2
MỤC LỤC
TT
NỘI DUNG
1.
MỞ ĐẦU
Quan điểm Mác-Lênin về hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ
2.
nghĩa.
Quan điểm Mác-Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội.
3.
Sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta lý luận về thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
4.
Một số vấn đề cơ bản thực hiện con đường quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Trang
3
4
4.5.
cố khối liên minh công - nông - trí vững chắc.
Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc tạo nên nguồn sức mạnh
4.6.
và động lực to lớn cho sự nghiệp cách mạng.
Giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam trong suốt tiến trình cách mạng.
22
24
25
KẾT LUẬN
26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
28
MỞ ĐẦU
3
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời,
Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới, Nxb CTQG, H , 2015, tr.40
4
phát triển nhanh và bền vững hơn. Thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải nhận thức
đúng đắn và làm sáng tỏ những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin
về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta để
đề ra đường lối chiến lược sách lược đúng đắn, qua đó góp phần tích cực
trong việc đấu tranh, bảo vệ và phát triển lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
NỘI DUNG
1. Quan điểm Mác-Lênin về hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ
nghĩa.
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin, là một
học thuyết khoa học và cách mạng, chứng minh xã hội loài người phát triển từ
thấp đến cao thông qua sự kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế - xã hội. Lý
luận về hình thái kinh tế - xã hội ra đời là một bước chuyển biến cách mạng
trong nhận thức về xã hội – lịch sử, đưa lại quan điểm duy vật về xã hội, chỉ
ra sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết
định quá trình sinh hoạt chính trị và tinh thần nói chung. Trước Mác, chủ
nghĩa duy tâm giữ vai trò chi phối trong việc giải thích về đời sống xã hội, các
nhà triết học duy tâm thường quan niệm xã hội một cách chung chung, trừu
tượng… chưa có sự nhìn nhận một cách hệ thống, khoa học. Mác đã vận dụng
phép biện chứng duy vật vào nghiên cứu xã hội, nghiên cứu hoạt động sản
xuất vật chất và phát hiện ra mối quan hệ giữa con người với con người, mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên. Trong xã hội các yếu tố lực lượng sản
xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ với nhau và
bao giờ cũng gắn với một kiểu xã hội nhất định, sự tác động qua lại của các
nhiên. Mác và Ăngghen đã nhìn thấy xã hội mới phải trải qua nhiều giai
đoạn, nhiều thời kỳ trên con đường đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa.
2. Quan điểm Mác-Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” Mác và Ăngghen đã nói rõ tính
khách quan sự vận động phát triển của lịch sử xã hội loài người tất yếu sẽ
đi lên chủ nghĩa cộng sản, các ông gọi chủ nghĩa cộng sản là một trào lưu
2
C.Mác - Ph.Ăngghen toàn tập, tập 23, Nxb CTQG. H, 1995, tr.21.
6
hiện thực. Trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gô ta” Mác đã đưa ra
định nghĩa kinh điển về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Mác viết:
“giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời
kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ
ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không phải
là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản ”3.
