I.
BỐI CẢNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ
Tháng 9-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn chống cự yếu ớt dần
dần đi đến đầu hàng, nhưng nhân dân Việt Nam không chịu khuất phục đã nổi dậy đấu tranh chống lại
bọn cướp nước và bè lũ bán nước. Song tất cả các phong trào đấu tranh của nhân dân ta đều bị thất bại.
Nguyên nhân chủ yếu là do chưa có đường lối đúng đắn của giai cấp tiên tiến lãnh đạo.
Chính trong bối cảnh ấy, tháng 6-1911, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước và là người đầu tiên
đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Người chỉ rõ: ''Muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản''. Xác định rõ các mối quan
hệ mới của cách mạng Việt Nam: quan hệ với cách mạng vô sản, quan hệ với phong trào giải phóng
dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc.
Từ rất sớm, Người đã tìm thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của phong trào Việt Nam
trước khi Đảng ra đời là ''nhân dân ta không hiểu tình hình thế giới''. Người còn chỉ rõ tình hình biệt
lập, khép kín không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn là tình trạng chung của những nước phương Đông.
Những nhận thức trên rút ra từ quá trình gần 20 năm vận động, kiểm nghiệm trên nhiều nước. Năm
1924 trong thư gửi đại diện quốc tế cộng sản, Hồ Chí Minh nêu: ''Tôi đã ngẫm nghĩ từ lâu về nguyên
nhân đầu tiên đã dẫn tới sự suy yếu của các dân tộc phương Đông đó là sự biệt lập''. Ngoài nhận thức
trên, Người cũng đã sớm xác định, cuộc đấu tranh của chúng ta là bộ phận của cách mạng thế giới. Như
vậy, từ lời phát biểu đầu tiên tại Đại hội Tua (12- 1920) trở về sau, Người luôn khẳng định cuộc cách
mạng của các dân tộc bị áp bức đều có quan hệ với nhau.
II.
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ:
1. Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam:
a. Chủ nghĩa yêu nước:
Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lịch sử của dân tộc Việt Nam. Những nội
dung chủ yếu của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã từng được đúc kết, hình thành một hệ thống các
nguyên lý với tư tưởng của các anh hùng hào kiệt như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn
Quốc muốn nhanh chóng tìm ra con đường cứu nước đúng đắn và tìm lực lượng đoàn kết tin cậy.
Điều quan trọng hơn hết của Nguyễn Ái Quốc là "sự đoàn kết", "đoàn kết với các dân tộc thuộc
địa". Hầu hết trong các buổi mít tinh, thảo luận, Nguyễn Ái Quốc đều phát hiện và khéo lái những
vấn đề đang thảo luận sang vấn đề đoàn kết với các vấn đề thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc đã từng nói:
Trong các cuộc bàn cãi, người ta rất ít nói đến sự đoàn kết với các dân tộc thuộc địa, nhưng đó lại là
vấn đề mà tôi quan tâm hơn hết.
Sau khi được biết Quốc tế thứ III do Lênin sáng lập có chủ trương đoàn kết các dân tộc thuộc địa và
nhất là được đọc "Bản sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa" của Lênin,
lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc biết có một tổ chức quốc tế ủng hộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc bị áp bức. Luận cương của Lênin đã giải quyết trọn vẹn một vấn đề rất cơ bản mà Nguyễn
Ái Quốc đặc biệt quan tâm là vấn đề dân tộc và thuộc địa đặt ra trong mối quan hệ quốc tế, chỉ ra
con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa. Luận cương tạo ra một bước chuyển biến căn bản
trong nhận thức tư tưởng về vấn đề đồng minh về xác định kẻ thù. Luận cương là lời giải đáp hợp lí
nhất, đúng đắn nhất của Nguyễn Ái Quốc tìm thấy được về con đường cứu nước, con đường giải
phóng dân tộc, đó là "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác ngoài
con đường cách mạng vô sản, gắn chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với chủ nghĩa Mác-Lênin". Như
vậy người đã tiếp thu và đi theo chủ nghĩa Mác Lênin, từ đó xây dựng và phát triển tư tưởng đoàn
kết quốc tế của riêng mình.
III.
VAI TRÒ CỦA ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ
1. Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức
mạnh tổng hợp cho cách mạng.
Đây là một trong những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng là một trong
những bài học kinh nghiệm quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam. Sức mạnh của dân tộc
Việt Nam là sự tổng hợp của các yếu tố vật chất và tinh thần, song trước hết là sức mạnh của
chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự lực, tự cường dân tộc, sức mạnh của tinh thần đoàn kết, của ý
chí đấu tranh anh dũng, bất khuất cho độc lập tự do.
