Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS và một số kiến nghị - Pdf 33

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I.
Những vấn đề lí luận về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương
sự trong TTDS
1. Khái niệm
2. Ý nghĩa của nguyên tắc
3. Cơ sở của nguyên tắc
3.1.
Cơ sở lí luận
3.2.
Cơ sở thực tiễn
II.
Nội dung nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự theo quy
định của BLTTDS
1. Quyền tự quyết định về việc tham gia tố tụng dân sự và về
quyền, lợi ích dân sự của đương sự
1.1.
Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc khởi kiện vụ
án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự
1.2.
Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thay đổi, bổ
sung và rút yêu cầu
1.3.
Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc kháng cáo,
thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu kháng cáo
1.4.
Quyền tự định đoạt của đương sự về nội dung hòa giải và
tự hòa giải

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, các mối quan hệ kinh tế - dân sự trong xã hội ngày càng trở nên đa dạng,
phong phú, sinh động song cũng hết sức phức tạp, nảy sinh nhiều vấn đề mới.
Trong đó, việc giải quyết các tranh chấp dân sự có ý nghĩa hết sức quan trọng
không chỉ nhằm khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong
quan hệ dân sự mà còn nhằm góp phần bình ổn các quan hệ trong xã hội. Để thực
hiện được mục đích đó, đòi hỏi các chủ thể tham gia tố tụng và chủ thể tiến hành
tố tụng phải tuân thủ đúng các nguyên tắc của Luật TTDS trong đó có nguyên tắc
quyền tự định đoạt của đương sự.

NỘI DUNG

I. Những vấn đề lý luận về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự
TTDS.
1.Khái niệm.
Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS là một trong
những nguyên tắc cơ bản, chi phối quá trình TTDS và là một nguyên tắc cấu
thành nên hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS. Nguyên tắc quyền tự
định đoạt của đương sự luôn luôn được coi trọng trong bất kỳ giai đoạn nào của
sự phát triển kinh tế xã hội, được quy định trong nhiều văn bản pháp luật do Nhà
nước ta ban hành. Hiện nay, nguyên tắc này được quy định tại Điều 50 Hiến pháp
năm 1992 và Điều 5 BLTTDS năm 2004.
Quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS là một trong những quyền tố tụng
quan trọng được quy định trong pháp luật. TTDS quy định các đương sự có quyền
tự định đoạt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước tòa án.
Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự là nguyên tắc cơ bản của luật TTDS,
theo đó đương sự được quyền tự do thể hiện ý chí của mình trong việc lựa chọn
thực hiện các hành vi tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình,
quyền quyết định của mình trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và trách
nhiệm của tòa án trong việc bảo đảm cho đương sự thực hiện được quyền tự định

