MỤC LỤC
Trang
2
MỞ ĐẦU
1. Quan điểm Mác - Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp
3
1.1. Nguồn gốc giai cấp
3
1.2. Những tiêu chí cơ bản để phân biệt các giai cấp trong xã hội
4
1.3. Về đấu tranh giai cấp
7
1.4. Đặc điểm của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản
9
2. Nhận thức của Đảng ta về giai cấp và đấu tranh giai cấp
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
KẾT LUẬN
13
tranh giai cấp gắn với tổng kết kinh nghiệm cách mạng, học tập kinh nghiệm
của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, sẽ góp phần phát triển sáng
tạo và vận dụng ngày càng thành công lý luận Mác - Lênin vào sự nghiệp xây
dựng một chế độ xã hội mới. Đặc biệt trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp cần được nhận thức và xem xét
một cách khoa học để luận giải những vấn đề có tính nguyên tắc cả lý luận và
thực tiễn đã và đang là thời cơ và thách thức trong sự nghiệp đổi mới và phát
triển đất nước ta hiện nay.
1. Quan điểm Mác - Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp.
2
1.1. Nguồn gốc giai cấp.
Đứng vững trên lập trường duy vật về lịch sử và từ những con người cá
nhân hiện thực, C.Mác, Ph.Ăng-ghen đã tìm ra quy luật phát sinh và phát triển
của xã hội có giai cấp và quy luật đấu tranh giai cấp. Nếu các nhà tư tưởng trước
Mác cho rằng: nguồn gốc của xã hội có giai cấp, của chế độ tư hữu là do tư
tưởng tư hữu của con người, thì ngược lại C.Mác chỉ rõ, chính những tiền đề vật
chất do xã hội tạo ra đã làm nảy sinh ra tư tưởng tư hữu. Bởi vì, như các nhà
kinh điển mác xít đã khẳng định: Do sự phát triển của sản xuất đã đưa đến sự
phân công lao động trong xã hội và sự phân công lao động xã hội lại thúc đẩy sự
phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng xuất lao động, đó là nguồn gốc cơ
bản để sinh ra chế độ tư hữu và sự phân chia giai cấp trong xã hội. Thực tiễn lịch
sử phát triển và tiến hoá của nhân loại đã chỉ ra rằng, nguyên nhân vật chất,
nguyên nhân kinh tế là nguyên nhân cơ bản, sâu xa sản sinh ra giai cấp và xã hội
có giai cấp. Sự tồn tại, phát triển và diệt vong của giai cấp và xã hội có giai cấp
là do nguyên nhân kinh tế - vật chất quyết định - suy cho đến cùng. Như vậy, tư
tưởng biện chứng duy vật về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác Lênin hoàn toàn đối lập với quan điểm duy tâm, tôn giáo đã tồn tại rất lâu trong
lịch sử. Tính cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác về giai cấp và đấu tranh
giai cấp, về sự ra đời, tồn tại và diệt vong của nó đã góp phần vào cuộc đấu
của mỗi giai cấp và quy định địa vị chính trị - xã hội của nó.
1.2. Những tiêu chí cơ bản để phân biệt các giai cấp trong xã hội.
Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của các nhà kinh tế - chính trị học tư sản
trước đó, C.Mác đã cho rằng, trong xã hội tư sản tồn tại “những người chỉ sở
hữu có sức lao động, những kẻ sở hữu tư bản và những kẻ sở hữu ruộng đất, mà
nguồn thu nhập tương ứng là tiền công, lợi nhuận và địa tô, tức là công nhân
làm thuê, nhà tư bản và địa chủ, đó là ba giai cấp lớn của xã hội hiện đại dựa
trên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa” 1. Theo đó, tiêu chí của giai cấp
trước hết phải gắn liền với những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử, gắn
liền với phương thức sản xuất. Không có tiêu chí chung cho mọi giai cấp trong
mọi thời đại lịch sử, các tiêu chí đó luôn vận động biến đổi không ngừng theo
1
C.Mác và Ph.Ăng-ghen. Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1995, tập 25, tr 643.
4
thực tiễn của sản xuất và đời sống xã hội. Theo C.Mác và Ph.Ăng-ghen, thì tiêu
chí cơ bản quan trọng hàng đầu để phân biệt giai cấp này với giai cấp khác, đó là
vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất, vai trò tổ chức, quản lý sản xuất và gắn liền với
nó là sự thu nhập từ các quyền sở hữu đó.
