TIỂU LUẬN CHUYÊN NGÀNH một số NGUYÊN tắc TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH đối với VÙNG dân tộc và MIỀN núi của ĐẢNG và NHÀ nước TA HIỆN NAY - Pdf 39

MỘT SỐ NGUYÊN TẮC TRONG THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VÙNG DÂN TỘC, MIỀN NÚI
CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY.
Dân tộc là cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch sử, được đặc
trưng bằng sự cộng đồng bền vững về lãnh thổ, ngôn ngữ, tâm lý, mối liên hệ
kinh tế và đặc trưng sinh hoạt văn hóa. Cho đến nay, dân tộc là hình thức
cộng đồng tộc người cao nhất, cố kết chặt chẽ và sâu sắc nhất ra đời vào thời
kỳ tư bản chủ nghĩa ở phương Tây. Tuy nhiên, ở một số nước phương Đông,
loại hình dân tộc ra đời sớm hơn, có thể ngay từ thời kỳ phong kiến như dân
tộc Nhật Bản, dân tộc Việt Nam ... So với các hình thức cộng đồng tộc người
trước đó, dân tộc có các đặc trưng tộc người bền chặt, sự cố kết trong nội bộ
tộc người rất sâu sắc bởi một thị trường chung thống nhất và chủ quyền lãnh
thổ quốc gia thiêng liêng. Khái niệm lãnh thổ tộc người cũng dần được mở
rộng, bao gồm: đất liền, biển đảo, vùng trời. Ý thức tự giác quốc gia dân tộc
của công dân mạnh mẽ, vượt trội ý thức địa phương tộc người.
Dân tộc hình thành bằng hai con đường: là kết quả phát triển từ một bộ
tộc hoặc là kết quả thống nhất các bộ tộc tạo thành các quốc gia. Cố nhiên,
không phải bất cứ quốc gia nào trên thế giới hiện nay cũng đạt đến trình độ
dân tộc. Có các quốc gia là cộng đồng dân tộc nhưng nhiều quốc gia lại bao
gồm các bộ tộc, bộ lạc. Tình trạng này phổ biến ở các quốc gia châu Phi hiện
nay. Mặt khác, có cộng đồng dân tộc còn những nhóm cư dân thiểu số mang
dấu ấn thời kỳ tiền dân tộc. Phần lớn các quốc gia trên thế giới đang diễn ra
quá trình cố kết, hòa hợp giữa các tộc người mặc dù giống hay khác nhau về
lịch sử, ngôn ngữ, nhân chủng nhưng cùng chung lãnh thổ và vận mệnh, lợi
ích quốc gia để đi đến thống nhất tạo thành cộng đồng dân tộc. Việt Nam là
một quốc gia đa thành phần dân tộc. Trong 54 dân tộc, có tới 53 dân tộc thiểu
số. Các thành phần dân tộc thiểu số có sô dân gần 11 triệu người, chiếm hơn
13% dân số cả nước. Các dân tộc sống đoàn kết, thân ái, tương trợ với nhau,
tạo nên sức mạnh đại đoàn kết và bản sắc đa dạng và phong phú về văn hoá




