Thực hiện pháp luật về tiếp công dân từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HUỆ

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CÔNG DÂN
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số

: 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG HÀ

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy
định của Học viện.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ
Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

ban nhân dân các cấp huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
2.4. Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế trong thực hiện pháp luật về tiếp
công dân từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

33

45

49

60

Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ TIẾP CÔNG DÂN TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI

66

DƯƠNG
3.1 Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân

66

3.2 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân

67

3.3.Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân

71


tiếp công dân là nhà nước tiếp nhận sự phản ánh lại những tác động từ hoạt động
quản lý của nhà nước, đồng thời công dân cũng là chủ thể của quyền lực nhà
nước khi công dân có quyền đề xuất, kiến nghị với nhà nước về những nội dung
liên quan đền quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo đó, nhà nước có trách
nhiệm tiếp công dân để lắng nghe, tiếp nhận, xử lý, giải quyết các khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh và cung cấp cho người dân những thông tin liên quan
đến nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đó.
Tiếp công dân có vai trò rất quan trọng, thời gian qua, Đảng và Nhà nước
đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản pháp luật về tiếp công dân; Ngay
từ ngày đầu xây dựng nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Đảng, Chính phủ
và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm đến việc thể chế hoá và hiện thực
hoá các quyền tự do, dân chủ trong đó có quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.
Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban
Thanh tra đặc biệt, Điều 2 của Sắc lệnh này quy định một trong những nhiệm vụ

1


của Ban thanh tra là “Tiếp nhận các đơn khiếu nại của nhân dân”. Đây là văn
bản pháp lý quan trọng đầu tiên xác định quyền khiếu nại của công dân đối với
quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, cán bộ, nhân
viên làm việc trong cơ quan đó và trách nhiệm của cơ quan thanh tra trong việc
giải quyết các khiếu nại của nhân dân.
Tại Hội nghị cán bộ Thanh tra toàn miền Bắc năm 1957, Chủ tịch Hồ
Chí Minh huấn thị: “Về công tác xét và giải quyết các việc khiếu nại, tố giác,
nhiệm vụ của các Ban Thanh tra là phải làm cho nghiêm chỉnh, kịp thời, làm
sớm chừng nào hay chừng ấy. Đồng bào có oan ức mới khiếu nại, hoặc chưa
hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại. Ta giải quyết nhanh,
tốt chừng nào thì đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm đến quyền lợi
của họ, do đó mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ cũng được

nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái
pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền
được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của
pháp luật ”[17].
Tiếp theo đó, ngày 26 tháng 6 năm 2014 Chính Phủ ban hành Nghị định
số 64/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tiếp công dân
năm 2013. Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư số 06/2014/TT-TTCP ngày
31 tháng 10 năm 2014 quy định về quy trình tiếp công dân.
Như vậy, những quy định của pháp luật về công tác tiếp công dân ngày
càng đầy đủ, hoàn thiện, các quy định này đóng vai trò rất quan trọng, là cơ sở
pháp lý giúp công dân thực hiện được các quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh của mình, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước,
người có thẩm quyền trong hoạt động tiếp công dân, giải quyết các khiếu nại, tố
cáo, phản ánh, kiến nghị chính đáng của người dân, thông qua công tác tiếp dân
mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân ngày càng được tăng cường, củng cố,
tiếp công dân là cầu nối trực tiếp, hữu hiệu nhất để người lãnh đạo chính quyền,
3


cán bộ nhà nước gần và sát dân hơn, cán bộ lãnh đạo sẽ có cơ hội nắm bắt được
tâm tư, nguyện vọng và những băn khoăn, trăn trở của nhân dân, giải quyết kịp
thời những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân, tạo được niềm
tin trong nhân dân, góp phần nâng cao trách nhiệm của chính quyền, ổn định
tình hình chính trị địa phương nói riêng và trong cả nước nói chung, tạo nên sức
mạnh đoàn kết toàn dân.
Tiếp công dân là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước nói chung nhưng
đặc biệt quan trọng là trách nhiệm của UBND các cấp, bởi lẽ UBND các cấp là
cơ quan có thẩm quyền chung, quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội tại
địa phương, thường xuyên có quyết định, hành vi tác động đến quyền và lợi ích

