TIỂU LUẬN tư TƯỞNG về CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG tác PHẨM ĐƯỜNG CÁCH MỆNH của CHỦ TỊCH hồ CHÍ MINH và sự vận DỤNG của ĐẢNG TA HIỆN NAY - Pdf 39

Tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam trong tác phẩm “Đường Cách
mệnh” và sự vận dụng của Đảng ta hiện nay
MỞ ĐẦU
Trước năm 1930, cách mạng Việt Nam đứng trước sự khủng hoảng về đường
lối; Các phong trào yêu nước của các nhà cách mạng như Phan Bội châu, Phan
Châu Trinh, các khuynh hướng cứu nước dù theo phong kiến hay dân chủ tư sản
đều có một kết quả chung là thất bại. Trong bối cảnh đó, sau khi đã đi khắp các
châu lục, qua nhiều nước khác nhau, từ một người thanh niên yêu nước, Nguyễn Ái
Quốc đã trở thành một chiến sỹ cộng sản quả cảm, kiên trung và chính Người đã
tìm ra cho dân tộc Việt Nam một con đường cứu nước mới, phù hợp với chân lý
của thời đại: muốn giải phóng dân tộc Việt Nam không có con đường nào khác đó
là con đường cách mạng vô sản.
Tác phẩm “Đường Kách mệnh” là tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái
Quốc - Hồ Chí Minh đã giảng tại lớp Huấn luyện chính trị trong những năm 19251927. Với cách viết mộc mạc, đơn giản, ngắn gọn, nhưng nội dung phong phú, hàm
chứa những tư tưởng lớn mang tính quốc gia và quốc tế vĩ đại của Hồ Chí Minh.
Người đã đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam theo cách của riêng mình, góp
phần trang bị cho nhân dân ta tư tưởng mới của thời đại. Đường Kách mệnh xác
định rõ mục tiêu Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khẳng định con đường cách
mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn, đó là dân tộc cách mệnh và thế giới
cách mệnh.
Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ
nghĩa xã hội trong tác phẩm, Đảng ta luôn tìm tòi và làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa
xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đảng ta khẳng định: “Đi lên
chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng
Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của
lịch sử”.


2
1. Tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam trong tác phẩm Đường
Kách mệnh

Quốc được đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và
thuộc địa” của V.I Lênin. Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn
Ái Quốc đang trăn trở tìm hiểu, giúp Người thấy rõ con đường thắng lợi của cách
mạng giải phóng dân tộc, nhận rõ lập trường của V.I.Lênin và Quốc tế thứ ba khác
hẳn với những lời tuyên bố suông của Quốc tế thứ hai. Luận cương của V.I.Lênin
đã có ảnh hưởng quyết định đến lập trường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc. Sau
này người viết: “luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng
tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng
mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đoạ
đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng
ta!”. Từ đó tôi hoàn toàn tin theo V.I Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”1.
Tháng 12-1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua (Tours), Nguyễn Ái
Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba và tham gia thành lập Đảng Cộng
sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quyết định trong cuộc đời hoạt động
của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, mở đường giải quyết
đúng đắn về đường lối giải phóng dân tộc của Việt Nam.
Qua 10 năm sống và làm việc ở nhiều nước trên thế giới, qua nhiều lục địa,
đặc biệt là ở những nước tư bản phát triển, Nguyễn Ái Quốc không choáng ngợp
trước sự giàu có của giai cấp tư sản mà lại nhận thấy chế độ tư bản có nhiều khuyết
tật. Người khẳng định dứt khoát chủ nghĩa tư bản không cứu được nước, không cứu
được dân. Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã giúp Nguyễn Ái
Quốc nhanh chóng nhận ra chân lý thời đại: chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa
cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên

1

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 127.