3
Thực hiện chính sách đối với vùng dân tộc, miền núi của Đảng và Nhà
nước ta trong thời gian vừa qua thực chất là xác lập quyền dân tộc cơ bản tạo
nên những quan hệ công bằng, bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng nhau giữa các
dân tộc trong quốc gia dân tộc và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trong
quan hệ quốc tế diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội nhằm thực hiện
thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Do vậy Điều 5, Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu rõ: “Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước thống nhất của các dân tộc
cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình
đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị,
chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc
dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt
đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển mọi mặt, từng bước
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số”. Đồng
thời Chính phủ Việt nam đã có nhiều chính sách, cơ chế và các biện pháp để
đảm bảo đời sống, các quyền của các nhóm người thiểu số. Với sự quan tâm,
chính sách, biện pháp ưu tiên nêu trên của Nhà nước, cùng với tinh thần nỗ
lực, cố gắng của đồng bào các dân tộc, tình hình kinh tế - xã hội, vùng đồng
bào dân tộc đã có bước chuyển biến, tiến bộ đáng kể, cuộc sống của đồng bảo
dân tộc thiểu số được cải thiện rõ rệt, quyền của các dân tộc thiểu số ngày
càng được đảm bảo.
Thực hiện chính sách đối với vùng dân tộc, miền núi của Đảng và Nhà
nước ta trong giai đoạn hiện nay phải quán triệt những quan điểm cơ bản
của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc. Ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc và định hướng chiến lược về
chính sách dân tộc ở Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các
dân tộc. Có thể khẳng định chính sách dân tộc của Đảng ta luôn được quán triệt
và triển khai thực hiện nhất quán trong mọi thời kỳ. Tuy nhiên, trong mỗi giai

chính trị, văn hóa, xã hội. Bình đẳng còn thể hiện trong quyền phát triển, được
đảm bảo và tạo mọi điều kiện để các dân tộc thực hiện và có cơ hội phát triển
Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb Chính tri quốc gia. H. 2000, tập 10, tr.323
Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb Chính tri quốc gia. H. 2000, tập 10, tr.282
3 Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb Chính tri quốc gia. H. 2000, tập 11, tr.136
1
2


5
bình đẳng với các dân tộc khác. Để thực hiện bình đẳng dân tộc thì phải làm
giảm, tiến tới từng bước xóa bỏ khoảng cách giữa các dân tộc do các điều
kiện lịch sử quy định trên thực tế mang lại ấm no hạnh phúc của nhân dân.
Phát triển nguyên tắc đoàn kết giai cấp công nhân tất cả các dân tộc
của Lênin, trên nền tảng truyền thống Việt Nam, Đảng ta coi đoàn kết dân tộc
có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển đất nước. Hồ Chí Minh đã nói:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công’’ 4.
Đảng đã khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược
lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta”5.
Các dân tộc đều là những thành viên, hợp thành của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam. Không phân biệt dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số. Sức mạnh
của dân tộc Việt Nam là sức mạnh đoàn kết. Đoàn kết các dân tộc trong đấu
tranh chống ngoại xâm; chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt; xây dựng và
bảo vệ CNXH; hội nhập, hợp tác quốc tế.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đoàn kết các dân tộc đã
tạo nên sức mạnh to lớn để giành lại nền độc lập dân tộc, tự do cho Tổ quốc.
Trong công cuộc đổi mới, đoàn kết các dân tộc nhằm hướng tới mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, các dân tộc ở nước ta được làm chủ vận mệnh của mình trong khối đại
đoàn kết toàn dân tộc. Đó chính là cơ sở để chúng ta thực hiện thắng lợi

kết. Các nguyên tắc cơ bản trên có mối quan hệ biện chứng, có tác động, quan
hệ chặt chẽ với nhau, được xác định và triển khai đồng bộ trong quá trình xây
dựng và triển khai thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta. Thực trạng vấn đề
đoàn kết các dân tộc tthời gian qua vẫn còn nhiều bất cập như Đảng ta khẳng
định: “sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ, có lúc,
có nơi chưa phát huy được vai trò, sức mạnh của nhân dân. Chưa đánh giá và
dự báo chính xác những diễn biến, thay đổi cơ cấu xã hội, tâm tư, nguyện
vọng của các tầng lớp nhân dân để có chủ trương phù hợp. Chủ trương, quan
điểm của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về quyền và lợi ích hợp pháp của
các giai cấp, tầng lớp nhân dân chưa được kịp thời thể chế hóa, hoặc đã thể
chế hóa nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc”.7
Thực hiện chính sách đối với vùng dân tộc, miền núi của Đảng và Nhà
nước ta trong giai đoạn hiện nay chỉ có thể được thực hiện gắn liền với sự
7

Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XII, Nxb CTQG, H , 2016, tr.157


7
nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, giải phóng giai cấp, giải phóng con
người. Hồ Chí Minh khẳng định: muốn cứu nước giải phóng dân tộc phải đi
theo con đường cách mạng vô sản - theo hình mẫu cách mạng Tháng Mười
Nga năm 1917. Trong Cương lĩnh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ
Chí Minh chỉ rõ: nước ta, sau khi làm cách mạng tư sản dân quyền và cách
mạng thổ địa sẽ tiến hành đi lên chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện được sự
nghiệp cách mạng vẻ vang đó, Người chủ trương giáo dục nâng cao ý thức
dân tộc, xóa bỏ hiềm khích giữa các dân tộc, xây dựng khối đoàn kết dân tộc
để “lấy sức ta giải phóng cho ta”. Chính sách dân tộc phải phát huy được khả
năng vươn lên của các dân tộc, phù hợp đặc thù từng dân tộc, từng vùng miền.
Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa, phong tục tập quán riêng, bởi vậy, chính

giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung”.
Đến Đại hội lần thứ hai của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2/1951)
đã quyết nghị: “Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều được bình đẳng
về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc.
Kiên quyết chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đánh đổ âm mưu gây hằn thù
chia rẽ các dân tộc của đế quốc và lũ tay sai. Cải thiện đời sống cho các dân
tộc thiểu số, giúp đỡ họ tiến bộ về mọi mặt, đảm bảo họ tham gia chính quyền
và dùng tiếng mẹ đẻ trong giáo dục ở các địa phương thiểu số”. Hiến pháp
năm 1959: “Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một nước thống nhất gồm
nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về
quyền lợi và nghĩa vụ. Nhà nước có nhiệm vu gìn giữ và phát triển sự đoàn
kết giữa các dân tộc. Mọi hành vi khinh miệt, áp bức, chia rẽ dân tộc đều bị
nghiêm cấm.”
Báo cáo chinh trị Đại hội đảng toàn quốc lần thứ ba (tháng 9/1960) nêu
rõ: “Vấn đề xây dựng kinh tế miền núi là một bộ phận khăng khít của chính
sách dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn mới của cách mạng. Nó đảm bảo cho
miền núi dần dần tiến kịp miền xuôi, cho các dân tộc thiểu số tiến kịp dân tộc
Kinh, thực hiện đầy đủ sự bình đẳng và tăng cường đoàn kết giữa các dân
tộc.” Đặc biệt, Nghị quyết số 22 (Khoá VI) ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị
về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi,
nhấn mạnh: “Phát triển kinh tế - xã hội miền núi là một bộ phận hữu cơ của
chiến lược phát triển kinh tế quốc dân, là sự nghiệp chung của nhân dân cả
nước… Phát triển miền núi toàn diện cả về kinh tế, xã hội, văn hoá, quốc
phòng, an ninh trong đó trọng tâm là phát triển kinh tế- xã hội gắn với thực


9
hiện chính sách dân tộc của Đảng.” Hiến pháp năm 1992: “Nước CHXHCN
Việt nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước
Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa

quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia
rẽ dân tộc. Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh,
quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi gắn với tăng trưởng kinh
tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm
phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu
số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân
tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam
thống nhất.”
Ngoài ra, Nghị quyết Đại hội lần thứ X, XI của Đảng tiếp tục khẳng
định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự
nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt nam đoàn kết,
bình đẳng, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau thực hiện thắng
lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo về tổ
quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất
và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân
tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở miền núi, vùng sâu,
vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh,
định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân
cư, gắn với phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh quốc phòng. Củng cố và
nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu
số; động viên, phát huy vai trò những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực
hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân
tộc thiểu số - cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần
gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác
dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc.”
Và cuối cùng sự nhất quán trong hệ thống quan điểm đường lối, chủ
trương chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế- xã hội về dân



