TR THC HO CễNG NHN VN TT YU VI YấU CU
CễNG NGHIP HO, HIN I HO NC TA HIN NAY
Xõy dng giai cp cụng nhõn nc ta ln mnh trong thi k y mnh
cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ t nc núi chung, cng nh vic y mnh
trớ thc hoỏ cụng nhõn núi riờng l nhim v quan trng v cp bỏch ca
ng, Nh nc, ca c h thng chớnh tr, ca mi ngi cụng nhõn v ca
ton xó hi.
Trong giai on hiện nay, nớc ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh toàn
diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, xõy dng giai cấp đại diện cho phơng thức
sản xuất tiên tiến gắn với phát triển kinh tế tri thức, giai cấp tiên phong trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhm sm đa nớc ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển; tạo nền tảng đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc
công nghiệp theo hớng hiện đại.
Nhm thực hiện c cỏc nhim v trên đòi hỏi phải phát huy sức mạnh
tổng hợp ca mi lc lng, trong đó xõy dng giai cấp công nhân ln mnh
mnh v mi mt, cng nh trớ thc hoỏ cụng nhõn có ý nghĩa quyết định. Sự
lớn mạnh của giai cấp công nhân ng thi là điều kiện bảo đảm thành công
của công cuộc đổi mới toàn din t nc, ng thi õy cng l vn tt
yu i vi s nghip công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Trí thức hoá công nhân là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình xây dựng, phát triển giai cấp công nhân và liên quan
trực tiếp đến việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của đội ngũ này. Mặc dù
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin cha khi nào đề cập đến thuật ngữ trí
thức hoá công nhân nhng trong quan điểm, t tởng của các ông đã bàn khá
nhiều về nâng cao trình độ văn hoá, tri thức, trí tuệ cho công nhân. Trong
1
quá trình nghiên cứu sự phát triển của nền đại công nghiệp dới chủ nghĩa t bản
trí óc trong quá trình phát triển lực lợng sản xuất xã hội và của khoa học, kỹ
thuật và của tiến bộ xã hội 7 .Bản thân C.Mác và Ph.Ăngghen đều là trí thức,
hai ông đã gia nhập vào phong trào công nhân, hoạt động cùng giai cấp công
nhân để tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận cho phong trào công nhân, đồng
thời hai ông cũng tích cực tham gia vào quá trình trí thức hoá công nhân.
Trên cơ sở kế thừa, vận dụng những quan điểm t tởng của C.Mác, Ph.
Ăngghen trong điều kiện lịch sử mới, V.I. Lênin đã làm phong phú hơn những
quan điểm C.Mác, Ph.Ăngghen trên lĩnh vực văn hoá và t tởng đối với sự
5
6
7
C.Mác và Ph. Ăngghen (2000), Toàn tập, Tập 46, Nxb CTQG, Hà nội.Tr 367
C.Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 22, Nxb CTQG, Hà nội Tr 613
C.Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 19, Nxb CTQG, Hà nội.Tr 36
3
nghiệp cách mạng của công nhân nói riêng và đối với sự phát triển nền kinh tế
xã hội chủ nghĩa nói chung. V.I. Lênin chỉ rõ: Về mặt kinh tế và chính trị,
chính sách kinh tế mới hoàn toàn bảo đảm cho chúng có khả năng xây dựng đợc nền móng cho nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tất cả chỉ là tuỳ ở lực lợng
văn hoá của giai cấp vô sản và ở đội tiền phong của nó 8. Bởi theo Lênin văn
hóa chính là trí tuệ của nhân dân trong đó có đội ngũ công nhân.
Khi bàn về tầm quan trọng của việc nâng cao tri thức cho nhân dân lao
động nói chung và công nhân nói riêng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội, trong tác phẩm Những nhiệm vụ trớc mắt của chính quyền Xô Viết
V.I.Lênin nhấn mạnh: Việc nâng cao năng suất lao động trớc hết đòi hỏi phải
có cơ sở vật chất của nền đại công nghiệp...một điều kiện khác để nâng cao
ảnh: Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất của nớc ngoài 12.Làm vốn
tri thức cho mình để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong bối cảnh thế giới khi mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang
diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến các lĩnh vực đời sống xã hội thì đội ngũ
công nhân trí thức xuất hiện ngày càng đông đảo, điều đó khẳng định tính đúng
đắn trong tầm nhìn chiến lợc và những dự báo có sức thuyết phục của C.Mác, Ph.