Chính sự sở hữu tư liệu sản xuất trong những lĩnh vực khác nhau sẽ hình
thành nên những giai tầng khác nhau trong xã hội: người sở hữu tư liệu sản xuất
trong công nghiệp hình thành nên giai cấp tư sản, những kẻ sở hữu ruộng đất là
giai cấp địa chủ, còn những người chỉ sở hữu sức lao động của mình và bán sức
lao động cho nhà tư bản công nghiệp là giai cấp công nhân. Đồng thời, những ai
là chủ tư liệu sản xuất sẽ đóng vai trò tổ chức, quản lý, điều hành quá trình sản
xuất, còn những người không có tư liệu sản xuất thì phải chịu sự tổ chức, quản lý,
điều hành của kẻ có tư liệu sản xuất. Theo đó, sự hưởng thụ các sản phẩm trong
nhất định của xã hội. Mặt khác, không phải mọi hệ thống sản xuất đều sinh ra
giai cấp, mà chỉ hệ thống sản xuất nào tạo ra tiền đề để những tập đoàn này có
quan hệ và địa vị khác nhau trong quá trình sản xuất mới tạo ra giai cấp khác
nhau, chỉ có những xã hội dựa trên những quan hệ sản xuất nhất định nào đó
mới tạo ra giai cấp.
Thứ hai, sự khác nhau giữa các giai cấp được thể hiện trên những phương
diện cơ bản sau:
- Quan hệ của họ đối với tư liệu sản xuất (thường thì được pháp luật quy định
và thừa nhận). Vai trò đó được thể hiện ở các quyền cơ bản: quyền sở hữu, quyền
chiếm hữu… Nền kinh tế càng phát triển thì các quyền này càng được mở rộng, biến
đổi và hình thành các quyền mới, đáp ứng sự phát triển của thực tiễn sản xuất.
- Vai trò tổ chức và phân công lao động trong quản lý, tổ chức sản xuất.
Tập đoàn người nào nắm quyền sở hữu tư liệu sản xuất thì nắm quyền điều
hành, tổ chức, quản lý sản xuất. Ở đây cần phân biệt rõ ràng giữa việc tổ chức,
quản lý sản xuất với quyền quyết định tổ chức, quản lý sản xuất, bởi trước yêu
cầu phát triển sản xuất hiện nay mà việc tổ chức quản lý ngày càng đòi hỏi cao,
phức tạp, có nhiều người cùng tham gia quản lý trong đó có cả người không nắm
tư liệu sản xuất, song vai trò quyết định quá trình sản xuất, quản lý sản xuất phải
là người nắm phần lớn tư liệu sản xuất.
- Phương thức, quy mô thu nhập. Tập đoàn nào nắm quyền sở hữu tư liệu
sản xuất thì nắm quyền về tổ chức phân phối sản phẩm. Sự phân phối sản phẩm
xã hội phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, tiến hành theo những phương thức khác
6
nhau. Trong xã hội hiện đại, sự phân phối sản phẩm xã hội được phân phối cho
các cá nhân sau khi đã khấu trừ các phần cơ bản.
Như vậy, giai cấp là một phạm trù xã hội, gắn liền với sản xuất vật chất,
đặc biệt là với quan hệ sản xuất, do đó các tiêu chí do V.I.Lênin đưa ra chủ yếu
là những tiêu chí về kinh tế và vật chất. Nhưng chúng ta cũng cần thấy rằng, sự
giai cấp là đấu tranh giữa những giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau không
thể điều hoà được.
Theo quan điểm mác xít, lợi ích giai cấp là những giá trị khách quan nhằm
thoả mãn nhu cầu nhất định của một giai cấp, đảm bảo cho giai cấp đó tồn tại và phát
triển. Lợi ích giai cấp không phải do ý thức giai cấp sinh ra và quy định, mà nó do
địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp đó tạo nên, do đó, muốn chỉ ra lợi ích giai cấp và
sự đối kháng lợi ích giai cấp phải phân tích tình hình, điều kiện phát triển cụ thể của
từng giai cấp. Lợi ích cơ bản của giai cấp khi có sự đối kháng gay gắt sẽ dẫn tới đấu
tranh giai cấp và cách mạng xã hội, khi mâu thuẫn cơ bản được giải quyết sẽ tạo ra
động lực thúc đẩy toàn bộ xã hội có giai cấp phát triển. Chính vì vậy, đấu tranh giai
cấp trở thành một trong những động lực cơ bản, quan trọng thúc đẩy sự phát triển
của xã hội có đối kháng giai cấp.