10

Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XII, Nxb CTQG, H , 2016, tr.164


12
sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo. Chương trình phát triển
kinh tế- xã hội các xã đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi Chương trình 135 giai đoạn 1 (1998-2005) và giai đoạn 2 (2006-2010). Quy
mô 50 tỉnh, 354 huyện, 1.946 xã khu vực 3 và 3.274 thôn, bản đặc biệt khó
khăn của xã khu vực 2. Mục tiêu tổng quát của CT 135 là: tạo sự chuyển biến
nhanh về sản xuất, thúc đâỷ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hướng sản xuất gắn với thị trường; cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần cho đồng bào dân tộc ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn một cách bền
vững, giảm khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong cả
nước; phấn đấu đến năm 2010, cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo
xuống dưới 30%, trên 70% số hộ đạt mức thu nhập bình quân đầu người trên
3,5, triệu đồng/năm… Chương trình hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất và nước
sinh hoạt cho hộ nghèo (các Quyết định 134, 167, 74). Chương trình giảm
nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện nghèo nhất nước (Nghị quyết 30a).
Các chính sách phát triển kinh tế theo vùng: Quyết định 168 - phát triển kinh
tế - xã hội các tỉnh khu vực Tây Nguyên; Quyết định 173 - phát triển kinh tế xã hội các tỉnh khu vực đồng bằng Sông Cửu Long; Quyết định 186 - phát
triển kinh tế - xã hội các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc…
Ngoài ra còn một loạt các hệ thống các chính sách, chương trình dự án
ưu đãi cho từng lĩnh vực, ngành như: chính sách trợ giá, trợ cước vận chuyển
các mặt hàng, vật tư thiết yếu. Chính sách cấp không thu tiền cho 20 ấn phẩm
báo, tạp chí phát hành tại vùng đặc biệt khó khăn. Chương trình phủ xanh đất
trống, đồi núi trọc và dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Chương trình nước
sạch và vệ sinh môi trường cho khu vực nông thôn, miền núi. Chương trình
dân số, kế hoạch hoá gia đình. Chương trình y tế với các mục tiêu phòng
chống các dịch bệnh nguy hiểm, khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo.

thiểu số, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực. “Các chương trình phát triển
kinh tế - xã hội của Nhà nước, đặc biệt Chương trình 135; Chương trình
134...được triển khai tích cực đã đem lại kết quả quan trọng cho vùng dân tộc
thiểu số, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao một bước đời sống của

11

ĐCSVN, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác dân tộc.


14
đồng bào. Ngày càng xuất hiện những mô hình đồng bào dân tộc thiểu số làm
kinh tế giỏi”12.
Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế trong thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới là: Nhìn chung kinh tế ở vùng
đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn còn chậm phát triển. Nhiều nơi tập quán
canh tác còn lạc hậu, lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chất lượng
sản phẩm thấp, tiêu thụ rất khó khăn. Tình trạng du canh, du cư, di dân tự do
vẫn diễn biến phức tạp. Một số hộ thiếu đất sản xuất. Kết cấu hạ tầng ở một
số vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng cũ rất thấp kém. Kinh tế lâm
nghiệp chuyển biến chậm, chính sách đối với lâm nghiệp chưa thật sự đảm
bảo cho đồng bào gắn bó với rừng. Nhiều nơi môi trường sinh thái đang tiếp
tục bị suy thoái.
Tỷ lệ đói nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao, đời sống văn
hóa còn nhiều khó khăn. Tỷ lệ hộ đói nghèo ở nhiều vùng dân tộc và miền núi
cao hơn bình quân chung của cả nước. Đến năm 2001, cả nước còn khoảng
2,8 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 17,2%. Khu vực nông thôn miền núi, chủ yếu
là đồng bào dân tộc thiểu số, có tới 2.362 xã đặc biệt khó khăn. Sự chênh lệch
về mức độ kinh tế giữa các dân tộc cũng còn khá lớn. Chất lượng, hiệu quả về
giáo dục và đào tạo còn thấp, việc đào tạo nghề chưa được quan tâm. Công