Ăngghen, V.I. Lênin về trí thức hoá công nhân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và vận dụng sáng tạo Học thuyết MácLênin vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, đã làm sáng tỏ vai trò
lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến tới
việc nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, ý thức giai cấp cho giai cấp công
nhân. Hồ Chí Minh đề cập đến công nông trí thức hoá, trí thức hoá công
nông và tầm quan trọng của quá trình này. Theo Hồ Chí Minh, trí thức hoá
công nông không có nghĩa công - nông biến thành trí thức, hoà tan vào trí
thức mà là phải nâng cao trình độ học vấn, trí tuệ, chuyên môn của công nông. Công nông hoá trí thức cũng không phải là hạ thấp vai trò trí tuệ của
trí thức mà có nghĩa là trí thức phải gắn với công - nông, phục vụ công - nông,
phục vụ sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, trong đó có trí thức.
Với cách luận giải đó Hồ Chí Minh cho rằng, tầng lớp trí thức và giai cấp
công nhân phải luôn gắn bó với nhau dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
trong quá trình xây dựng đất nớc và bảo vệ Tổ quốc.
Để phát huy vai trò tiền phong là gốc, là lực lợng nòng cốt của cách
mạng, theo Hồ Chí Minh giai cấp công nhân cần phải học tập văn hoá để
nâng cao trình độ tri thức mình 13,đồng thời Ngời còn căn dặn: Cần phải có
12
V . I . Lênin (1978), Toàn tập, Tập 40, Nxb Tiến bộ, Matxcơva.Tr 684
13
Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 8, Nxb CTQG, Hà nội. Tr 224
15
Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 8, Nxb CTQG, Hà nội. Tr 39
16
Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 8, Nxb CTQG, Hà nội. Tr 457
6
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức hoá công nhân,
Đảng ta xác định, trí thức hoá công nhân Việt Nam có ý nghĩa quan trọng đặc
biệt đối với nâng cao trình độ mọi mặt đối với giai cấp công nhân góp phần thực
hiện sứ mệnh lịch sử cao cả của mình. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế đã, đang và sẽ xuất hiện nhiều ngành nghề, lĩnh vực mới do
tiến bộ khoa học - công nghệ và đòi hỏi khách quan của xã hội, của việc quốc tế
hoá đời sống. Xu hớng trí thức hoá công nhân, giảm bớt lao động chân tay nặng
nhọc, tăng cờng yếu tố trí tuệ và lao động trí óc ngay trong dây chuyền công
nghiệp đang tăng lên 17.
Khi khoa học và công nghệ phát triển, nhiều ngành nghề mới xuất hiện
thì trí thức hoá công nhân sẽ trở thành nhu cầu tất yếu để phát triển đất nớc và
hội nhập. Đặt ra cho chúng ta phải không ngừng nâng cao trình độ học vấn, trí
tuệ, chuyên môn nghề nghiệp và trình độ khoa học công nghệ hiện đại để
công nhân tiếp cận và làm chủ ngành nghề mới. Tiếp tục quán triệt Nghị quyết
Trung ơng bảy khoá VII, Nghị quyết Đại hội Đảng ln th IX tiếp tục xác
định; đối với giai cấp công nhân phải coi trọng phát triển về số lợng và chất lợng, nâng cao giác ngộ bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp,
công nhân Việt Nam đến năm 2020 Nghị quyết xác định: Xây dựng giai cấp
Việt Nam lớn mạnh, phát triển nhanh về số lợng, nâng cao chất lợng có cơ cấu
đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nớc; ngày càng đợc trí thức hoá; có trình độ
học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng tiếp cận làm chủ
khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức,
thích ứng nhanh với cơ chế thị trờng và hội nhập kinh tế quốc tế; có giác ngộ giai
cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động
19
. Nh vậy, cùng với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ giai cấp công nhân có
xu hớng trí thức hoá ngày càng tăng. Trí thức hoá công nhân đã và đang tạo ra
động lực to lớn bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nớc. Nhng trình độ tri thức sẽ không làm thay đổi bản chất
của giai cấp công nhân, những ngời lao động sản xuất công nghiệp.