Trong đời sống xã hội, nguồn gốc, động lực của sự phát triển là mâu thuẫn
trong quá trình sản xuất vật chất, mà trước hết và trực tiếp là mâu thuẫn giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Do tính cách mạng, luôn vận động biến đổi
của lực lượng sản xuất, do đó, quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất luôn vận động từ chỗ phù hợp tới không phù hợp và mâu thuẫn. Khi quan hệ
sản xuất không phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì phải
xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới để thúc đẩy lực lượng
sản xuất phát triển. Song, để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình, giai cấp thống trị
luôn tìm mọi cách bảo vệ quan hệ sản xuất hiện có, cản trở, kìm hãm sự phát triển
của quan hệ sản xuất mới. Do đó, muốn mở đường cho lực lượng sản xuất phát
triển phải thông qua đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao của nó là cách mạng xã hội.
Trong cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tiên tiến với giai cấp thống trị đã phản
động, lỗi thời luôn diễn ra gay go quyết liệt, song giai cấp mới tiên tiến sẽ tất yếu
giành thắng lợi, bởi cuộc đấu tranh của họ ngày càng được quần chúng ủng hộ, vì
cuộc đấu tranh của giai cấp mới phù hợp với xu thế phát triển của xã hội. Như
vậy, đấu tranh giai cấp là phương thức cơ bản để giải quyết mâu thuẫn giữa lực
là nguyên nhân cơ bản của các cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trong chủ
nghĩa tư bản, chính vì vậy, giai cấp tư sản luôn tìm mọi cách để điều chỉnh quan
hệ sản xuất dưới nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, nhưng sự điều chỉnh ấy
9
lại dẫn tới hệ quả đó là, sự tập trung tư bản càng lớn, do đó, mâu thuẫn xã hội
ngày càng trở nên gay gắt. Những tiền đề mà chủ nghĩa tư bản tạo ra trong quá
trình tồn tại và phát triển đã dẫn tới sự đấu tranh giữa giai cấp vô sản với giai
cấp tư sản với mục tiêu là xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản về tư liệu sản
xuất, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Mục tiêu đó là đòi hỏi tất yếu
khách quan của lịch sử và nó được xuất phát từ nhu cầu giải phóng lực lượng
sản xuất, giải phóng con người tiến tới một xã hội không có giai cấp. Đây là
cuộc đấu tranh giai cấp cuối cùng trong lịch sử, bởi vì, sau cuộc đấu tranh ấy,
chế độ công hữu về cơ bản là phải chiếm ưu thế, giữ vai trò thống trị trong xã
hội. Do đó, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản là triệt
để nhất, nó đã xoá bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, nguyên nhân của mọi
mâu thuẫn trong xã hội.
- Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản dựa trên chiến lược liên
minh công nông rộng lớn: Mọi cuộc đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn tới liên minh
giai cấp. Cuộc đấu tranh giai cấp do giai cấp vô sản lãnh đạo và thực hiện nó
khác hẳn với các cuộc cách mạng trước kia trong quan niệm và thực hiện vấn đề
liên minh giai cấp với giai cấp nông dân. Nếu như trước đó, sự liên minh giữa
các giai cấp tiến hành cách mạng với giai cấp nông dân chỉ mang tính chất tạm
thời, thì nay trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản liên minh giữa công
nhân với nông dân là sự liên minh chiến lược và rộng lớn. Sự liên minh ấy được
xuất phát trước hết từ bản chất, mục tiêu của cuộc cách mạng mà giai cấp công
nhân thực hiện.