4



5
thanh niên yêu nước Việt Nam có xu hướng cộng sản chủ nghĩa, chuẩn bị thành lập
Đảng, cơ quan tuyên truyền của Hội là tuần báo Thanh niên. Từ năm 1925-1927,
Người mở nhiều lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu, đào tạo một đội ngũ cán
bộ cho cách mạng Việt Nam. Sau các khoá học một số được chọn đi học ở Trường
Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, một số được cử đi học Trường Quân
sự Hoàng Phố, còn phần lớn trở về nước để “truyền bá lý luận giải phóng dân tộc
và tổ chức nhân dân”3.
Đầu năm 1927, những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc cho các lớp đào tạo
cán bộ tại Quảng Châu được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp
bức xuất bản thành sách với tên gọi là Đường Kách mệnh. Tháng 4-1927, Tưởng
Giới Thạch phản bội cách mạng Trung Quốc, đàn áp đảng viên cộng sản và những
người cách mạng. Nguyễn Ái Quốc phải rời Quảng Châu sang Liên Xô. Mùa thu
năm 1928, Người về Thái Lan tiếp tục công việc chuẩn bị thành lập Đảng.
Những bài giảng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc dùng trong các lớp huấn
luyện của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) vào
những năm 1925-1927, được tập hợp thành quyển sách “Đường cách mệnh” đáp
ứng kịp thời yêu cầu đó. Tác phẩm dài 61 trang (từ trang 257 đến trang 318) được
trình bày 15 chương, mỗi chương là một nội dung, một chủ đề tương đối độc lập
trong một bài giảng: Tư cách người cách mệnh; Vì sao viết sách này?; Cách mệnh;
Lịch sử cách mệnh Mỹ; Cách mệnh Pháp; Lịch sử cách mệnh Nga; Quốc tế; Phụ nữ
quốc tế; Công nhân quốc tế; Cộng sản thanh niên quốc tế; Quốc tế giúp đỡ; Quốc tế
cứu tế đỏ; Cách tổ chức Công hội; Tổ chức dân cày; Hợp tác xã.
Tóm lại, Đường cách mệnh ra đời xuất phát từ những lý do sau đây:
Thứ nhất, khách quan do phong trào cách mạng của Đông Dương nói chung
và ở Việt Nam nói riêng cho phép và đòi hỏi phải có lý luận khoa học dẫn đường;
Thứ hai, chủ quan, đáp ứng nhu cầu khách quan đó, Nguyễn Ái Quốc trên cơ
sở đã tiếp thu được chủ nghĩa Lênin và nhận thức sâu sắc sự cần thiết phải truyền

mệnh: “Lý luận và lịch sử cách mệnh có nhiều sách lắm. Pháp nó sợ nên nó cấm
chúng ta học, cấm chúng ta xem, cho nên đồng bào ta đối với hai chữ cách mệnh
còn lờ mờ lắm”. Nguyễn Ái Quốc đã lập luận chặt chẽ, luận giải một cách ngắn


7
gọn, rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức của quần chúng nhân dân về
“cách mệnh”:
Theo Người “Cách mệnh” là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra
cái tốt. Nguyễn Ái Quốc cũng luận giải và chỉ ra các loại hình cách mạng, chỉ rõ
nguyên nhân của cách mạng tư sản, cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng vô
sản, xét đến cùng là do áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị, mâu thuẫn giai cấp
không thể điều hoà, đòi hỏi phải giải quyết bằng cách mạng xã hội. Cách mạng
không thể thực hiện bằng con đường cải lương mà chủ yếu bằng giải pháp là cách
mạng bạo lực, Người cũng đã phê phán những quan điểm và nhận thức sai trái.
Từ những vấn đề chung đó, Người đi sâu vào những vấn đề cấp thiết của
cách mạng Việt Nam, vạch ra những phương hướng cơ bản về chiến lược và sách
lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
Về tính chất của cách mạng Việt Nam, trong tác phẩm, Bác Hồ chỉ rõ Việt
Nam đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập, đấy là dân tộc cách mệnh, cách mạng
Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc. Nhưng, cách mạng giải phóng dân tộc
Việt Nam phải là cuộc cách mạng vô sản, phải làm cách mạng vô sản, phải đi theo
con đường cách mạng vô sản. Chỉ có đi theo con đường cách mạng vô sản thì mới
có độc lập thật sự, độc lập đầy đủ, độc lập bền vững.
Người khẳng định: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách
mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực
trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần
rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát
khỏi vòng áp bức”4. Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là cách mạng
thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự

phạm trù, quỹ đạo của cách mạng vô sản nghĩa là làm cách mạng dân tộc dân chủ,
tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Về lực lượng cách mạng, công nông là gốc của cách mệnh, học trò, nhà
buôn, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công nông. Ai mà bị áp bức càng nặng, thì lòng
cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết. Cách mệnh là việc chung của cả
dân chúng chứ không phải là việc của một hai người. Lực lượng quần chúng đông
5
6

Hồ Chí Minh, Toàn tập,tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.280.
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2000, tr.270.