Thứ nhất, nhận thức pháp luật của một bộ phận nhân dân về các lĩnh vực
chưa cao, đặc biệt là về đất đai, giải phóng mặt bằng.
Thứ hai, còn tình trạng cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước chưa
nhận thức đúng về trách nhiệm, vai trò của mình trong công tác tiếp công dân, coi
nhẹ các đề nghị của công dân, tình trạng đùn đẩy, né tránh vẫn xảy ra.
Thứ ba, tình hình kinh tế, xã hội ngày càng phát triển cùng với nó là các
quan hệ xã hội diễn ra sôi động trên các phương diện, các tranh chấp giữa các tổ
chức, cá nhân về quyền và nghĩa vụ ngày càng nhiều và phức tạp đòi hỏi sự can
thiệp của nhà nước, bên cạnh đó có cả xung đột giữa nhà nước và nhân dân liên
quan đến lợi ích của người dân. Vấn đề đó dẫn đến các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh trở nên phức tạp.
Để khắc phục những hạn chế, khó khăn trong công tác tiếp dân trên địa bàn
huyện Tứ Kỳ hiện nay, góp phần ổn định trật tự xã hội trên địa bàn huyện, cùng với
điều kiện của bản thân có nhiều năm trực tiếp làm công tác tiếp công dân nên học
viên chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về tiếp công dân từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ,
tỉnh Hải Dương” làm đề tài luận văn thạc sỹ Luật học chuyên ngành Luật Hiến
pháp và luật Hành chính. Với mong muốn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về tiếp
công dân trong hoạt động quản lý Nhà nước, đánh giá đúng đắn thực trạng địa

5


phương và đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tiếp công
dân của UBND các cấp tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật tiếp công dân, về thực tiễn
hoạt động công tác tiếp công dân nói chung trên cả nước, làm cơ sở lý luận và
nguồn tham khảo cho đề tài, cụ thể:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố
cáo của Ts. Bùi Mạnh Cường và Ts. Nguyễn Thị Tố Uyên sưu tầm và tuyển chọn,

nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục
hành chính trong công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- “Giải quyết khiếu tố của nhân dân - thực trạng và những bài học kinh
nghiệm’’ (Khoa Nhà nước và Pháp luật- Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, 2001) được các tác giả bàn luận theo phương thức trên cơ sở lý luận về
khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo để rút ra một số bài học kinh
nghiệm, kiến nghị các giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
- “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong tình hình hiện nay”, Tham luận tại hội thảo Thanh tra 7 tỉnh miền
Bắc năm 2014. Các tham luận tập trung vào các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Các công trình nghiên cứu trên ở các mức độ khác nhau đều có đề cập vấn
đề tiếp công dân nói chung nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể và trực
tiếp đến vấn đề tiếp công dân từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Các đề
tài, bài biết, tham luận mới chỉ đề cập đến những vấn đề riêng hoặc ở một số khía
cạnh nhất định, rời rạc đến pháp luật về tiếp công dân và bất cập, khó khăn trong
quá trình thực hiện pháp luật về tiếp công dân của các cơ quan, đơn vị.
Vì vậy, vấn đề “Thực hiện pháp luật về tiếp công dân từ thực tiễn huyện Tứ
Kỳ, tỉnh Hải Dương” là vấn đề cần được nghiên cứu. Đó cũng chính là một trong
những lý do tác giả chọn vấn đề này làm đề tài luận văn cao học Luật của mình.
7