Kế thừa những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin đã phát
triển lý luận về liên minh giai cấp trong điều kiện mới của giai cấp vô sản.
suốt trong toàn bộ cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và ảnh hưởng trực tiếp tới
cuộc đấu tranh này. Trong mỗi dân tộc có một giai cấp đứng đầu thống trị dân
tộc, giai cấp đó sẽ dân tộc hoá các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nó, và
nó cũng giai cấp hoá hình thức phát triển của dân tộc. Vì vậy, mối quan hệ giữa
giai cấp và dân tộc trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trước hết là quan hệ
V.I.Lênin. Toàn tập, Nxb TB, M, 1976, tập 44, tr 57.
V.I.Lênin. Toàn tập, Nxb TB, M, 1976, tập 44, tr 8.
7
C.Mác và Ph.Ăng-ghen. Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1995, tập 4, tr 603.
5
6
11
giữa giai cấp vô sản và dân tộc, mà giai cấp vô sản là một bộ phận cấu thành nên
dân tộc ấy. Trong xã hội tư bản, giai cấp tư sản là giai cấp thống trị dân tộc, điều
đó đã làm cho cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp vô sản trong từng nước đều
nhằm vào việc lật đổ chính quyền tư sản, chuyển nó vào tay giai cấp công nông.
C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã khẳng định: “Mục đích trước mắt của những người
cộng sản là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác tổ chức những
người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô
sản giành lấy chính quyền”8. Chính việc đấu tranh giành chính quyền trong từng
dân tộc là đòi hỏi khách quan của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, đó là điều
kiện để giai cấp vô sản tự mình vươn lên thành giai cấp dân tộc, tự mình trở
thành dân tộc, xoá bỏ dân tộc tư sản để hình thành dân tộc XHCN, dân tộc vô
sản. Vì vậy, “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, dù về mặt nội dung không
phải là cuộc đấu tranh dân tộc nhưng lúc đầu lại mang hình thức dân tộc”9.
Mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc còn được thể hiện trong mối quan hệ
giữa giải phóng giai cấp với giải phóng dân tộc. C.Mác viết: “Hãy xoá bỏ tình
lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nhà kinh điển mác xít đã luận
chứng làm rõ những vấn đề về nguồn gốc giai cấp, tiêu chí phân biệt giai cấp,
cũng như nguyên nhân, điều kiện, mục tiêu cuối cùng của cuộc đấu tranh của
giai cấp vô sản. Từ lý luận đó, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã chỉ rõ đặc thù của
cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, nhiệm vụ lịch sử mà nó phải giải quyết, cũng
từ lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã xây dựng
nên chủ nghĩa cộng sản khoa học. Lý luận này đã xoá tan mọi ảo tưởng về xoá
bỏ giai cấp, xoá bỏ áp bức dựa trên cơ sở thuần tuý về giáo dục đạo đức mà
không xuất phát từ kinh tế, lực lượng sản xuất.
2. Nhận thức của Đảng ta về giai cấp và đấu tranh giai cấp trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Từ năm 1975 nước ta hoàn toàn độc lập, thống nhất cách mạng Việt Nam
đã hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc bước sang một giai đoạn lịch sử mới,
đó là thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV khẳng định: nước ta vẫn ở trong quá
trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên
chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, khó khăn
lớn nhất là nền kinh tế lạc hậu lại bị 30 năm chiến tranh tàn phá, kẻ thù luôn tìm
mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên thế
giới, cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và
13
chủ nghĩa tư bản, giữa độc lập, dân chủ, hoà bình với các thế lực phản động, đế
quốc, hiếu chiến vẫn diễn ra hết sức quyết liệt.
Từ thực tiễn của đất nước, Đại hội IV vạch ra đường lối chung của cách
mạng XHCN ở nước ta trong giai đoạn mới là: Nắm vững chuyên chính vô sản,
phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba
cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng
cơ bản như trước đây.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, được coi là cái mốc của thời kỳ đổi
mới. Đây là thời kỳ có nhiều biến đổi quan trọng nhất trong việc nhận thức các
vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong sự đổi
mới nhận thức đó, sự nhận thức và vận dụng lý luận về giai cấp và đấu tranh giai
cấp cũng được phát triển lên một tầm cao mới ở Việt Nam.
