TIỂU LUẬN CHUYÊN NGÀNH GIỮ VỮNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN lý xã hội của NHÀ nước TA HIỆN NAY - Pdf 39

1

GIỮ VỮNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG HOẠT
ĐỘNG QUẢN LÝ XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
Toàn bộ những thành tựu của công cuộc đổi mới cũng như những vấn đề
nảy sinh đều có quan hệ trực tiếp đến hoạt động quản lý của Nhà nước. Bởi
lẽ, trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội Đảng lãnh đạo thông qua Nhà
nước, nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ của mình trên mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội cũng chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một bộ phận cốt yếu của hệ thống chính trị xã
hội chủ nghĩa, thể hiện tập trung nhất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đất
nước phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa hay chệch hướng xã hội
chủ nghĩa ở mức độ nào đó thì dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, hoạt động quản lý của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
có ý nghĩa quyết định trực tiếp. Do đó, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
trong hoạt động quản lý của Nhà nước ta là nhân tố cơ bản, có ý nghĩa quyết
định trực tiếp để đảm bảo cho đất nước ta phát triển đúng định hướng xã hội
chủ nghĩa. Bởi vậy, định hướng xã hội chủ nghĩa trong hoạt động quản lý của
Nhà nước đòi hỏi phải nắm bắt được những vấn đề mới nảy sinh trong thực tế
quản lý của Nhà nước về: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá…đồng thời phải
tiếp tục có những nhận thức đúng đắn hơn về chủ nghĩa xã hội, về định hướng
xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập quốc tế, vừa hợp tác vừa đấu tranh.
NỘI DUNG
1. Cơ sở để Đảng ta
Quản lý xã hội theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của bộ máy
Nhà nước bao gồm: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo nghĩa hẹp, quản lý
Nhà nước là hoạt động quản lý của bộ máy hành pháp. Dù ở phạm vi nào thì
hoạt động quản lý Nhà nước cũng mang tính chất chính trị và gắn với quyền



có tính chất kinh doanh trong xã hội và bằng nguồn lực do Nhà nước sở hữu.


3

Với nguồn lực to lớn và chủ yếu đó, Nhà nước có thể hỗ trợ đầu tư vào những
lĩnh vực trọng điểm, những khu vực ưu tiên để đảm bảo kết hợp tăng trưởng
kinh tế với thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội vốn là một phương hướng
hoạt động trọng tâm của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Nhưng như thế không có nghĩa là Nhà nước là một thể chế chính trị tối
cao của xã hội. Một đặc diểm nổi bật và cơ bản của quá trình phát triển theo
định hướng xã hội chủ nghĩa là làm cho Nhà nước vốn là thể chế chính trị tối
cao của xã hội thành một thể chế hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội. Cơ chế
Đảng lãnh đạo Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là thể chế xã hội then
chốt để Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Sự thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp theo nguyên tắc tập
trung dân chủ trong hoạt động tổ chức của Nhà nước và cơ bản là chế độ sở
hữu công cộng, tư liệu sản xuất chủ yếu bảo đảm để Đảng có thể lãnh đạo một
cách thống nhất hệ thống quyền lực Nhà nước, từ việc hoạch định đường lối,
chính sách, xây dựng luật pháp cho đến điều phối và kiểm tra, giám sát việc
thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội trong lĩnh vực đối nội và đối
ngoại. Cũng trên cơ sở đó, nhân dân mà chủ yếu là công nhân, nông dân và trí
thức dưới sự lãnh đạo của Đảng có thể tham gia vào các công việc Nhà nước
bằng các hình thức, đại diện hay trực tiếp, bằng các hình thức quản lý hành
chính Nhà nước hay các hình thức quản lý xã hội thông thường. Nhân dân
thực hiện quyền làm chủ bằng những hoạt động kiểm tra, giám sát và nhân
dân cũng hỗ trợ cho hoạt động quản lý của Nhà nước.
Quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân thông qua việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng và phát huy quyền
làm chủ của nhân dân ngày nay không tách rời mà hướng vào việc xây dựng

bảo trật tự, kỷ cương và công bằng xã hội. Công tác tăng cường xây dựng
pháp chế tuỳ thuộc cơ bản vào sự lãnh đạo của Đảng, nhất là các cấp uỷ Đảng
từ trung ương đến địa phương, trong việc tuyên truyền giáo dục pháp luật,
tăng cường cán bộ có phẩm chất và năng lực cho lĩnh vực pháp chế, kiểm tra
chặt chẽ các hoạt động thực hiện và bảo vệ pháp luật của các cơ quan Nhà
nước, các tổ chức xã hội các công dân, nhất là cán bộ đảng viên. Để xây dựng
được pháp chế thì ngay từ khâu xây dựng luật cũng đòi hỏi sự lãnh đạo của