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học về tiếp công dân tại huyện
Tứ Kỳ, đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về tiếp công
dân nói chung và nâng cao hiệu quả của hoạt động tiếp công dân Ủy ban nhân dân
các cấp tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương hiện nay. Đánh giá thực trạng thực hiện

với UBND huyện, UBND cấp xã trong việc thực hiện chính sách, pháp luật của
Đảng, Nhà nước ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tổ chức và hoạt động tiếp công
dân nói chung và tiếp công dân của UBND cấp huyện, cấp xã nói riêng. Các phương
pháp nghiên cứu cụ thể đó là: duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, khảo sát, đánh
giá thực tiễn, phân tích, tổng hợp, logic, chứng minh, so sánh, hệ thống hóa.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Là công trình nghiên cứu tổng quát về pháp luật và việc thực hiện pháp luật
về tiếp công dân của UBND các cấp huyện Tứ Kỳ, luận văn có những đóng góp
mới sau:
- Góp phần làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của hoạt động tiếp
công dân trong quản lý nhà nước, từ đó nêu bật vị trí, vai trò và trách nhiệm của
cán bộ, công chức trong tiếp công dân.
- Đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật và thực tiễn thực
hiện pháp luật về tiếp công dân tại UBND các cấp huyện Tứ Kỳ, làm rõ những kết
quả đạt được, ưu điểm, những hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân của những
ưu điểm, hạn chế trong quá trình thực hiện những quy định của pháp luật về tiếp
công dân của UBND các cấp huyện Tứ Kỳ.

9


- Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của
việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân nói chung và tiếp công dân trên địa bàn
huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương nói riêng. Trong đó, tập trung vào giải pháp hoàn
thiện quy định của pháp luật và tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ công chức thực hiện hoạt động tiếp công dân.

hành chính. Chính vì vậy, trong quản lý nhà nước luôn ẩn chứa nguy cơ phát
sinh những xung đột về lợi ích giữa một bên là các cơ quan nhà nước-chủ thể
của quản lý nhà nước với một bên là cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lýđối tượng của quản lý nhà nước. Trong một xã hội dân chủ, nhà nước không chỉ
ban hành quy định buộc các đối tượng quản lý phải tuân theo mà trong quá trình
quản lý nhà nước cũng luôn cần sự đóng góp ý kiến từ phía tổ chức, người dân
để khắc phục những hạn chế, hoàn thiện về cơ cấu tổ chức cũng như chính sách,
pháp luật. Việc quản lý đạt hiệu quả hay không được đánh giá vào mức độ đồng
thuận giữa nhà nước và nhân dân, do đó, việc tiếp xúc giữa các cơ quan quản lý
nhà nước với các cơ quan, tổ chức, cá nhân là yêu cầu khách quan.
Nhà nước thực hiện việc tiếp nhận những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh từ phía nhân dân về những quyết định, hành vi của cơ quan nhà nước,
của cán bộ, công chức nhà nước, đó là một sự phản ứng tự nhiên của con người

11


khi quyết định, hành vi quản lý của nhà nước đã được ban hành hoặc thực hiện
mà người dân thấy rằng nó không phù hợp, hoặc không đúng, xâm phạm đến
quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của xã hội. Nhà nước có trách nhiệm tổ
chức gặp gỡ, tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
của công dân. Đây chính là hoạt động tiếp công dân của cơ quan nhà nước, đặc
biệt là cơ quan hành chính nhà nước.
Hoạt động tiếp công dân là một trong những hoạt động thường xuyên
của các cơ quan nhà nước. Thông qua việc tiếp công dân, Nhà nước kịp thời tiếp
nhận và xử lý những vấn đề phát sinh trong quản lý nhà nước, lắng nghe được
những ý kiến của dân, nhận được những thông tin kịp thời phản ánh về quá trình
thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Trên
cơ sở đó Đảng và Nhà nước có thể điều chỉnh sửa đổi, bổ sung kịp thời các
chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tế phát triển vận động của xã hội.
Trước khi có Luật tiếp công dân năm 2013, thuật ngữ tiếp công dân đã