Từ phân tích những yếu kém, hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI vẫn xác định rõ hai nhiệm vụ cơ bản
của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc XHCN. Điều đặc biệt quan trọng là Đại hội VI đã đưa ra chủ trương phát
triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước và khẳng định đây là chiến lược lâu dài trong suốt thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là bước chuyển biến quan trọng trong nhận
thức về đấu tranh giai cấp ở thời kỳ quá độ, đó là sự vận dụng sáng tạo những
luận điểm của V.I.Lênin trong thời kỳ phát triển kinh tế mới ở Nga trước đây
vào Việt Nam.
Đại hội VI cũng đề ra đường lối đổi mới nhằm tạo ra những chuyển biến
trong nhận thức, trong hành động của toàn xã hội, đồng thời tạo ra những
chuyển biến quan trọng trong tình hình kinh tế - xã hội, đưa đất nước vượt qua
những khó khăn trước mắt. Đây là bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức
về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời, cũng là bước
chuyển biến quan trọng trong nhận thức về vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp
trong thời kỳ quá độ.
Từ Đại hội VI đến Đại hội VII, VIII, Đảng ta luôn kiểm điểm, đánh giá
tình hình trong nước và quốc tế, tổng kết thực tiễn, rút ra những bài học kinh
15
nghiệm, xác định rõ thời cơ và thách thức, phê phán những tư tưởng chủ quan
nóng vội trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đưa ra những mục
tiêu cụ thể phù hợp với tình hình đất nước. Tuy nhiên, quan điểm giai cấp của
nhận thức vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay. Điều này
vừa tạo ra sức mạnh cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc vừa tạo ra khả năng mới
cho sự cho sự phát triển đất nước. Những thành tựu đạt được từ sau Đại hội IX
đã minh chứng cho đường lối đúng đắn đó.
Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta vẫn tiếp tục nhất quán
về tính tất yếu và vai trò của đấu tranh giai cấp trong thời đại ngày nay, đấu
tranh giai cấp là vấn đề xuyên suốt và là nội dung cấu thành của lịch sử đương
đại. Đại hội X khẳng định: “Các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt” 11.
Ở tầm khái quát, Đại hội X đã xem vấn đề đấu tranh giai cấp của thời đại hiện
nay trong bức tranh toàn cảnh và gắn với đặc điểm, loại hình đấu tranh khác của
thời đại. Đây là cơ sở để xác lập quan điểm khoa học và biện chứng trong giải
quyết vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, chống việc phủ nhận hoặc cường
điệu, tuyệt đối hoá đấu tranh giai cấp trong thời đại hiện nay.
Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, trong cương lĩnh xây dựng đất
nước (bổ sung, phát triển năm 1991) Đảng tiếp tục khẳng định: “Các mâu thuẫn
cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn
tồn tại và phát triển…đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ,
xung đột vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ,
biển, đảo, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế tiếp tục diễn ra
phức tạp.”12 cho thấy nhận thức của Đảng về vấn đề giai cấp và đấu tranh giai
cấp vẫn bá, sát lý luận và thực tiễn, biểu hiện sự nhất quán trong tư duy và đưa
ra những dự báo khoa học.
Như vậy, phát triển lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa
Mác - Lênin ở Việt Nam là một quá trình nhận thức cơ bản và đúng đắn. Từ việc
nhận thức vai trò đến việc xác định nội dung cơ bản của đấu tranh giai cấp trong
thời kỳ lịch sử, từ chủ trương coi trọng vấn đề giải phóng dân tộc đến phát triển
kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường định hướng XHCN đã chứng tỏ lý
11
12
sức khó khăn. Trong tình hình đó, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam lại phát triển không mấy thuận lợi: nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam phát triển chưa toàn diện, đồng bộ, lành mạnh đáp ứng tình
hình mới, trong khi đó thành phần kinh tế nhà nước, tập thể không mạnh, hiệu quả
kinh doanh, khả năng cạnh tranh thấp, cho dù nó vẫn giữ vai trò trọng yếu trong
18
nền kinh tế quốc dân. Trong quá trình phát triển, hội nhập, các thành phần kinh tế
đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, trong mối quan hệ đa
phương, đa dạng đó không chỉ có những thuận lợi mà còn có những khó khăn bởi
sự xâm nhập của các yếu tố tư bản chủ nghĩa ảnh hưởng đến định hướng XHCN.