Thời kỳ quá độ “là xã hội vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa do đó
là một xã hội, về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần còn mang
những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra ” 4, đó là xã hội còn chưa
phát triển trên cơ sở của chính nó. Mác-Ăngghen đã nêu tư tưởng về hai
giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản, giai đoạn thấp là xã hội – xã hội chủ
nghĩa, xã hội vừa thoát thai từ xã hội cũ, trong xã hội ấy tất yếu còn đấu
tranh giai cấp và vì vậy còn cần đến nhà nước của giai cấp vô sản, nó tồn
tại đến khi xây dựng xong cơ sở vật chất cho chủ nghĩa cộng sản. Giai
đoạn cao là chủ nghĩa cộng sản, xã hội không còn phân biệt giữa lao động
trí óc và lao động chân tay, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Như
vậy thời kỳ quá độ là thời kỳ sinh đẻ lâu dài và đau đớn để loại bỏ dần cái
trái đất đều không có ranh giới trừu tượng nào thật rành mạch cả”5. Hoặc “dĩ
nhiên là những cách phân giới hạn đó, cũng giống như những cách phân giới
hạn trong giới tự nhiên hoặc trong xã hội, đều chỉ có tính chất quy ước và
không cố định, đều là tương đối chứ không phải là tuyệt đối”6. Qua đó ta thấy
được tư tưởng biện chứng của các ông, khi nhận biết được vị trí, giới hạn của
thời kỳ quá độ, thì ngay trong vị trí, giới hạn đó còn hàm chứa cả những đặc
điểm, nội dung của thời kỳ quá độ và còn của cả giai đoạn xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ chuyển biến
cách mạng từ xã hội cũ sang xã hội mới xã hội - xã hội chủ nghĩa, được bắt
đầu khi giai cấp vô sản giành chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản và
kết thúc khi xây dựng xong cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
Trong đó, chính quyền tư bản chủ nghĩa đã bị đánh bại nhưng chế độ tư hữu
vẫn còn tồn tại, việc cải tạo và đi đến xoá bỏ nó phải tiến hành dần dần, khi
giai cấp vô sản phải tạo ra được khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết, thì lúc
đó xoá bỏ được chế độ tư hữu. Quan hệ phân phối còn chưa thể bình đẳng.
Tóm lại, trong thời kỳ quá độ không riêng gì lĩnh vực kinh tế mà các lĩnh vực
khác của đời sống xã hội còn mang những tàn dư, dấu vết của xã hội cũ chưa
thể xoá bỏ, vẫn còn nhà nước, giai cấp và tất yếu còn đấu tranh giai cấp.
5
6
C.Mác - Ph.Ăngghen toàn tập, tập 23, Nxb CTQG, H, 1995, tr. 537.
Lênin toàn tập, Nxb tiến bộ , Matxcơva, 1978, tập 23, tr 175.
8
Kế thừa quan điểm Mác-Ăngghen, Lênin đã chỉ ra đặc điểm của thời kỳ
quá độ là: sự cùng tồn tại, vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau của những
yếu tố, thuộc tính của cả xã hội cũ và xã hội mới, là thời kỳ đan xen, thâm
9
Khi lý giải về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các nhà kinh điển
của chủ nghĩa Mác-Lênin còn đề cập đến con đường phát triển không qua tư
bản chủ nghĩa ở các nước chậm phát triển, tức là quá độ từ xã hội tiền tư bản
lên chủ nghĩa xã hội. Mác-Ăngghen cho rằng: với sự giúp đỡ của giai cấp vô
sản đã chiến thắng, các dân tộc lạc hậu có thể rút ngắn được rất nhiều quá
trình phát triển của mình để tiến lên chủ nghĩa cộng sản. “Một xã hội, ngay cả
khi đã phát hiện được quy luật tự nhiên của sự vận động của nó, cũng không
thể nào nhảy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xoá
bỏ những giai đoạn đó. Nhưng nó có thể rút ngắn và làm dịu bớt được những
cơn đau đẻ”8. Như vậy, các nước tiền tư bản chủ nghĩa có thể đi lên chủ nghĩa
cộng sản bằng con đường bỏ qua sự phát triển tư bản chủ nghĩa với những
điều kiện tiên quyết nhất định, một trong những điều kiện đó là các nước tiền
tư bản phải được sự giúp đỡ của giai cấp vô sản ở các nước tiên tiến.
Trong điều kiện lịch sử mới, sau Cách mạng tháng Mười, Lênin khẳng
định: “với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc
hậu có thể tiến lên tới chế độ Xô viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất
định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư
bản chủ nghĩa”9. Lênin đã đưa ra quan điểm hai hình thức quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, đó là trực tiếp và gián tiếp. Theo Lênin, những nước chủ nghĩa
tư bản phát triển cao, giai cấp công nhân đã trưởng thành mới có đủ những
tiền đề xã hội, kinh tế và chính trị cho sự chuyển tiếp lên chủ nghĩa xã hội.