tác tiếp dân.
Thứ hai, tiếp công dân là hoạt động có mục đích thể hiện bản chất của nhà
nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà
nước thực hiện việc tiếp công dân nhằm phát huy dân chủ và đảm bảo quyền công
dân được thực hiện trên thực tế đó là các quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh đồng thời chính từ hoạt động đó nhà nước tiếp nhận và thấy được hiệu quả của
việc quản lý, là kênh thông tin quan trọng để nhà nước kiểm tra, giám sát bộ máy
quản lý, phát hiện và báo động về những khiếm khuyết, trục trặc của hệ thống quản
lý ở các tầng nấc, qua đó xem xét, điều chỉnh kịp thời, phản ánh sự đồng thuận của
xã hội, thái độ của công dân đối với nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, chính
là thước đo thái độ của công dân với chế độ chính trị.
Thứ ba, tiếp công dân là hoạt động đa dạng, phức tạp: Khác với hoạt động
tiếp xúc giữa công dân với cơ quan nhà nước để giải quyết các công việc cụ thể
thông thường diễn ra liên tục hàng ngày liên quan đến quản lý nhà nước trên các
lĩnh vực theo thủ tục nhất định. Đối với quản lý hành chính nhà nước, nhà nước và
13


công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trên cơ sở các quy định về thủ
tục hành chính trong từng lĩnh vực, khi công dân đáp ứng đầy đủ các yêu cầu liên
quan đến hồ sơ, thủ tục thì nhà nước có nghĩa vụ thực hiện để giải quyết một công
việc cụ thể cho công dân, kết quả của việc thực hiện này là người có thẩm quyền
ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính.
Đối với hoạt động tiếp công dân, việc tiếp xúc giữa nhà nước và công dân
là để nhà nước tiếp nhận, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của
công dân. Các khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị xuất phát từ chính hoạt động
quản lý nhà nước nêu trên khi công dân cho rằng quyết định hay hành vi của người
có thẩm quyền, của cán bộ, công chức nhà nước là trái quy định của pháp luật, xâm
phạm đến quyền, lợi ích của công dân, của xã hội. Hoạt động tiếp công dân bao
gồm tiếp công dân khiếu nại, tiếp công dân tố cáo, tiếp công dân kiến nghị, phản

quyền khiếu nại, quyền tố cáo nêu trên, công dân còn được thực hiện quyền cung
cấp các thông tin, trình bày ý kiến, nguyện vọng, đề xuất giải pháp với cơ quan,
tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến việc thực
hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, công tác quản lý trong các
lĩnh vực đời sống xã hội thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân
đó. Những kiến nghị, phản ánh của công dân không phải là nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm trước quyết định hành chính hay
hành vi hành chính của cơ quan nhà nước và không phải là việc thông báo về
hành vi vi phạm pháp luật. Việc kiến nghị, phản ánh của công dân chính là việc
công dân trình bày nguyện vọng, tâm tư của mình hoặc phản ánh những vấn đề
có liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật,
công tác quản lý trong các lĩnh vực đời sống xã hội, nội dung kiến nghị, phản
ánh của công dân đa dạng về các lĩnh vực.

15


1.2. Khái niệm, đặc điểm, hình thức và nội dung thực hiện pháp luật
về tiếp công dân
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về tiếp công dân
1.2.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về tiếp công dân
Về phương diện lý luận, thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay đang
tồn tại những quan điểm sau: Theo quan điểm của Trường Đại học luật Hà Nội:
“Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hoá các quy định
của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế
hợp pháp của các chủ thể pháp luật”. Quan điểm của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội: “Thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình có mục đích làm cho những
quy định pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật”.
Như vậy, pháp luật có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế, chính
trị và xã hội, nhưng vai trò đó chỉ trở thành hiện thực khi pháp luật được mọi chủ

nước, các cá nhân, tổ chức, nhằm làm cho các quy phạm pháp luật về tiếp công
dân được thực hiện trong thực tế, đảm bảo cho các cá nhân có thẩm quyền lắng
nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích,
hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
theo đúng quy định của pháp luật, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh của công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
1.2.1.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về tiếp công dân
Thực hiện pháp luật về tiếp công dân ngoài những đặc điểm của thực hiện
pháp luật nói chung, còn có những đặc điểm riêng được qui định bởi vị trí, vai trò
của nó trong đời sống xã hội. Phân tích khái niệm thực hiện pháp luật về tiếp công
dân ở Việt Nam cho thấy thực hiện pháp luật về tiếp công dân có một số đặc điểm
như sau:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện pháp luật về tiếp công dân là các cơ quan
hành chính nhà nước, thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị vũ
trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập và công dân.