Để giữ vững định hướng XHCN, một vấn đề đặt ra là phải tạo điều kiện cho thành
phần kinh tế nhà nước phát triển để giữ vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân, song muốn thực hiện được điều đó nó cần có sự nỗ lực của chính bản
thân thành phần kinh tế nhà nước, cùng với sự ủng hộ của tất cả các thành phần
kinh tế, của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.
Kéo theo sự phát triển của nền công nghiệp là quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, nhất là trong những năm gần đây. Cơ cấu
kinh tế và lao động nông thôn có sự chuyển dịch phù hợp với yêu cầu của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp chuyển dần sang sản
xuất hàng hoá, kết cấu hạ tầng ở nông thôn được xây dựng ngày càng đồng bộ
đáp ứng kịp thời yêu cầu công nghiệp hoá ở nông thôn. Tuy nhiên, quá trình
chuyển dịch cơ cấu sản xuất ở nông thôn còn chậm, sản xuất còn manh mún, hiệu
quả còn thấp kém nhất là ở các tỉnh miền núi.
Từ sự biến đổi, phát triển của các thành phần kinh tế, các giai cấp, tầng
lớp trong xã hội cũng có những biến đổi quan trọng: Giai cấp từ chỗ phát triển
thuần nhất bao gồm những người sản xuất trong các xí nghiệp quốc doanh, nay
họ có sự tham gia của các bộ phận khác từ các doanh nghiệp, thành phần kinh tế
khác nhau, và bộ phận này hết sức đông đảo. Bên cạnh đó, lực lượng công nhân
liên minh này.
Về giai cấp tư sản Việt Nam, hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau. Có
quan điểm cho rằng Việt Nam chưa có giai cấp tư sản. Đây cũng có những cơ sở
chính đáng, bởi thực tế tư sản Việt Nam hiện nay chưa phải là một “tập đoàn
người to lớn”, họ cũng không liên kết thành một lực lượng độc lập, đối diện với
các giai cấp khác. Nhưng sự tồn tại thực tế của họ trong sản xuất kinh doanh
cũng đòi hỏi phải có sự nhận thức đúng đắn phù hợp. Tất nhiên, không đồng
nhất họ với tư sản nước ngoài và khi giai cấp công nông giành chính quyền.
Song, trên thực tế giữa họ với các giai tầng khác trong xã hội vẫn nảy sinh
20
những mâu thuẫn về kinh tế - xã hội, cần có sự điều chỉnh kịp thời của Đảng và
Nhà nước, tránh để những mâu thuẫn ấy phát triển theo hướng xấu.
Các vấn đề xã hội diễn biến phức tạp cùng với sự biến đổi của cơ cấu giai
cấp - xã hội, , đặc biệt là vấn đề tham nhũng, thoái hoá biến chất của một bộ phận
không nhỏ cán bộ Đảng viên ở tất cả các cấp. Đây là một vấn đề hết sức nhức
nhối của toàn xã hội, nó đã trở thành quốc nạn, trong khi những biện pháp khắc
phục nó đều không có hiệu quả thực sự. Theo đánh giá của Hội nghị lần thứ IX
Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng khoá IX (1 - 2004) chỉ trong vòng ba năm, sau
Đại hội IX đã có 45.000 cán bộ đảng viên vi phạm kỷ luật, trong đó, có 69 cán bộ
do Trung Ương quản lý. Đây là một khó khăn hết sức to lớn trong cuộc đấu tranh
giai cấp hiện nay.
Dựa trên những điều kiện, hoàn cảnh thực tế, Đảng ta đã đưa ra những
quan điểm đúng đắn về quan hệ giai cấp và những nội dung chủ yếu của cuộc
đấu tranh giai cấp hiện nay. Tuy nhiên, do chưa có sự nhận thức sâu sắc về mặt
lý luận và chưa đánh giá hết được tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp
hiện nay, do đó, những tinh thần cơ bản đó của Đảng vẫn chưa được thực sự
quán triệt trên phạm vi toàn xã hội.
Như vậy, cuộc đấu tranh giai cấp của chúng ta hiện nay diễn ra trong bối
khối đại đoàn kết toàn dân tộc thực sự vững chắc trên nền tảng liên minh công
nông - trí thức, với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp, song phải giữ
vững nguyên tắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
2. Nhận thức rõ vai trò trọng tâm của sự phát triển kinh tế trong đấu
tranh giai cấp.