5

Đảng sao cho nội dung pháp luật thể hiện đúng ý chí của nhân dân lao động,
có khả năng đảm bảo và bảo vệ chế độ chính trị - xã hội cũng như các quyền
công dân của người lao động và các quyền hợp pháp của các tổ chức xã hội.
Trong hiến pháp năm 1992 đã quy định, phải tăng cường pháp chế để
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều này đòi hỏi phải xây
dựng và hoàn chỉnh cả ba mặt: nội dung hình thức và cơ cấu của hệ thống
pháp luật. Đồng thời phải tổ chức thực hiện đúng đắn, nghiêm chỉnh các quy
phạm pháp luật của các tổ chức và công dân trong toàn xã hội. Toàn bộ quá
trình xây dựng pháp luật và pháp chế không đi chệch ý chí của nhân dân lao
động, trong đó cơ bản là ý chí của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và
tầng lớp trí thức. Ý chí đó thể hiện tập trung và sáng rõ nhất trong cương lĩnh,
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Như vậy, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân do dân và
vì dân phải chịu chế ước về chính trị, cụ thể là dân chủ chính trị của giai cấp
công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, của tất cả những người lao
động và sự lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quyền làm chủ
của nhân dân lao động và sự lãnh đạo của Đảng tất nhiên gắn liền với nghĩa
vụ tuân thủ và thực hiện hiến pháp, pháp luật. Dân chủ chính trị và sự lãnh
đạo chính trị của Đảng đảm bảo môi trường và định hướng trị cho Nhà nước

văn hoá xã hội xã hội chủ nghĩa.
Quản lý Nhà nước đối với quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa
trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế có sự tác động của toàn
cầu hóa và cách mạng khoa học công nghệ theo quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin do đó phải giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
A, Về kinh tế
Tại một nước còn ở tình trạng kém phát triển như Việt Nam đòi hỏi phải
phát triển mạnh mẽ lượng lượng sản xuất đồng thời phải từng bước xây dựng
quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa.Phải nói rằng, trong điều kiện kinh tế
thị trường hội nhập quốc tế có sự tác động của toàn cầu hoá và cách mạng
khoa học công nghệ có nhiều điều kiện để phát triển manh mẽ lực lượng sản
xuất; đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề khó khăn. phức tạp cho quá trình xây
dựng quan hệ sản xuât mới xã hội chủ nghĩa. Hiện nay và trong thời gian rất


7

dài nữa, quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa phải dược xây dựng cả ba mối
quan hệ chủ yếu sau: Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ về tổ chức
quản lý và trao đổi hoạt động với nhau, quan hệ về phân phối sản phẩm.
Tính chất xã hội chủ nghĩa trong quan hệ sản xuất mới phải được thể
hiện ở vai trò chủ đạo của sở hữu công cộng hay sở hữu xã hội, trong đó cơ
bản là sở hữu Nhà nước; ở tổ chức quản lý vĩ mô của nền kinh tế bởi Nhà
nước xã hội chủ nghĩa và sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của đa số người
lao động vào quá trình tổ chức, quản lý sản xuất kinh tế, nhất là ở cơ sở; ở
quan hệ phân phối theo lao động và phúc lợi xã hội, đóng vai trò chủ đạo
trong xã hội, nhân dân lao động ngày càng được làm chủ nhiều hơn về kinh
tế.
Hiện nay, khu vực kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân và khu vực
kinh tế nước ngoài sẽ còn đóng vai trò lớn trong tương quan các thành phần

Trong nội bộ mỗi giai tầng xã hội cũng có sự phân hóa, phân tầng xã hội.
Trong giai cấp công nhân có: công nhân cổ phần, công nhân biên chế Nhà
nước, công nhân hợp đồng theo thời gian, theo công việc tại tất cả các thành
phần kinh tế…Ngoài ra, còn những người làm thuê ở nông thôn, đô thị không
thuộc giai cấp công nhân. Tình hình cũng diễn ra gần như vậy trong giai cấp
nông dân và tầng lớp trí thức. Thông thường thì phân hóa giai tầng trong xã
hội trong điều kiện kinh tế thị trường sẽ dẫn đến phân hóa giai cấp. Nếu để xu
hướng này trở thành hiện thực thì cũng đồng nghĩa với việc làm phương hại
đến nền tảng xã hội - giai cấp của con đường phát triển định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Thực tế hiện nay đang nổi lên vấn đề tác động đến quan hệ giữa các giai
tầng trong xã hội và trong nội bộ mỗi giai tầng xã hội như: Nạn tham nhũng,
buôn lậu, lãng phí của công, các hiện tượng tiêu cực trong quá trình công tác
của một số cán bộ trong bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể xã hội và doanh
nghiệp Nhà nước, nhất là trên các lĩnh vực như, nhà đất, xây dựng cơ bản,
hợp tác đầu tư, thuế, các hoạt động thi hành pháp luật, huy động sự đóng góp
của dân…Vấn đề việc làm, thu nhập, phân hóa giàu nghèo, đời sống của đồng
bào các dân tộc ít người, khu căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ còn rất