dung quy định.
Mặt khác, nguyên tắc này được đặt ra do yêu cầu bảo đảm quyền bảo vệ của
đương sự. Như quy định tại Điều 9 và để bảo đảm cho đương sự bảo vệ được
quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì pháp luật phải có những quy định nhằm
giúp đương sự thực hiện tốt quyền này. Nếu không có những quy định về quyền tự
định đoạt của đương sự trong TTDS thì sẽ không thể bảo đảm được việc thực thi
nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự. Chính vì vậy mà pháp luật TTDS
đã đưa ra quy định về nguyên tắc này tại Điều 5 BLTTDS.
3.2. Cơ sở thực tiễn.
Trên thực tế còn tồn tại nhiều bất cập, một mặt người dân không có hiểu
biết về pháp luật, nên không biết là mình có quyền yêu cầu tòa án giải quyết khi
nhận thấy quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm. Hoặc có trường hợp có yêu cầu
nhưng đương sự lại hiểu sai quy định của pháp luật nên yêu cầu đó là trái pháp
luật và đạo đức xã hội. Và còn nhiều trường hợp, đương sự đưa ra yêu cầu không
đầy đủ. Vì vậy, cần phải quy định đương sự hoàn toàn có quyền chấm dứt, thay đổi
hoặc bổ sung yêu cầu. Mặt khác, bên cạnh đó, từ phía tòa án cũng còn tồn tại nhiều
sai sót. Có trường hợp nhận được yêu cầu của đương sự mà tòa án vẫn không tiến
hành giải quyết, hoặc là tòa án giải quyết không đúng, vượt quá phạm vi yêu cầu
của đương sự. Vì vậy mà việc quy định quyền tự định đoạt của đương sự trong
TTDS, trong đó ghi nhận trách nhiệm của tòa án trong việc đảm bảo quyền tự định
đoạt của đương sự là hết sức cần thiết. Cho nên, BLTTDS năm 2004 đã đưa ra quy
định về nguyên tắc này tại Điều 5. Việc quy định này là hoàn toàn phù hợp với thực
tiễn khách quan. Góp phần bảo đảm được tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
II.Nội dung nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS theo
quy định của BLTTDS.
1. Quyền tự quyết định về việc tham gia tố tụng dân sự và về quyền, lợi ích
dân sự của đương sự.
1.1.Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc khởi kiện vụ án dân sự, yêu
cầu giải quyết việc dân sự.

Khi đương sự thực hiện hành vi khởi kiện, họ hoàn toàn có quyền tự quyết
định các hành vi tố tụng tiếp theo của mình. Đương sự có quyền chấm dứt, thay
đổi, bổ sung yêu cầu của mình. Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng mà
việc thay đổi, bổ sung yêu cầu có thể được Tòa án chấp nhận hay không. Trước khi
mở phiên tòa, quyền này được coi là quyền tuyệt đối của đương sự, theo đó đương
sự có toàn quyền trong việc thay đổi, bổ sung yêu cầu. Tại phiên tòa việc thay đổi
yêu cầu của đương sự chỉ được chấp nhận nếu không vượt quá phạm vi yêu cầu
khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu (Khoản 1 Điều 218). Mọi
yêu cầu thay đổi, bổ sung theo hướng bất lợi cho các đương sự khác đều không
được hội đồng xét xử chấp nhận.
* Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc rút yêu cầu:
Các đương sự không chỉ có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu mà còn có
quyền rút yêu cầu. Việc rút đơn khởi kiện, rút đơn yêu cầu trong mọi giai đoạn tố
tụng đều có thể được Tòa án chấp nhận. Về mặt nguyên tắc đương sự có quyền rút
một phần hoặc toàn bộ yêu cầu trong quá trình tố tụng. Tuy nhiên, theo quy định
4


của pháp luật TTDS hiện hành thì trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc
thẩm, đối với việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện phải được sự đồng ý của bị đơn.
1.3. Quyền tự định đoạt của đương sự trong việc kháng cáo, thay đổi, bổ
sung và rút yêu cầu kháng cáo.
Kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là hoạt động tố tụng của đương sự và các chủ
thể khác theo quy định của pháp luật trong việc chống lại bản án, quyết định của
tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật yêu cầu tòa án cấp trên xét xử lại
vụ án dân sự. Quyền kháng cáo là một quyền tố tụng cơ bản của đương sự được
quy định tại điểm o khoản 2 Điều 58 BLTTDS. Theo quy định của pháp luật thì
đương sự được tự quyết định việc thực hiện quyền này nên quyền kháng cáo cũng
thuộc nội dung quyền tự định đoạt của đương sự. Với ý nghĩa là một quyền của
đương sự, pháp luật tố tụng dân sự cũng đã quy định rất rõ thời hạn kháng cáo