-
Thực hiện khối đại đoàn kết với Việt - Miên - Lào.
Vai trò của đoàn kết quốc tế với cách mạng Việt Nam: trong buổi nói chuyện với Đại sứ nước ta
tại Liên Xô (1961), Hồ Chí Minh nói: “Có sức mạnh cả nước một lòng…, lại có sự ủng hộ của
nhân dân thế giới, chúng ta sẽ có một sức mạnh tổng hợp cộng với phương pháp cách mạng
thích hợp, nhất định cách mạng nước ta sẽ đi đến đích cuối cùng”.
Mối quan hệ giữa đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế:
-
Đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế.
Đại đoàn kết dân tộc phải là cơ sở cho việc thực hiện đoàn kết quốc tế.
Nếu đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam,
thì đoàn kết quốc tế cũng là một nhân tố thường xuyên và hết sức quan trọng giúp cho cách
mạng Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn.
2. Thực hiện đoàn kết quốc tế, nhằm góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiện thắng lợi các mục
tiêu cách mạng.
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, chủ nghĩa yêu nước chân chính phải được gắn liền với chủ nghĩa quốc
-
tế vô sản, đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế. Thực hiện đoàn kết quốc tế:
Vì sự nghiệp chung của nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và thế
lực phản động quốc tế.
Vì các mục tiêu cách mạng của thời đại.
Vận mệnh của mỗi dân tộc không thể tách rời vận mệnh chung của cả loài người nên Hồ Chí
Minh luôn kiên trì đấu tranh không mệt mỏi để củng cố và tăng cường đoàn kết giữa các lực
Đối với phong trào cộng sản và công nhân thế giới - lực lượng nòng cốt của đoàn kết quốc tế,
Hồ Chí Minh cho rằng, sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản quốc tế là một đảm bảo vững chắc cho
-
thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản.
Tại Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp (12 – 1920), Hồ Chí Minh đã lên tiếng: “Nhân danh toàn
thể loài người, nhân danh tất cả các đảng viên xã hội, cả phái hữu lẫn phái tả, chúng tôi kêu gọi:
-
Các đồng chí, hãy cứu chúng tôi”.
Hồ Chí Minh đã tiếp nhận học thuyết Lênin, tìm thấy “cẩm nang thần kỳ” cho sự nghiệp cứu
nước của các dân tộc bị nô dịch.
- Người cũng tìm thấy lực lượng ủng hộ công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc
địa. Đó là phong trào cộng sản và công nhân thế giới, là Liên Xô và sau này là các nước xã hội
chủ nghĩa, là Quốc tế thứ ba và sau này là Cục Thông tin quốc tế.
- Chủ trương đoàn kết giai cấp vô sản các nước, đoàn kết giữa các đảng cộng sản trong tư tưởng Hồ
-
Chí Minh xuất phát từ tính tất yếu về vai trò của giai cấp vô sản trong thời đại ngày nay.
Hồ Chí Minh cho rằng, chủ nghĩa tư bản là một lực lượng phản động quốc tế, là kẻ thù chung
của nhân dân lao động thế giới.
Chỉ có sức mạnh đoàn kết, nhất trí, sự đồng tình ủng hộ lẫn nhau của nhân dân lao động thế giới
theo tinh thần “bốn phương vô sản đều là anh em” mới chống lại được những âm mưu của chủ
nghĩa đế quốc thực dân.
Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân Việt Nam không
tách rời sự đồng tình ủng hộ, chi viện của Liên Xô và các nước XHCN.
Đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, từ rất sớm Hồ Chí Minh đã phát hiện ra âm mưu
trong thời đại mới. Năm 1924, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về thành lập “Mặt trận thống nhất
của nhân dân chính quốc và thuộc địa” chống chủ nghĩa đế quốc.
Dựa trên cơ sở các quan hệ về địa lý - chính trị và tính chất chính trị xã hội trong khu vực và trên
thế giới, cũng như tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong mỗi thời kỳ, Hồ Chí Minh đã từng bước
xây dựng và củng cố khối đoàn kết.
Đối với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt.quốc tế,
tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các trào lưu cách mạng thời đại, góp phần thực hiện thắng lợi các
nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam.
-
Năm 1941, Người quyết định thành lập riêng biệt Mặt trận độc lập đồng minh cho từng nước
-
Việt Nam, Lào, Cao Miên., tiến tới thành lập Đông Dương độc lập đồng minh.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Hồ Chí Minh chỉ đạo hình thành Mặt trận đoàn
kết Việt - Miên - Lào (Mặt trận nhân dân ba nước Đông Dương).