9
đảo nhưng phải dựa trên nền tảng liên minh công nông, lấy công - nông làm gốc:
“Công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư
bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; ba hạng ấy chỉ là bầu bạn của
cách mệnh thôi”.
Bên cạnh đề cập đến vai trò của liên minh công nông trong khối đại đoàn kết
dân tộc, Người còn nêu lên: Muốn đoàn kết thì phải làm gì? “Muốn phát huy được
phải giáo dục, giác ngộ cho quần chúng biết được tác hại do chính sách ngu dân
của bọn đế quốc phong kiến. Phải giảng lý luận cách mạng, làm cho phong trào
cách mạng trở nên tự giác, chứ không phải tự phát, cách mệnh phải có chiến lược,
sách lược đúng”. Phải tuyên truyền mở rộng tầm nhìn của quần chúng nhân dân,
không chỉ tình hình trong nước mà còn ở cả phạm vi quốc tế, nhận thức rõ ai là
bạn, ai là thù.
Về phương pháp cách mạng, quan điểm của Nguyễn Ái Quốc là quan điểm
cách mạng bạo lực. Người cho rằng giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào, cho
nhân loại là công việc “to tát”, cho nên phải “dùng hết sức”, phải “quyết tâm thì
làm chắc được”, “thà chết tự do hơn sống làm nô lệ”. Trong tác phẩm, Người phê

Về đảng cách mạng, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: muốn đưa cách mạng đến
thắng lợi, trước hết phải có đảng cách mệnh. Đảng có vững cách mệnh mới thành
công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Trong đảng phải có chủ
nghĩa làm cốt, ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo: “Đảng muốn vững thì phải có
chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”.
Đảng thiếu chủ nghĩa như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.
“Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc
chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” 9. Sau này trong nhiều tác phẩm, Hồ
Chí Minh tiếp tục đề cập nhiều vấn đề quan trọng, cốt lõi về Đảng Cộng sản Việt
Nam – Đảng cầm quyền, mà cốt lõi là đảng phải là trí tuệ, đạo đức, quang vinh, để
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. tr.281.
Hồ Chí Minh,Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2000. tr. 287.
9
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2000. tr 268.
7
8


11
lãnh đạo giai cấp công nhân, dân tộc Việt Nam giữ vững độc lập dân tộc, đi lên chủ
nghĩa xã hội
Về mô hình nhà nước trong tương lai khi cách mạng thành công , Nguyễn
Ái Quốc đã khẳng định tinh thần: Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm
cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số
nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân
chúng mới được hạnh phúc. Nhận thức này đã giúp Hồ Chí Minh xác định rõ con
đường giải phóng dân tộc Việt Nam theo quỹ đạo cách mạng vô sản và thiết lập
một thể chế quyền lực thuộc về nhân dân theo mô hình nhà nước Xô - Viết. Đó
chính là con đường: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, để đi tới xã hội
cộng sản chủ nghĩa. Như vậy, khác với cuộc cách mạng vô sản ở các nước chính

Đối với giai đoạn hiện nay, tác phẩm Đường Cách Mệnh đã khẳng định sự
lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh
là hoàn toàn có cơ sở khoa học và đúng đắn, để củng cố niềm tin và mục tiêu lý
tưởng, củng cố niềm tin vào sự nghiệp cách mạng, kiên định mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, đây là
sự lựa chọn rất sớm từ trong lịch sử của Bác Hồ, của Đảng và nhân dân ta, nhưng
đây vẫn là vấn đề thời sự nóng bỏng đối với chúng ta hiện nay.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng đã vận dụng sáng tạo
tư tưởng của Người về con đường cách mạng trong tác phẩm để xác định ngày càng
rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
2. Sự vận dụng tư tưởng về con đường cách mạng trong tác phẩm
“Đường Kách mệnh”của Đảng ta hiện nay.
2.1. Những thành tựu nổi bật trong vận dụng và hiện thực hóa tư tưởng về
con đường cách mạng Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạng và con đường
cách mạng Việt Nam, ngay sau khi ra đời, Đảng ta vận dụng sáng tạo trong đề ra
đường lối lãnh đạo cách mạng và đã có những thành tựu nổi bật, độc đáo trong tư