5


Cùng với việc đề ra yêu cầu các đương sự có quyền và nghĩa vụ đưa ra
chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của họ. Luật TTDS quy dịnh, các đương sự có
quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng cứ. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình, đương sự là người có yêu cầu có quyền đưa ra chứng cứ và ngược
lại đương sự là người phải trả lời yêu cầu của đương sự phía bên kia cũng có
quyền đưa ra chứng cứ để làm cơ sở cho việc phản đối yêu cầu mà phía bên kia đã
đưa ra. Do đó, quyền đưa ra chứng cứ, quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng
cứ của đương sự còn là một bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tự quyết định
của mình trong việc rút yêu cầu, rút đơn khởi kiện. Tòa án với tư cách là cơ quan
xét xử không được ngăn cấm đương sự trong việc cung cấp chứng cứ.
* Quyền cử người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đương sự có thể tự mình,
bằng hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đương sự cũng có
thể cử người đại diện thay mặt mình để bảo vệ quyền và nghĩa vụ lợi ích trước
Tòa án. Đương sự có thể ủy quyền cho luật sư hoặc người khác một phần hoặc
toàn bộ các quyền của mình trong tố tụng. Mặc dù, đương sự đã ủy quyền cho
người đại diện nhưng đương sự vẫn có quyền tham gia tố tụng để bổ sung cho
hoạt động của người đại diện . Việc ủy quyền cho luật sư hoặc người khác tham
gia tố tụng, hoàn toàn dựa trên sự tự định đoạt của đương sự. Hay việc thay đổi,
chấm dứt việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự của họ cũng do hai bên
quyết định. Đây là một biểu hiện của quyền tự định đoạt của đương sự được pháp
luật tôn trọng.
Ngoài ra, quyền tự định đoạt của đương sự còn được thể hiện ở việc đương
sự có quyền tham gia phiên tòa để từ đó có điều kiện thực hiện quyền tự định đoạt
của mình. Đồng thời đương sự cũng có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người tiến
hành TTDS. Trong trường hợp họ không biết để yêu cầu thay đổi thì Tòa án có
trách nhiệm bảo đảm để những người tiến hành tố tụng từ chối tham gia tố tụng.

TTDS trên thực tế.
III. Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về nguyên tắc quyền tự định
đoạt của đương sự trong TTDS và một số kiến nghị.
1. Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về nguyên tắc.
1.1.Thành tựu đạt được.
Thực tiễn xét xử trong những năm gần đây cho thấy nguyên tắc quyền tự
định đoạt của đương sự ngày càng được quan tâm. Trong quá trình giải quyết vụ
việc dân sự, tòa án đều đảm bảo cho mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện các
quyền và nghĩa vụ TTDS của mình bằng việc tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ
thể thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS nên trên thực tế nguyên tắc này đã được
thực hiện khá tốt. Đương sự đã chủ động hơn trong việc thực hiện quyền tự định
đoạt của mình khi họ có quyền và lợi ích bị xâm phạm. Về cơ bản các tòa án đã
thực hiện tốt nguyên tắc này, xét xử trên cơ sở yêu cầu của đương sự, cũng không
vượt quá yêu cầu của đương sự. Tòa án đã thực sự phát huy được vai trò của mình
đối với việc thực hiện nguyên tắc này.
1.2. Những tồn tại, hạn chế.
Bên cạnh những thành tựu việc thực hiện các quy định của pháp luật
TTDS về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong thời gian qua vẫn còn
bộc lộ những hạn chế nhất định. Những hạn chế này thể hiện trong cả các quy định
của pháp luật và hoạt động tố tụng trên thực tiễn của các đương sự và Tòa án.
- Về pháp luật TTDS: Một số quy định của pháp luật còn chưa hợp lý, có sự mâu
thuẫn, chưa rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau gây khó khăn cho quá
trình thực hiện nên trong một số trường hợp chưa đảm bảo được quyền tự định
đoạt của đương sự. Một số quy định không phù hợp với thực tiễn, nhiều thủ tục
còn chưa được pháp luật quy định một cách cụ thể khiến các Tòa, các Thẩm phán
trong quá trình áp dụng còn nhiều lúng túng, làm ảnh hưởng đến quyền tự định
đoạt của đương sự.
- Pháp luật TTDS nước ta hiện nay mới chỉ có quy định về đương sự trong vụ
án dân sự (Điều 56 BLTTDS) mà chưa có quy định về đương sự trong việc dân sự,
cụ thể là chưa có quy định về “người yêu cầu” và “người bị yêu cầu”. Sự thiếu hụt