Vậy trí thức hoá công nhân là quá trình nâng cao chất lợng công tác
giáo dục và đào tạo, coi trọng công tác bồi dỡng, đào tạo lại, đào tạo nâng cao
18
Vũ Văn Hiền, Đinh Xuân Lý (2003), T tởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam,
Nxb CTQG, Hà Nội.Tr 18
19
Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ Sáu, Ban chấp hành Trung ơng khoá X,
Nxb CTQG, Hà Nội.Tr50
8
với các nớc trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy đòi hỏi phải có một đội
ngũ công nhân có chất lợng cao, có trình độ tri thức, năng lực và bản lĩnh
chính trị vững vàng.
Hai là, xuất phát từ những đòi hỏi của nền kinh tế tri thức mà chúng ta
đang hớng đến
Kinh tế tri thức là xu thế khách quan trên thế giới hiện nay. Đó là nền
kinh tế mà sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức con ngời đóng vai trò quyết
định đối với hoạt động sản xuất hàng hoá, dịch vụ, góp phần thay đổi bộ mặt
cuộc sống của nhân loại. Trong nền kinh tế tri thức, sản xuất chủ yếu dựa vào
tri thức. Yếu tố đầu vào của sản xuất không chỉ là vốn và sức lao động mà chủ
yếu là tri thức, lực lợng lao động trí tuệ gia tăng. Xã hội trở thành một xã hội
học tập, con ngời cần học tập suốt đời. Xã hội học tập là nền tảng của kinh tế
tri thức.
ở nớc ta, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc gắn với phát
triển kinh tế tri thức. Phát triển nền kinh tế tri thức luôn đặt ra yêu cầu cao đối
với giai cấp công nhân Việt Nam. Cùng với quá trình tri thức hoá nền kinh tế
chúng ta phải không ngừng trí thức hoá lực lợng lao động nói chung và giai
cấp công nhân nói riêng, mới có thể đáp ứng đợc yêu cầu của nền kinh tế tri
thức.
Ba là, xuất phát từ yêu cầu của quá trình hội nhập khu vực và thế giới
Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá đang là khách quan tác động đến mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội nhất là lĩnh vực kinh tế. Khi khoa học và công
nghệ phát triển mạnh mẽ đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp và làm cho
lực lợng sản xuất mang tính xã hội hoá ngày càng cao. Phân công lao động xã
hội không chỉ dừng lại ở biên giới quốc gia mà rộng ra toàn thế giới. Toàn cầu
hoá tạo ra cơ hội, điều kiện để giai cấp công nhân Việt Nam tiếp cận với
những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; trao đổi, học hỏi kinh
nghiệm tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của các nớc; đồng thời để Việt
11
việc xác định những nội dung chính của trí thức hoá công nhân ở nớc ta hiện
nay.C th nh sau:
Mt l, trí thức hóa công nhân là quá trình không ngừng nâng cao
trình độ tri thức, trình độ khoa học công nghệ và trình độ tay nghề của giai
cấp
Trình độ học vấn chính là chìa khoá để tiếp cận tri thức khoa học, công
nghệ hiện đại. Trình độ học vấn của công nhân vừa là mục tiêu vừa là điều
kiện của quá trình nâng cao trình độ tri thức của công nhân. Có trình độ học
vấn, trình độ tri thức cao sẽ giúp cho công nhân tiếp thu, ứng dụng, làm chủ tri
thức khoa học, công nghệ mới, khả năng sáng tạo cải tiến công cụ, nâng cao
chất lợng, hiệu quả trong sản xuất. Khi trình độ học vấn, tri thức đợc nâng
cao sẽ là cơ sở điều kiện nâng cao phẩm chất và năng lực toàn diện của giai
cấp công nhân trên các lĩnh vực, xứng đáng là giai cấp cách mạng có đủ bản
lĩnh chính trị, trí tuệ và năng lực thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã
hội của đất nớc. Vì vậy, thực hiện trí thức hoá công nhân ở Việt Nam phải
nâng cao chất lợng giáo dục và đào tạo, để không ngừng nâng cao trình độ học
vấn và tri thức khoa học của giai cấp công nhân.
Hai là, trí thức hoá công nhân là quá trình không ngừng nâng cao trình
độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng thực hành, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng
tiếp cận thông tin khoa học mới của giai cấp công nhân.