13
duy về con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; quá độ lên chủ nghĩa xã
hội.
Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định với mục tiêu độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – nội hàm “cách mạng vô sản” được Bác Hồ đã
nêu trong tác phẩm, sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đã và đang giành được
những thắng lợi to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách
mạng Tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời là một
trong những thắng lợi nổi bật, vĩ đại nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ
XX, đã làm cho chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta bị xóa bỏ, một kỷ
nguyên mới mở ra, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đồng

Bên cạnh đó, Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa cũng có nhiều thuận lợi:
Đất nước hòa bình và thống nhất; Dân tộc Việt Nam có truyền thống anh
hùng, bất khuất, nhân dân ta có lòng yêu nước và cần cù lao động; Chúng ta có một
số cơ sở vật chất ban đầu; Thời cơ phát triển do cách mạng khoa học và công nghệ
và xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới tạo ra.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung,
phát triển năm 2011) xác định:
Quá trình xây dựng xã hội XHCN là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt
để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ
lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen.
Chỉ rõ những thuận lợi cơ bản đó là: Có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng
Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, có bản lĩnh
chính trị vững vàng và dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo; Dân tộc ta là một dân tộc
anh hùng, có ý chí vươn lên mãnh liệt; nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, có
truyền thống đoàn kết và nhân ái, cần cù lao động và sáng tạo, luôn ủng hộ và tin


15
tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; Chúng ta đã từng bước xây dựng được những cơ
sở vật chất - kỹ thuật rất quan trọng; Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện
đại, sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức cùng với quá trình toàn cầu hoá và
hội nhập quốc tế là một thời cơ để phát triển.
Thứ ba, Về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng
Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta đã nhận thức này càng
rõ hơn những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Bắt đầu từ Đại hội VII (tháng
6/1991), Đảng ta đã khái quát các đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Đại hội X
và XI của Đảng đã bổ sung, phát triển các đặc trưng trên.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm

sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất hiện đại trong điều kiện nền kinh
tế phát triển cao chính là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa).
Bốn là, có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Năm là, con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện. (So với Cương lĩnh năm 1991 đã bỏ cụm
từ “bóc lột” xuất phát từ thực tế khi kết thúc thời kỳ quá độ và do khái niệm “bóc
lột” còn có ý kiến khác nhau).
Sáu là, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ
và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. (So với Cương lĩnh năm 1991 đã bổ sung cụm từ
tương trợ).
Bảy là, có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. (Đặc trưng này chưa được
đề cập trong Cương lĩnh năm 1991. Sự bổ sung thể hiện nhận thức rất mới của
Đảng về Nhà nước xã hội chủ nghĩa).
Tám là, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Như vậy, so với Cương lĩnh năm 1991, về số lượng, Đại hội X đã bổ sung
hai đặc trưng mới của xã hội xã hội chủ nghĩa và sửa đổi một số ý trong sáu đặc
trưng nêu trong Cương lĩnh năm 1991. Đó là bước phát triển mới của Đảng trong


17
nhận thức lý luận và tổng kết thực tiễn về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta
xây dựng.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011) tiếp tục hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội XI tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thêm nội dung các
đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, gồm:
- Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. (So với Đại hội X,
đưa cụm từ “dân chủ” lên trước “công bằng” cho phù hợp về lý luận và thực tiễn