Đây là vấn đề cơ bản nhất, chủ yếu nhất của thời kỳ quá độ.
Phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay, thực chất là phát triển kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây là phải tìm ra được
những nhân tố để thúc đẩy sự phát triển của mỗi thành phần kinh tế, trên cơ sở
vận dụng sáng tạo quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất. Bên cạnh việc phát triển tất cả các thành phần kinh tế
cần phải xác định vai trò, vị trí của từng thành phần kinh tế, xác định thành phần
22
nào là trọng tâm trong từng giai đoạn lịch sử. Để xác định vị trí của từng thành
phần kinh tế phải dựa trên trình độ của lực lượng sản xuất.
Ở nước ta hiện nay, lực lượng sản xuất phổ biến là trình độ thủ công thì
thành phần kinh tế phù hợp nhất với nó là thành phần kinh tế tư nhân. Nhưng
kinh tế tư nhân ở Việt Nam hoàn toàn khác với kinh tế tư nhân ở các nước tư
bản chủ nghĩa, bởi, ở Việt Nam thành phần này là một bộ phận quan trọng để
tạo ra sự phát triển của kinh tế thị trường XHCN, tạo tiền đề vật chất kỹ thuật để
xây dựng quan hệ sản xuất XHCN. Muốn phát triển thành phần kinh tế tư nhân,
nhà nước cần tạo ra những giải pháp hữu hiệu để phát triển nó. Mặt khác, kinh tế
tư nhân trong thời kỳ quá độ thực chất không phải là kinh tế tư bản thuần tuý,
mà là một hình thức của tư bản nhà nước, do đó, vấn đề quan trọng là trong quá
trình phát triển nó, Đảng - Nhà nước phải có sự điều chỉnh các quan hệ sản xuất,
xu hướng vận động của nó, đồng thời phải có sự quản lý của nhà nước. Đảng và
Nhà nước cần chủ động, kịp thời điều chỉnh khi thành phần này đã phát triển
phương diện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Để chiến thắng được chủ nghĩa tư bản khi chưa có tiềm lực lớn hơn chủ
nghĩa tư bản thì cần phải tạo ra tiềm lực kinh tế - xã hội bằng những biện pháp
khôn ngoan và hiệu quả nhất. Một trong những biện pháp đó là mở rộng quan hệ
quốc tế, đặc biệt là với những nước tư bản phát triển, nhằm tiếp thu những thành
tựu kinh tế, khoa học, công nghệ, phương thức tổ chức, quản lý xã hội… nhanh
chóng đạt được mục tiêu “đi tắt đón đầu” rút ngắn quá trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Tạo nên sự đan cài về lợi ích, sự cạnh tranh và những
động lực mới để phát triển toàn diện đất nước.
24
KẾT LUẬN
Lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết
cách mạng, nội dung chiến đấu triệt để, sâu sắc. Mặc dù tính đến nay đã qua hàng
trăm năm kể từ khi các tư tưởng đó ra đời, song học thuyết đó vẫn còn nguyên giá trị
cả về lý luận và thực tiễn, là cơ sở cho các Đảng Cộng sản các nước và nhân dân tiến
bộ trên thế giới đấu tranh cho công bằng, bình đẳng và tiến bộ xã hội.
Từ khi lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin
được Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền bá vào Việt Nam, được nhận thức và vận dụng
một cách sáng tạo, linh hoạt qua các giai đoạn lịch sử cách mạng khác nhau, phù hợp
với điều kiện lịch sử đặc thù của dân tộc, giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giai
cấp, quan hệ giai cấp - dân tộc và quốc tế. Tất nhiên, trong suốt chặng đường dài ấy,
do những nguyên nhân khác nhau, không thể không có những vấp váp, sai lầm tả
khuynh. Song, sau mỗi sai lầm, Đảng Cộng Sản Việt Nam lại đã nhận thức được và
tìm cách khắc phục vượt qua để phát triển đi lên.
Từ kết quả lãnh đạo của Đảng và những thành tựu to lớn đã đạt được trong sự
nghiệp đổi mới và phát triển đất nước trong những năm vừa qua đã chứng tỏ lý luận
về giai cấp và đấu tranh giai cấp ngày càng được nhận thức và vận dụng đúng đắn
hơn. Việc nghiên cứu sâu sắc lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp là hết sức cần