Mở rộng quan hệ với các nước khác:
-
Đoàn kết hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với Trung Quốc.
Đoàn kết với các dân tộc châu Á và châu Phi đang đấu tranh giành độc lập. Những năm 20 của
thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa (Pháp), Hội liên hiệp các dân tộc bị
áp bức (Trung Quốc), góp phần đặt cơ sở cho sự ra đời của Mặt trận nhân dân Á -Phi đoàn kết
với Việt Nam.
Trong những năm đấu tranh giành độc lập, Người tìm cách xây dựng các quan hệ với Mặt trận dân
chủ và lực lượng đồng minh chống phát xít, tạo thế dựa cho cách mạng Việt Nam. Trong kháng
“Có lý” trước hết là phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, xuất
phát từ lợi ích chung của cách mạng thế giới, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực
-
tiễn mỗi nước.
“Có tình” là sự thông cảm, tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần, tình cảm của những người cùng
chung lý tưởng, mục tiêu đấu tranh, đòi hỏi trong mọi vấn đề phải chờ đợi nhau cùng nhận thức,
cùng hành động vì lợi ích chung, không làm phương hại đến lợi ích chung, lợi ích của các dân
tộc khác, của các đảng khác.
Đối với các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, và quyền bình
đẳng giữa các dân tộc.
-
Độc lập tự do cho mỗi dân tộc là tư tưởng nhất quán, được Hồ Chí Minh coi là chân lý, là “lẽ
-
phải không ai chối cãi được”.
Dân tộc Việt Nam tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết của tất cả
các quốc gia dân tộc trên thế giới, đồng thời mong muốn các quốc gia, dân tộc trên thế giới quan
-
hệ hợp tác, hữu nghị với Việt Nam trên cơ sở các nguyên tắc đó.
Trả lời nhà báo Mỹ S. Êli Mâysi (9 – 1947), Hồ Chí Minh tuyên bố: Chính sách đối ngoại của
nước Việt Nam là “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”.
Trong đấu tranh giành chính quyền, Người chủ trương “đem sức ta mà giải phóng cho ta”.
Trong đấu tranh chống thực dân Pháp, Người chỉ rõ: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ
-
ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.
Trong quan hệ quốc tế, Người nhấn mạnh phải có thực lực, thực lực là cái chiêng, ngoại giao là
cái tiếng, chiêng có to tiếng mới lớn.
Hồ Chí Minh chỉ rõ, muốn tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của quốc tế, Đảng phải có đường lối
độc lập, tự chủ và đúng đắn.
-
Trong quan hệ giữa các đảng thuộc phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, Người xác định:
-
“Các đảng dù lớn nhỏ đều độc lập và bình đẳng, đồng thời đoàn kết nhất trí giúp đỡ lẫn nhau”.
Trong kháng chiến chống Mỹ, với đường lối độc lập, tự chủ giương cao hai ngọn cờ độc lập dân
tộc và CNXH, kết hợp hài hòa lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế, Đảng ta đã tranh thủ được sự
ủng hộ của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới, góp phần quan trọng vào
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
VI.
GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ
Một là, tư tuởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế góp phần dẫn đường cho phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế tiếp tục đấu tranh giành thắng lợi.
Hiện nay, cuộc đấu tranh ''ai thắng ai'' giưa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa
và công nhân quốc tế phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, ích kỷ. Đây là
cuộc đấu tranh quyết liệt, phức tạp, lâu dài của mỗi đảng cũng như của cả phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế. Trong cuộc đấu tranh này, chủ nghĩa Mác-Lênin về quốc tế vô sản và tư tưởng
Hồ Chí Minh đoàn kết chính là cơ sở lý luận, phương pháp luận cho cuộc đấu tranh giành thắng lợi.
Đặc biệt các quan điểm của Hồ Chí Minh: ''Cách mạng của mỗi nước là một bộ phận của cách mạng
thế giới'', ''Thắng lợi của các đảng và nhân dân các nước anh em là thắng lợi của chính mình'', ''Giúp
nước bạn tức là mình tự giúp mình... là cơ sở lý luận và nội dung đấu tranh trực tiếp với những quan
điểm sai lầm, phản động của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.
Ba là, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là cơ sở lý luận trọng yếu để Đảng Cộng sản Việt
Nam xác định đường lối đối ngoại, mở rộng quan hệ quốc tế trong thời kỳ mới.
Việt Nam bước vào thời kỳ mới trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và đất nước có nhiều
phát triển mới. Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng, khoa học công nghệ,
nhất là công nghệ thông tin phát triển như vũ bão. Qua hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được
nhiều thành tựu to lớn, cớ ý nghĩa lịch sử và vị thế trên trường quốc tế không ngừng được nâng lên.
