậy


23

lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: Đoàn
kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài, không phải là thủ

toàn dân, đoàn kết dân tộc, tạo nên động lực to lớn, đưa sự nghiệp cách mạng
nước ta vững bước tiến lên.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status