của mình.
Thứ hai, do đội ngũ Thẩm phán còn thiếu và nhiều Thẩm phán còn kém về
mặt đạo đức, yếu về cả năng lực chuyên môn nghiệp vụ nên còn có những sai sót,
vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án. Một số Thẩm phán chưa nắm chắc
những quy dịnh của pháp luật nên đôi khi tiến hành giải quyết vụ án theo thói
quen và kinh nghiệm. Điều này cũng sẽ ảnh hưởng đến việc đảm bảo thực hiện
nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự. Bên cạnh đó, việc Tòa án xác định
chưa đúng hoặc bỏ sót đương sự trong vụ án dẫn đến việc các đương sự không
được tham gia tố tụng hay như tòa án không xem xét hết yêu cầu của đương sự
cũng là một trong các dạng vi phạm nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự.
Về phía các cơ quan tổ chức xã hội, có thể thấy các cơ quan tổ chức này cũng chưa
làm tròn hết được vai trò và trách nhiệm của mình. Theo quy định của pháp luật
một số các cơ quan tổ chức có thẩm quyền có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà
nước. Nhưng thực tế cho thấy, chưa có một cơ quan hay tổ chức nào thực hiện
quyền khởi kiện này, mặc dù các cơ quan, tổ chức này có quyền khởi kiện cho quy
định mang tính lý thuyết này.
8


2. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền tự định đoạt của
đương sự trong TTDS.
* Về xây dựng và hoàn thiện pháp luật:
Sau một thời gian thực hiện BLTTDS cho thấy vẫn còn những vướng mắc,
trong đó có cả những vấn đề về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự. Vì
vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn một số quy định của BLTTDS.
Một là, sửa đổi, bổ sung các quy định về khái niệm đương sự trong vụ việc
dân sự. Việc quy định đầy đủ, rõ ràng những vấn đề liên quan đến đương sự không
những bảo đảm cho họ có điều kiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình mà
còn bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự của tòa án được đúng đắn.Cụ thể,

được quyền tự định đoạt trên thực tế hay không phụ thuộc một phần rất lớn vào
Tòa án. Tuy vậy, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của nhiều thẩm phán còn thiếu
nên còn có những sai sót trong việc giải quyết vụ việc ảnh hưởng đến quyền tự
9


định đoạt của đương sự. Vì vậy mà việc đổi mới công tác tổ chức, cán bộ của tòa
án, nâng cao trình độ xét xử, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho Thẩm
phán là một yêu cầu cấp thiết hiện nay. Thứ hai, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến
pháp luật. Có như vậy mới có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Điều
này cũng góp phần làm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật
và đảm bảo quyền tự định đoạt của mình trong quá trình tham gia tố tụng.

KẾT LUẬN
Qua sự phân tích trên, có thể thấy nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự đã
được quy định khá cụ thể trong BLTTDS. Để nguyên tắc này được thực hiện hiệu
quả trong TTDS thì phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật TTDS trong đó có
các quy định liên quan đến nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong
TTDS. Đồng thời phải không ngừng đổi mới về tổ chức và cán bộ của Tòa án và
đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tố tụng trong nhân
dân.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tung dân sự Việt Nam, Nxb.
CAND, Hà Nội, 2009;
2. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011);
3. Bộ luật dân sự năm 2005;
4. Hiến pháp năm 1992;
5. Nguyễn Ngọc Khánh, “Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong
BLTTDS”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5/2005;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status