Những thành tựu toàn diện của Việt Nam trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc
phòng, an ninh, đối ngoại... được bắt nguồn từ đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam,
mà đường lối ấy lại lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim
chỉ nam cho hành động. Điều đó khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí
Minh về đoàn kết quốc tế nói riêng có giá trị bền vững, luôn giữ vai trò là cơ sở lý luận cho Đảng
Cộng sản Việt Nam xác định đường lối đối ngoại, mở rộng quan hệ quốc tế.
Trong thời kỳ mới, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết trong phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế vẫn là cơ sở lý luận quan trọng để Đảng cộng sản Việt Nam xác định chủ trương: ''Củng cố
và tăng cường quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân
tộc, cách mạng và tiến bộ trên thế giới'. Đồng thời, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết khu vực,
đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào -Campuchia cũng vẫn là cơ sở lý luận, phương pháp luận để Đảng
xác định: ''Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước Asean, các nước châu Á
– Thái Bình Dương... Củng cố và phát triển quan hệ hợp tác song phương tin cậy với các đối tác
chiến lược''.
Thông tin trung thực, kịp thời để mọi người dân hiểu biết đầy đủ về chủ quyền lãnh thổ trên
-
biển; về những mưu đồ, và hành động xâm phạm chủ quyền biển, đảo nước ta.
Nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ biển, đảo của mỗi người dân.
-
Củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.Xây dựng, lực lượng hải
quân, lục quân, không quân đủ sức bảo vệ biển, đảo; trước mắt đủ sức bảo vệ vững chắc Trường
Sa trong mọi tình huống; duy trì thường xuyên hoạt động của các lực lượng chấp pháp để tiếp
tục khẳng định chủ quyền trên biển, nhất là ở những vùng lãnh hải của Việt Nam đang bị xâm
-
phạm.
Phát triển kinh tế biển nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng biển, và bảo đảm an ninh, chủ quyền
biển, đảo; duy trì bình thường các hoạt động của ngư dân trên vùng biển thuộc lãnh hải Việt
Nam, nhưng phải có phương án thật tốt bảo vệ tính mạng và tài sản của ngư dân.
Thế giới ngày nay đang diễn ra sự liên kết, hợp tác rộng lớn vì hòa bình và phát triển; thế giới ngày nay
có sức mạnh to lớn, đủ sức để ngăn chặn hiệu quả mọi hành vi bành trướng, đe dọa hòa bình nói chung,
hòa bình và tự do hàng hải trên Biển Đông nói riêng. Vấn đề đặt ra là, chúng ta phải làm như thế nào,
để thế giới chú ý đến những gì đang diễn ra tại Biển Đông; để thế giới biết được tính chính đáng và
quyết tâm thật sự của Việt Nam trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, từ đó tranh thủ được sức
mạnh cộng đồng quốc tế. Có thể nói, trong các giải pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, thì
ngoại giao vẫn là giải pháp tốt nhất để kiểm soát, và giải quyết những tranh chấp trên Biển Đông hiện
quốc tế phù hợp để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế song phương và đa phương, nhằm khai thác nguồn lợi kinh tế Biển
Đông, chia sẻ lợi ích, tạo lợi ích đan xen về kinh tế Biển Đông với các nước, chia sẻ trách
-
nhiệm bảo vệ hòa bình, tự do hàng hải trên Biển Đông.
Đối với tổ chức ASEAN, cần thể hiện sâu sắc hơn tư cách thành viên chủ động, tích cực và
trách nhiệm cao; góp phần ngăn chặn âm mưu “bẻ đũa từng chiếc”, củng cố đoàn kết cộng đồng
ASEAN, tăng cường quan hệ với các thành viên, giữ vững và phát huy vai trò trung tâm của
ASEAN trong cấu trúc khu vực; củng cố mối quan tâm chung của ASEAN là hòa bình, ổn định,
an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của
-
các bên ở Biển Đông (DOC), thúc đẩy sớm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).
Tăng cường, phát huy mối quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện đã được xác lập với các
nước có tranh chấp ở Biển Đông; với các nước lớn, có lợi ích kinh tế, an ninh, tự do hàng hải
-
trên Biển Đông, có lợi ích trong việc chống lại tham vọng độc chiếm, chi phối Biển Đông.
Trong quan hệ với bên ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở “Phải nhìn cho rộng, suy cho
kỹ”; trên cơ sở đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, phải ưu tiên củng cố, phát triển các mối quan hệ
có lợi cho việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.