Trong những năm đầu, đất nước ta phải đương đầu với những thách thức, khó khăn
chồng chất: hậu quả nặng nề của chiến tranh chưa được khắc phục, thì lại vừa phải
tiến hành cuộc chiến đấu mới để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, vừa phải chống lại sự bao vây, cấm vận của các thế
lực thù địch, vừa phải tiếp tục tìm tòi, khảo nghiệm con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội phù hợp đặc điểm Việt Nam trong điều kiện mới. Cùng với những khó khăn
khách quan, còn có những khuyết điểm chủ quan trong lãnh đạo, quản lý và cơ chế,
chính sách, khiến cho kinh tế - xã hội nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng.
Đứng trước yêu cầu của lịch sử, nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng
kinh tế  - xã hội, khi đổi mới đã trở thành vấn đề có tầm quan trọng sống còn đối
với dân tộc, bằng bản lĩnh chính trị đã được tôi luyện trong quá trình đấu tranh cách
mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật,
nói rõ sự thật”, tự phê bình và phê bình sâu sắc, nhận thức lại con đường, bước đi
xây dựng chủ nghĩa xã hội, lắng nghe, tập hợp ý kiến, nguyện vọng và trí tuệ của
nhân dân để hoạch định đường lối đổi mới đất nước tại Đại hội VI của Đảng (năm
1986).
Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đáp ứng đòi hỏi cấp
bách của đất nước, phù hợp với xu thế phát triển chung của khu vực và cục diện thế


19
giới mới. Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, Đảng, Nhà nước và nhân
dân ta đã không ngừng nỗ lực, tích cực, chủ động tìm tòi, khám phá và sáng tạo.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn cả về lý luận
và thực tiễn. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội được thông qua tại Đại hội VII của Đảng (năm 1991) và 20 năm sau, từ thực
tiễn của đất nước, Đảng đã hoạch định Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) - là bước phát triển
nhận thức, lý luận quan trọng trong tiến trình đổi mới đất nước.
Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, với sự nỗ lực của toàn Đảng,

Trong Văn kiện Đại hội VII, Đảng ta xác định phương hướng đi lên chủ
nghĩa xã hội ở các nội dung sau đây:
Một là, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ
quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi
hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.
Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo
hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm
vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa
xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống
nhân dân.
Ba là, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng
bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình
thức sở hữu. Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh
tế quốc dân. Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả
lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu.
Bốn là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và
văn hoá làm cho thế giới quan Mác-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ
vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy những truyền


21
thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa
văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính
và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày
càng cao. Chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt
đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng

Bảy là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia.
Tám là, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đại hội XI đã thông qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011). So với Cương lĩnh năm 1991 và Đại hội X, Cương
lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã hoàn chỉnh và sắp xếp lại thứ tự các
phương hướng cơ bản như sau:
Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát
triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Từ một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, tất
yếu phải tiến hành công nghiệp hoá. Trong thời đại cách mạng khoa học – công
nghệ, công nghiệp hoá phải kết hợp ngay từ đầu với hiện đại hoá, gắn với phát
triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đây là bước phát triển mới về lý luận của Đảng ta trong quá trình đổi mới.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình kinh tế
tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Mô hình đó đòi hỏi
phải:
- Phát triển các thành phần kinh tế; các thành phần kinh tế hoạt động theo
pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước
pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát


23
triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng
vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
- Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng
chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo
dục..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực

tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Chủ động về đường lối, chính sách, bước đi
trong hội nhập. Tích cực chuẩn bị vươn lên tham gia mạnh mẽ hơn, đầy đủ hơn
vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Đại hội XI bô
sung cam kết nước ta là “thành viên có trách nhiệm” của các tổ chức quốc tế mà
chúng ta tham gia.
Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết
toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.
Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân
là mục tiêu và bản chất của chế độ ta. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của sự phát triển. Phát huy dân chủ gắn liền với phát huy sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc. Đại hội X, Đại hội XI đều xác định đại đoàn kết toàn dân tộc vừa
là nguồn lực chủ yếu để xây dựng xã hội mới, vừa là nhân tố quyết định bảo đảm
thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân.
Nhà nước pháp quyền là sự tiến bộ của nhân loại, trong đó có đặc điểm nổi
bật là bảo đảm quyền tối cao của pháp luật. Nhà nước pháp quyền ở nước ta là
nhà nướccủa nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền làm
chủ của mình chủ yếu bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, dưới sự lãnh đạo
của Đảng. Nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân
dân. Văn kiện Đại hội XI xác định: xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa hiện nay là xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước; xây dựng hoàn thiện
cơ chế kiểm tra, giám sát các cơ quan công quyền; tiếp tục đổi mới hoạt động


25
lập pháp, hành pháp và tư pháp; tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham
nhũng, lãng phí.
Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status