Còn những nước lạc hậu chỉ có thể đi lên chủ nghĩa xã hội bằng quá độ gián
tiếp, điều kiện để quá độ gián tiếp theo Lênin là: hình thái kinh tế - xã hội bỏ
qua đã lỗi thời lạc hậu, hình thái kinh tế - xã hội mới ra đời đã thể hiện tính ưu
việt của nó; Đảng cộng sản giữ vị trí lãnh đạo xã hội và luôn được củng cố
vững mạnh; chính quyền công nông đủ điều kiện để làm nhiệm vụ chuyên
chính vô sản; liên minh công nông bền vững làm cơ sở xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân; phải có sự giúp đỡ của giai cấp vô sản ở các nước tiên tiến.
tiến lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta là phù hợp với xu thế của thời đại và
điều kiện cụ thể ở nước ta. Con đường của Cách mạng Việt Nam là tiến hành
giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Theo quan điểm của
Đảng, sau khi cơ bản hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân, dưới
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, dựa trên nền nền tảng liên minh công nhân,
10
11
V.I.Lênin. Toàn tập, Nxb tiến bộ , Matxcơva, 1978, tập.45, tr.431.
V.I.Lênin.Toàn tập, Nxb tiến bộ , Matxcơva, 1978, tập 43, tr. 274.
11
nông dân và trí thức đã được củng cố vững chắc, cách mạng Việt Nam chuyển
sang giai đoạn mới, giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn
phát triển tư bản chủ nghĩa. Vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn cách
mạng Việt Nam, khi Miền Bắc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, miền
Nam còn bị đế quốc Mỹ chiếm đóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ
trương, đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: tiến hành cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Hai cuộc cách mạng này có quan hệ chặt chẽ
thống nhất với nhau là điều kiện thúc đẩy cách mạng Việt Nam phát triển.
Đường lối vừa kháng chiến vừa kiến quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
hoàn cảnh có chiến tranh là một sáng tạo độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh
và của Đảng ta, phản ánh đúng thực chất quy luật phát triển của cách mạng
Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nhận định chính xác những khó khăn phức tạp mà cách mạng Việt
dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã
hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ
nghĩa”13. Đồng thời Đảng cũng nhận rõ những khó khăn thách thức trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một
nước thuộc địa nửa phong kiến, điểm xuất phát thấp, sản xuất nông nghiệp lạc
hậu, bỏ qua hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa; đất nước lại trải qua
hai cuộc chiến tranh với hậu quả để lại hết sức nặng nề, vì vậy thời kỳ quá độ
là một quá trình đấu tranh giai cấp phức tạp lâu dài, phải tiến hành đồng thời
hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa, trong đó nhiệm vụ xây dựng là quan trọng hàng đầu. Những
năm trước Đại hội VI (1986), do duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, chủ quan duy ý chí, muốn xoá
bỏ nhanh các thành phần kinh tế không cơ bản, không tôn trọng quy luật
khách quan, áp dụng máy móc mô hình chủ nghĩa xã hội đã làm cho nước ta
rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội. Đại hội VI của Đảng với
phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, tổng kết những
thành tựu đạt được, chỉ ra những mặt còn hạn chế, yếu kém cần phải khắc
phục, trên cơ sở đó đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực
hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ trương của
Đảng là thực hiện mở cửa, đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy, tư
13
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ IV, Nxb.St, H, 1977, tr 67.
13
duy về kinh tế, tư duy về chính trị, chú trọng đổi mới kinh tế làm cơ sở tiền đề
để từng bước đổi mới chính trị. Đảng ta xác định đổi mới không phải là thay
đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là tìm cách thực hiện mục tiêu đó một cách
14
bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về
hình thức sở hữu, phù hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất;
tiến hành cách mạng trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá; thực hiện chính sách
đại đoàn kết dân tộc; kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc; thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng.
Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ đại hội Đảng VII,
đại hội Đảng VIII nhận định: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
ngày càng được xác định rõ hơn; xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực
hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định
hướng xã hội chủ nghĩa”15. Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội,
cơ bản hoàn thành nhiệm vụ chặng đường đầu của thời kỳ quá độ.
Bước sang thời kỳ phát triển mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, Đại hội IX, X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Con đường đi lên
của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và
kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành
tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa
học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh
tế hiện đại”16. Đại hội X của Đảng đã khái quát mô hình “xã hội chủ nghĩa
mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước
mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế
phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công,
có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong
cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng tiến bộ;
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản
lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.”19
Và gần đây nhất là Đại hội Đảng lần thư XII, một mặt tiếp tục khẳng
định sự kiên định về con đường trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011): “con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế
phát triển của lịch sử” 20. Mặt khác, nhìn lại 30 năm đổi mới, đảng ta khẳng
Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ X, Nxb. CTQG, H, 2006, tr. 68.
Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ X, Nxb. CTQG, H, 2006, tr. 69.
19 Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.70.
20 Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XII, Nxb CTQG, H, 2016, tr.16.
17
18
16
định “trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ
sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo
và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát
huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh
nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam” 21.
Như vậy, tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa phải
trải qua thời kỳ quá độ là một tất yếu khách quan, là thời kỳ lâu dài và hết sức
khó khăn, phải trải qua nhiều chặng đường, do điểm xuất phát của chúng ta
thấp, đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ... Đó là thời kỳ cải biến
cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để nhằm xây dựng một chế độ xã hội mới
cả lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng, là thời kỳ
đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt và phức tạp, đấu tranh giữa hai con
đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực của đời
thực tiễn cách mạng Việt Nam của Đảng ta. Tuy nhiên, thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội đặt ra nhiều vấn đề cần phải bổ sung cho phù hợp với điều kiện
từng giai đoạn cách mạng, phải vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận chủ
nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam như Đảng ta đã xác định
một trong những vấn đề quan trọng cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ là xác định
chặng đường, bước đi trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta:
“Cần đi sâu nghiên cứu đặc điểm, nhất là những tính đặc thù của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nghiên cứu làm rõ một cách tổng quát lộ
trình và những chặng đường của thời kỳ quá độ; nội dung cơ bản của từng
chặng đường đó”23.
4. Một số vấn đề cơ bản thực hiện con đường quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề đặt ra đối với nước ta là làm sao
tận dụng được thời cơ, vượt qua những thách thức nguy cơ trong quá trình
phát triển kinh tế-xã hội, đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, vững chắc
theo con đường xã hội chủ nghĩa, hoàn thành nhiệm vụ chiến lược mà
đường lối đổi mới của Đảng đã đề ra. Muốn vậy, thiết nghĩ chúng ta cần
quán triệt và thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:
22
23
Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XII, Nxb CTQG, H, 2016, tr.65-66.
Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới, Nxb CTQG, H , 2015, tr.216
18
4.1. Nhận thức đúng đắn đầy đủ hơn về đặc điểm tình hình, điều
kiện, khả năng, của đất nước và thời đại, trên cơ sở đó đề ra đường lối
19
đó, đất nước còn nghèo, trình độ dân trí thấp, tăng trưởng kinh tế chưa vững
chắc, môi trường quốc tế cạnh tranh gay gắt, khốc liệt. “Những vấn đề toàn
cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh
lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh có nhiều diễn biến phức tạp.
Cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các thách thức
an ninh truyền thống, phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng và các hình
thái chiến tranh kiểu mới” 24. Đó thực sự là những khó khăn thách thức đan
xen, tác động lẫn nhau, thường xuyên đe dọa sự sống còn của Đảng, của chế
độ ta. Vì vậy, để con đường cách mạng nước ta bỏ qua giai đoạn phát triển tư
bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội giành thắng lợi, vấn đề có ý nghĩa chiến
lược là phải nhận thức sâu sắc, đúng đắn, đầy đủ về đặc điểm tình hình, điều
kiện khả năng của đất nước, thế giới, trên cơ sở đó xác định đúng đường lối
chiến lược, sách lược, đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trên
con đường xã hội chủ nghĩa.
4.2. Giữ vững lập trường, kiên định nguyên tắc định hướng xã hội
chủ nghĩa và đổi mới sáng tạo.
Đảng ta xác định rõ lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho sự nghiệp cách mạng. Đòi
hỏi chúng ta phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đây là vấn đề
có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Thực
chất là kiên trì sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, gắn liền
độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Thực tế cho thấy, việc chậm khắc phục sửa chữa
những yếu kém khuyết điểm có thể dẫn đến mất phương hướng, thậm chí
mất chế độ như một số nước xã hội chủ nghĩa đã không đủ sức vượt qua
khi tiến hành cải tổ, cải cách. Kiên định lập trường nguyên tắc xã hội chủ
nghĩa, chính là giữ vững và kế thừa, bảo vệ các nguyên lý, phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời nghiên
Minh, ngược lại sự kiên định sẽ trở nên mất hết ý nghĩa, rơi vào chung
chung trừu tượng nếu không có sự đổi mới sáng tạo. Công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay chính là kết quả thể
hiện hết sức sinh động, thuyết phục về sự kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề
kiên định với đổi mới sáng tạo.
25
Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XII, Nxb CTQG, H , 2016, tr.68
21
4.3. Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với đổi mới chính trị và
các mặt khác của đời sống xã hội.
Trong thời kỳ toàn cầu hoá hiện nay, hầu hết các nước đều phải xây
dựng và phát triển kinh tế thị trường, đó là xu thế khách quan, tuy nhiên, ở
mỗi chế độ xã hội khác nhau, kinh tế thị trường được sử dụng với mục đích
khác nhau. Đối với các nước tư bản, kinh tế thị trường là kinh tế thị trường tư
bản chủ nghĩa, phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Ở nước ta, kinh tế thị
trường phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường là
thành tựu chung của văn minh nhân loại, là kết quả của sự phát triển lực
lượng sản xuất đến một trình độ nhất định, của quá trình phân công lao động
xã hội, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, đồng thời nó là động lực mạnh mẽ
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa phù hợp với xu thế phát triển chung
của nhân loại, vừa phù hợp với yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất ở nước
ta là nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như Đảng ta đã khẳng định: “phát triển
kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi
chế. Một mặt, nhà nước ta tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện, nền hành
chính được cải cách một bước, quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh
vực được phát huy, một số chính sách và quy chế bảo đảm quyền dân chủ
của nhân dân trước hết ở cơ sở, bước đầu được thực hiện, tăng cường được
pháp chế, giữ vững được kỷ cương phép nước. Tuy nhiên, còn nhiều mặt
hạn chế khuyết điểm: bộ máy nhà nước còn cồng kềnh, cơ chế chính sách
có mặt còn thiếu đồng bộ, dân chủ còn mang tính hình thức, một số cán bộ
công chức còn quan liêu, tham nhũng, xa rời dân, suy thoái về phẩm chất
đạo đức cách mạng. Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước có nhiều
biến động phức tạp, đòi hỏi phải cải cách tổ chức và hoạt động của nhà
nước, bảo đảm thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân, coi đây là vấn
đề có ý nghĩa chiến lược trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đẩy mạnh
cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước, đòi hỏi chúng ta phải, xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng,
giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, làm cho nhà nước
thực sự là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; phải
tiến hành cải cách thể chế và phương thức hoạt động của nhà nước, mở
rộng và phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp
chế; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực.