Trí thức hoá công nhân không chỉ dừng lại ở việc nâng cao trình độ học
vấn, tri thức mà điều cốt lõi là trên nền tảng của trình độ học vấn, tri thức đợc
đào tạo trong các nhà trờng hoặc tự đào tạo mà không ngừng nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề của giai cấp công nhân. Chỉ nh vậy, giai
cấp công nhân mới có khả năng làm chủ công nghệ hiện đại, đáp ứng đợc yêu
cầu của sự phân công lao động xã hội, chủ động hơn trong quá trình hội nhập,
chính là sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, tin tởng vào
con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội, đờng lối quan điểm của Đảng ta; có ý thức
giai cấp, ý thức dân tộc, tinh thần tự lực, tự cờng, tự tôn dân tộc và hợp tác,
13
đoàn kết quốc tế; xác định quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh
chung của nhân loại tiến bộ vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội.
Đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nớc nghèo, kém phát triển, sản
xuất nông nghiệp là chủ yếu; công nghiệp cha phát triển, đội ngũ công nhân
xuất thân chủ yếu từ nông dân, hiểu biết chính trị - xã hội, luật pháp còn ít. Do
đó, trí thức hoá công nhân sẽ giúp họ rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống,
tác phong công nghiệp và khắc phục những tình trạng vô tổ chức, kỷ luật, tuỳ
tiện trong thực hiện quy trình sản xuất và bảo đảm an toàn lao động và những
biểu hiện khác nh, rợu chè, cờ bạc, tham gia vào các tệ nạn xã hội đi ngợc lại
với truyền thống đạo lý, thuần phong mỹ tục của dân tộc và bản chất tốt đẹp
vốn có của giai cấp công nhân.
Trớ thc hoỏ cụng nhõn ở nớc ta hin nay nc ta ó t c nhng u
im nh sau: giai cp cụng nhõn nc ta ó cú nhng bc phỏt trin tớch
cc, mnh m, v s lng, ngy cng a dng v c cu, ng thi cht
lng i ng c nõng lờn, m mt biu hin l ó xut hin b phn cụng
nhõn trớ thc; l lc lng sn xut c bn, ang trc tip tham gia vo vic t
chc, qun lý sn xut kinh doanh, vn hnh, s dng cỏc cụng c, phng
tin sn xut tiờn tin, hin i, cú vai trũ quan trng l lc lng i u trong
s nghip cụng nghip húa, hin i húa, hi nhp kinh t quc t.
Giai cp cụng nhõn ang tip tc phỏt huy vai trũ l giai cp lónh o
cỏch mng thụng qua i tiờn phong l ng Cng sn Vit Nam; cựng vi
cỏc giai cp, tng lp khỏc trong khi i on kt ton dõn tc, ng thi l
thời gian, hỗ trợ tài chính và còn chậm trễ trong thực hiện chính sách chuyển
đổi ngạch xét lơng khi họ tốt nghiệp bậc học cao hơn. Nhiều tổ chức công
đoàn cha chủ động phối hợp trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công
nhân, nhất là quan tâm đến việc học tập nâng cao trình độ mọi mặt của công
đoàn viên. Bờn cnh ú, trang thiết bị, dây truyền sản xuất đã cũ và có thời
15
gian chế tạo cách đây mấy chục năm; chất lợng sản phẩm làm ra không đáp
ứng nhu cầu của ngời tiêu dùng, khả năng cạnh tranh kém, một bộ phận công
nhân cha tích cực học tập, rèn luyện nâng cao trình độ học vấn, chiếm lĩnh tri
thức, hoàn thiện tay nghề đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sản xuất công nghệ
hiện đại...Tt c nhng iu ú, đang làm chậm lại quá trình trí thức hoá công
nhân.
Nh vậy, trc yờu cu ca s nghip cỏch mnh trong giai on mi, trớ
thc hoỏ cụng nhõn l nhim v quan trng nhằm nâng cao trình độ học vấn,
nghề nghiệp, khoa học công nghệ, gúp phn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải đẩy
nhanh quá trình trí thức hoá công nhân. Đồng thời trí thức hoá công nhân l
trỏch nhim ca ng, Nh nc, ca c h thng chớnh tr và ca mi ngi
cụng nhõn. xõy dng giai cp cụng nhõn vng mnh, cng nh y mnh
trớ thc cụng nhõn ỏp ng yờu cu phỏt trin ca t nc, cn tp trung vo
thc hin tt nhng gii phỏp c bn sau õy:
Mt l, tip tc nghiờn cu, hon thin lý lun v giai cp cụng nhõn núi
chung v trớ thc hoỏ cụng nhõn núi riờng, trong iu kin phỏt trin kinh t
th trng nh hng xó hi ch ngha.