17


Đặc điểm này xuất phát từ vị trí, vai trò hết sức quan trọng của pháp luật
về tiếp công dân, đó là việc thông qua thực hiện pháp luật về tiếp công dân góp
phần lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân;
giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật.
Thứ hai, địa điểm thực hiện pháp luật về tiếp công dân là trụ sở làm việc
của cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm tiếp công dân. Điều đó được hiểu là
việc tiếp công dân được tiến hành tại nơi quy định được gọi là Trụ sở tiếp công
dân, nơi để công dân trực tiếp đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với lãnh
đạo Đảng, Nhà nước ở trung ương hoặc lãnh đạo Đảng, chính quyền ở địa
phương hoặc là nơi để lãnh đạo Đảng, Nhà nước ở Trung ương hoặc địa phương

dân. Cụ thể là:
Tuân thủ pháp luật về tiếp công dân là một hình thức thực hiện pháp luật
về tiếp công dân, trong đó các chủ thể thực hiện pháp luật về tiếp công dân kiềm
chế không thực hiện những hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật:
- Đối với cán bộ tiếp công dân không được: Gây phiền hà, sách nhiễu
hoặc cản trở người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; Thiếu trách nhiệm
trong việc tiếp công dân; làm mất hoặc làm sai lệch thông tin, tài liệu do người
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cung cấp; Phân biệt đối xử trong khi tiếp
công dân [21].
- Đối với công dân, pháp luật nghiêm cấm: Lợi dụng quyền khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh để gây rối trật tự công cộng; Xuyên tạc, vụ khống, gây
thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; Đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ
chức, đơn vị, người tiếp công dân, người thi hành công vụ; Kích động, cưỡng
ép, dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc người khác tập trung đông người tại nơi tiếp công
dân; Vi phạm các quy định trong nội quy, quy chế tiếp công dân [21].
Chấp hành pháp luật về tiếp công dân là một hình thức thực hiện pháp
luật về tiếp công dân, trong đó các chủ thể thực hiện pháp luật về tiếp công dân
thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Pháp luật về tiếp
19


công dân có nhiều quy định cho các chủ thể và các đối tượng khác tham gia vào
quá trình thực hiện pháp luật về tiếp công dân có những nghĩa vụ nhất định trong
hoạt động của mình. Đối với công dân khi đến nơi tiếp công dân có các nghĩa vụ
sau đây: Nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền
(nếu có); Có thái độ đúng mực, tôn trọng đối với người tiếp công dân; Trình bày
trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh; ký hoặc điểm chỉ xác nhận những nội dung trình
bày đã được người tiếp công dân ghi chép lại; Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy
tiếp công dân và hướng dẫn của người tiếp công dân; Trường hợp nhiều người

quan, tổ chức, đơn vị, người tiếp công dân, người thi hành công vụ hoặc có hành
vi khác vi phạm nội quy nơi tiếp công dân; Người khiếu nại, tố cáo về vụ việc đã
giải quyết đúng chính sách, pháp luật, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
kiểm tra, rà soát, thông báo bằng văn bản và đã được tiếp, giải thích, hướng dẫn
nhưng vẫn cố tình khiếu nại, tố cáo kéo dài; Những trường hợp khác theo quy
định của pháp luật [21].
Áp dụng pháp luật về tiếp công dân là một hình thức thực hiện pháp luật
về tiếp công dân, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền, các cá nhân được Nhà nước trao quyền căn cứ vào các quy định của pháp
luật về tiếp công dân để ra các văn bản áp dụng pháp luật cá biệt làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật trong hoạt động tiếp công dân. Chẳng
hạn, Điều 28 Luật tiếp công dân năm 2013 quy định về thông báo kết quả xử lý
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh: “Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ
ngày tiếp nhận nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, người tiếp công
dân có trách nhiệm trả lời trực tiếp hoặc thông báo bằng văn bản đến người đã
đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một trong các nội dung sau đây:
Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đã được thụ lý để giải quyết; Việc xem
xét khiếu nại, tố cáo để thụ lý cần kéo dài thời gian do cần xác minh thêm theo
quy định của Luật khiếu nại, Luật tố cáo; Từ chối thụ lý đối với khiếu nại, tố cáo
không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status