23
Đồng thời với việc cải cách tổ chức bộ máy nhà nước, phải xây dựng
cũng cố khối liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, và đội ngũ trí
thức. Tổng kết thực tiễn, Đảng ta khẳng định xây dựng củng cố khối liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, là
một vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt hiện nay, khi cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ phát triển mạnh mẽ, sự tác động của xu thế toàn cầu hoá nền kinh
nước và giữ nước của dân tộc ta. Ngay từ khi ra đời cha ông ta đã biết phát
huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, chúng ta đã làm nên những kỳ tích lịch
sử, những bản anh hùng ca bất hủ. Kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc,
Đảng ta luôn luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân, coi đó là đường
lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn cho sự nghiệp cách
mạng nước ta. Ngay khi mới thành lập Đảng ta đã quan tâm đến việc xây
dựng khối đại đoàn kết dân tộc để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng đất nước,
nhờ phát huy được khối đại đoàn kết của dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân
ta làm nên những chiến thắng lẫy lừng, đánh bại những thế lực thực dân, đế
quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn hơn ta nhiều lần. Chủ Tịch Hồ Chí
Minh đã khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành
công, đại thành công”27. Trong giai đoạn cách mạng mới, đại đoàn kết dân tộc
được coi là động lực chủ yếu để phát triển đất nước, là cơ sở để phát huy sự
năng động sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, thực hiện thắng lợi mục tiêu:
“dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Do vậy, phải
không ngừng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, coi đây là vấn đề
có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng trong giai đoạn cách mạng hiện nay
như Đảng ta khẳng định: “Hoàn thiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và
quyền làm chủ của nhân dân; không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường sự đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi
mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân”28. Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là thực hiện liên minh
chặt chẽ giữa các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp và mọi thành viên trong
đại gia đình dân tộc Việt Nam. Đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở yêu nước, ý
chí tự lực tự cường và tự hào dân tộc, giữ vững độc lập chủ quyền toàn vẹn
27
28
Hồ Chí Minh : toàn tập, tập 10, Nxb. CTQG, H, 2000, tr350
Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XII, Nxb CTQG, H , 2016, tr.76
nghĩa xã hội. Chúng ta đều hiểu rằng Việt Nam sẽ không thể đổi mới thắng
lợi, không thể đi tới chủ nghĩa xã hội, nếu như Đảng không thực sự trong
sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu như Đảng ta đã xác
26
định: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự
chuyển hóa" trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội
ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm
nhiệm vụ”29. Từ nhận thức đó, Đảng ta đã và đang không ngừng vươn lên xây
dựng, chỉnh đốn ngày càng vững mạnh để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của
mình, lãnh đạo xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
KẾT LUẬN
Lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một nội dung cơ bản
trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin, lý luận đó
đã đáp ứng những nhu cầu và nhiệm vụ cách mạng của thời đại. Trong quá
trình hoạt động cách mạng Mác-Ăngghen, Lênin đã không ngừng phát triển lý
luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đây là cơ sở, phương pháp luận để
các Đảng cộng sản vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Lý luận thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa MácLênin đã được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo vào thực tiễn
cách mạng Việt Nam và thành tựu của hơn 20 năm đổi mới đã chứng minh
cho tính đúng đắn của sự vận dụng sáng tạo đó. Trong giai đoạn hiện nay,
trước sự biến động phức tạp của tình hình trong nước và thế giới, đòi hỏi
Đảng ta phải kiên định nguyên tắc định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới sáng
tạo; phải nhận thức đúng đắn, đầy đủ hơn về đặc điểm, tình hình, điều kiện
khả năng của đất nước và thời đại để có đường lối chiến lược sách lược đúng;
đẩy mạnh cải cách tổ chức, quản lý và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân
chủ, tăng cường pháp chế; xây dựng củng cố khối liên minh giai cấp công