Mun vy, cn i mi cụng tỏc nghiờn cu, tng cng u t y
mnh hn na nghiờn cu lý lun, tng kt thc tin v giai cp cụng nhõn
Vit Nam, cng nh trớ thc hoỏ cụng nhõn, nht l trong thi k y mnh
có cấu giai cấp công nhân, tạo điều kiện cho đội ngũ công nhân đợc rèn luyện
tay nghề, kỹ năng làm việc, nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và
xây dựng tác phong công nghiệp. Lực lợng công nhân đợc đào tạo có hệ
thống, đợc rèn luyện trong điều kiện sản xuất bằng công nghệ tiên tiến, đợc trí
thức hoá và trở thành lực lợng nòng cốt trong giai cấp công nhân.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học
công nghệ vào sản xuất làm cho năng xuất lao động xã hội tăng cao, sản phẩm
thặng d nhiều hơn, thu nhập tăng lên, tạo điều kiện cải thiện đời sống của vật
17
chất và tinh thần của công nhân lao động. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ
rút ngắn khoảng cách về trình độ và nhận thức giữa công nhân công nhân và
trí thức. Tăng thêm tính thống nhất và bền vững trong mối liên hệ giữa giai
cấp công nhân với tầng lớp trí thức.
Ba l, phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo, đổi mới phơng thức nội
dung đào tạo, coi trọng đào tạo nghề; thu hút lực lợng trí thức tham gia vào
quá trình trí thức hoá công nhân.
Muốn đất nớc phát triển, cng nh trớ thc hoỏ cụng nhõn thì giáo dục,
đào tạo phải đi trớc một bớc. Đảng, Nhà nớc ta luôn xác định đầu t cho giáo dục,
đào tạo là hớng đầu t chủ đạo và đợc coi là tích cực nhất, hiệu quả nhất cho sự
phát triển. Để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế
tri thức, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trớc hết phải nâng cao trình độ trí
tuệ của giai cấp công nhân. Giáo dục và đào tạo là một phơng thức đắc lực nhất
để nâng cao trình độ dân chí, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực lao động sáng tạo
cho ngời lao động.
Bn l, phát huy vai trò của các tổ chức Đảng, bộ máy quản lý, Công
đoàn nhằm đẩy mạnh quá trình trí thức hoá công nhân.
Đảng là chủ thể lãnh đạo xây dựng giai cấp công nhân; giai cấp công
cao. Vì vậy, cần tạo điều kiện động viên ngời công nhân tự giác tham gia
học tập nâng cao trình độ học tay nghề, chuyên môn để lao động với năng
xuất, chất lợng hiệu quả ngày càng một cao, tăng thu nhập cho mình, và
toàn xã hội.
KếT LUậN
Hin nay, cùng với quá trình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nớc, trí thức hoá công nhân là một tất yếu khách quan do yêu
cầu của sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại. Trí thức hoá công nhân
bớc đầu đã đạt đợc một số kết quả nhất định. Trình độ học vấn, chuyên
19
môn, tay nghề của đội ngũ công nhân đợc tăng cao đáng kể, khả năng tiếp
cận và làm chủ công nghệ cũng nh hội nhập có nhiều chuyển biến tốt.
Tuy nhiên, quá trình trí thức hoá công nhân cũng đang gặp không ít khó
khăn nh, ội ngũ công nhân điều kiện việc làm không bảo đảm, thu nhập còn
thấp cha tơng xứng với cờng độ và thời gian đóng góp của họ; công nhân
phải phải sống ở nơi chật chội, không bảo đảm vệ sinh, an toàn; thiếu đội
ngũ cán bộ, chuyên gia quản lý, kỹ thuật đầu ngành. Công tác giáo dục, đào
tạo nhất là đào tạo nghề còn bộc lộ nhiều bất cập. Đặc biệt, trách nhiệm của
một bộ phận công nhân trong thực hiện trí thức hoá mình còn cha cao.
Vì vậy, trí thức hoá công nhân cần phải đợc tiến hành bằng tổng hợp
các biện, là nhiệm vụ riêng của giai cấp công nhân mà còn là trách nhiệm của
các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị. Gúp phn vo sự thành công
của cụng cuc công nghiệp hóa, hiện đại hóa t nc gắn liền với phát triển
kinh tế tri thức và hội nhập kinh t quốc tế cng nh sự nghiệp xõy dng v
bo v T quc Vit Nam xó hi ch ngha.
20