9

nhiều khó khăn. Vấn đề học tập, chữa bệnh của người nghèo. Tình trạng ùn
tắc giao thông, ô nhiễm môi trường sinh thái, sự hủy hoại tài nguyên thiên
nhiên ngày càng gia tăng. Sự suy thoái về đạo đức lối sống của một số cán bộ
đảng viên. Sự thâm nhập của các sách báo, văn hoá phẩm phi xã hội chủ
nghĩa, đầu độc đến tinh thần và tình cảm của con người Việt Nam ta. Những
hoạt động lợi dụng tự do tín ngưỡng- tôn giáo của một số phần tử phản động.
Tệ nạn xã hội và tội phạm xã hội gia tăng nhiều như ma tuý, mại dâm, buôn
bán phụ nữ và trẻ em…

gia giải quyết các công việc kinh tế - xã hội ở làng xóm, cụm dân cư …Nhân
dân cũng có khả năng trực tiếp tham gia vào xây dựng đường lối, chính sách
và luật pháp. Chẳng hạn như đợt tham gia ý kiến đóng góp vào các văn kiện
của đại hội X của Đảng vừa qua là một ví dụ.
Đổi mới các hoạt động quản lý Nhà nước đã được tiến hành trong quá
trình từng bước đổi mới hệ thống chính trị trên cơ sở xử lý đúng đắn mối quan
hệ khăng khít giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đã từng bước hình
thành được các quan điểm, nguyên tắc cơ bản xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đồng thời xác
định đúng đắn mối quan hệ giữa dân chủ với kỷ luật, kỷ cương; quyền lợi với
nghĩa vụ và trách nhiện công dân; dân chủ có sự lãnh đạo của Đảng.
Những tiến bộ bước đầu được trình bầy trên đây đã tạo được nền tảng
cho đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh. Bản
chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà nước được giữ
vững và củng cố. Đây là cơ sở thuận lợi để nhân dân lao động tham gia vào
các công việc Nhà nước. Nhưng hiện nay trong quá trình tham gia vào các
công việc Nhà nước của nhân dân lao động đang nổi lên một số vấn đề đó là:
Bộ máy Nhà nước chưa thật vững mạnh; tình trạng tham nhũng, lãng phí
quan liêu, còn nghiêm trọng nhưng chưa được ngăn chặn triệt để; hiệu lực
quản lý, diều hành của Nhà nước chưa cao, kỷ cương xã hội chưa nghiêm,
làm giảm sút niềm tin của nhân dân lao động.
Tổ chức bộ máy Nhà nước còn cồng kềnh về quy mô, về tổ chức biên
chế; sự phân công, phối hợp giữa ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp
còn có những điểm chưa rõ về chức năng, nhiệm vụ; mối quan hệ phân cấp


11

Trung ương - địa phương còn một số mặt chưa cụ thể; tình trạng tập trung
quan liêu cũng như tình trạng phân tán, cục bộ chưa được khắc phục.


12

Những yêu cầu mới của quản lý Nhà nước, xuất hiện từ yêu cầu của
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ những yếu kém, thiếu sót trong
công tác quản lý Nhà nước đồng thời chúng cũng nảy sinh trong bối cảnh mới
của tình hình trong nước và quốc tế. Từ Đại hội VIII (1996) Đảng ta đã khẳng
định: “Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị
tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời
kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” 2 Trong mỗi tiến
của cách mạng lại xuất hiện những điều kiện mới, yêu cầu mới, nội dung mới
của định hướng xã hội chủ nghĩa. Cũng từ những bối cảnh mới đó của con
đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa công tác quản lý Nhà nước
nếu không đáp ứng được những yêu cầu mới sẽ không thể hiện đúng vai trò
trụ cột của hệ thống chính trị là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ
của nhân dân. Bài học lịch sử đã chỉ ra về sự không tương dung giữa quản lý
Nhà nước với bước ngoặt chuyển biến từ điều kiện chiến tranh sang điều kiện
hoà bình vào nửa sau thập kỷ 70 của thế kỷ XX không cho phép lặp lại trong
bước chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá có sự
tác động toàn cầu hóa như hiện nay.
Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo
định hướng xã hội chủ nghĩa cần quán triệt các vấn đề sau, trong quá trình
kiện toàn công tác quản lý Nhà nước, nhằm đảm bảo giữ vững định hướng xã
hội chủ nghĩa:
Một là, xây dựng Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu
cho lợi ích chung toàn thể các dân tộc và toàn thể nhân dân lao động dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đây là quan điểm nêu rõ bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong mối quan hệ thống nhất với tính
dân tộc, tính nhân dân và được thể hiện trên những quan điểm cơ bản sau:

Hai là, xây dựng Nhà nước là Nhà nước dân chủ “bao nhiêu lợi ích đều
vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là
trách nhiệm của dân…Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” 3
Quan điểm này thể hiện ở những điểm sau:
3

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.698


14

Chủ thể của Nhà nước là nhân dân lao động. Nhà nước được xây dựng
bởi đại đa số thành viên xã hội và hoạt động trên cơ sở thống nhất các quyền:
lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nghĩa là “…bản thân các cơ quan Nhà nước
không tự có quyền…”.4Nhân dân thể hiện quyền lực của mình bằng Nhà
nước, đồng thể hiện quyền lực của mình cả trong xã hội, qua hai hình thức
dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.
Quyền và nghĩa vụ thực hiện dân chủ của nhân dân trên mọi mặt đời
sống xã hội được xác định bằng hiến pháp, pháp luật, chính sách và cơ chế,
điều kiện thực hiện; được kiện toàn và nâng cao trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội, phát triển con người về trí tuệ, đạo đức và năng lực hoạt
động.
Nguyên tắc tổ chức và thể chế hoạt động của Nhà nước đảm bảo cho
nhân dân dân lao động thật sự tham gia quản lý Nhà nước, tham gia xây dựng
pháp luật và những chính sách lớn của Nhà nước, tham gia giải quyết những
công việc trọng đại của đất nước, bảo đảm cho nhân dân có quyền và có điều
kiện bầu cử, ứng cử tự do, dân chủ có chất lượng; kiểm tra, giám sát hoạt
động của các cơ quan Nhà nước, bãi miễn đại biểu không xứng đáng trong
các cơ quan dân cử và do cơ quan dân cử bầu ra.
Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; quyền lực gắn với trách nhiệm và

luật. Ngay quyền lực của nhân dân cũng không chỉ dừng ở những quan điểm,
ý chí và lợi ích chung mà phải được thể chế hoá bằng pháp luật trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội (như: chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc
phòng…), để đảm bảo quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ, ý thức dân chủ và phong
trào tự do - dân chủ diễn ra phù hợp với khung pháp chế chung của xã hội.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa để đảm bảo pháp chế
hóa sự thống nhất quyền lực, đồng thời bảo đảm sự phân công, phối hợp theo
chức năng giữa cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền có ảnh hưởng trực tiếp đến xây
dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự
xác lập mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền để thể chế hóa quyền lãnh đạo của
Đảng, hoạt động quản lý của Nhà nước và thể chế hoá quyền làm chủ của
5

C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1 tr.351.


16

nhân dân. Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ảnh hưởng trực
tiếp đến những vấn đề căn bản: quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với tư
cách là đảng cầm quyền, có chức năng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối trong đó
có Nhà nước; Nhà nước với chức năng xây dựng pháp luật, tổ chức quản lý
hành chính công, bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân; và các tổ chức chính trị
- xã hội với chức năng tập hợp, đoàn kết quần chúng, đóng góp vào đường
lối, luật pháp, chính sách của Đảng và Nhà nước. Do đó, xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đang
và sẽ là trọng tâm của đổi mới chính trị trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.

đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần phải đáp ứng được các
yêu cầu có tính nguyên tắc cơ bản trên đây. Quân đội nhân dân Việt Nam là
công cụ bạo lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, để hoàn thành tốt
chức năng nhiệm vụ của mình, quân đội cũng phải tự làm tốt công tác quản lý
xã hội của mình, mặt khác, chấp hành tốt sự quản lý của Nhà nước. Chỉ có
như vậy quân đội mới giữ được bản chất giai cấp công nhân, và hoàn thành
tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trên cơ sở quán triệt đầy đủ những yêu cầu đó
mỗi quân nhân cũng phải tích cực tham gia vào công tác quản lý xã hội trên
các mặt, nhất là trên mặt trận quốc phòng - an ninh. Tích cực vận động nhân
dân tham gia vào công việc quản lý xã hội cùng với các cơ quan Nhà nước.
Vận động nhân dân nơi đóng quân chấp hành tốt Hiến pháp và pháp luật của
Nhà nước góp phần cùng với Nhà nước quản lý tốt xã hội trên các lĩnh vực.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status