thiểu số.
Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng
dân tộc và miền núi; rà soát, điều chỉnh, bổ sung để hoàn chỉnh những chính
sách đã có và nghiên cứu ban hành những chính sách mới, để đáp ứng yêu cầu
phát triển các vùng dân tộc và nhiệm vụ công tác dân tộc trong giai đoạn mới.
Huy động nhiều nguồn lực cho đầu tư, phát triển, giúp đỡ vùng dân tộc và miền
núi. Ưu tiên đầu tư cho xóa đói, giảm nghèo, phát triển nhanh kinh tế - xã hội,
giải quyết những khó khăn bức xúc của đồng bào vùng dân tộc và miền núi ;
trước hết tập trung cho các vùng đặc biệt khó khăn. Thực hiện nghiêm chỉnh
việc công khai hóa các chính sách, chương trình, dự án, vốn đầu tư... để đồng
bào biết và tham gia quản lý, giám sát quá trình thực hiện. Đẩy mạnh ứng dụng
tiến bộ khoa học và công nghệ ở vùng dân tộc và miền núi.
Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ
là người dân tộc thiểu số cho từng vùng, từng dân tộc. Trong những năm


16
trước mắt, cần tăng cường lực lượng cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt đến
công tác ở vùng dân tộc, nhất là các địa bàn xung yếu về chính trị, an ninh,
quốc phòng; coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo thanh niên sau khi hoàn thành
nghĩa vụ quân sự làm nguồn cán bộ bổ sung cho cơ sở; nghiên cứu sửa đổi
tiêu chuẩn tuyển dụng, bổ nhiệm và các cơ chế, chính sách đãi ngộ cán bộ
công tác ở vùng dân tộc và miền núi, nhất là những cán bộ công tác lâu năm ở
miền núi, vùng cao.
Kiện toàn và chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức cơ quan làm công tác
dân tộc từ Trung ương đến địa phương. Tăng cường số lượng và chất lượng
đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc để làm tốt công tác tham mưu cho cấp
ủy, chính quyền địa phương trong việc thực hiện chính sách dân tộc. Một số
bộ, ngành cần tổ chức bộ phận và có cán bộ chuyên trách làm công tác dân
tộc.

Trong bối cảnh đó, quân đội ta tích cực thực hiện thắng lợi quan điểm, chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta càng có ý nghĩa chính trị to lớn, trực
tiếp củng cố thế trận quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc, đồng thời cũng
trực tiếp góp phần xây dựng miền núi vững mạnh về mọi mặt và phục vụ tích
cực, có hiệu quả cuộc sống của đồng bào các dân tộc, xứng đáng với niềm tin
yêu của nhân dân.
Do đó, thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là
nhiệm vụ chính trị, đồng thời là vinh dự của quân đội và của bản thân, thể
hiện bản chất, truyền thống cách mạng và tình cảm tốt đẹp của quân đội ta.
Đồng thời thực hiện tốt chính sách dân tộc là một trong những điều kiện cơ
bản để xây dựng quân đội cách mạng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện
đại; củng cố thế trận quốc phòng toàn dân; góp phần xây dựng biên cương
vững mạnh về mọi mặt. Bởi thế thực hiện tốt chính sách dân tộc vừa là trách
nhiệm vừa là vinh dự thể hiện bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta.
Do vậy, bản thân phải luôn góp sức mình làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ
quân đội quán triệt sâu sắc, quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước, nhận rõ nhiệm vụ, vinh dự trách nhiệm, từ đó có ý thức và hành động
thiết thực, chủ động, sáng tạo trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và


18
Nhà nước. Trên cương vị công tác, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu rõ và tích cực thực hiện chính sách dân
tộc của Đảng và Nhà nước; động viên đồng bào hăng hái thực hiện các nhiệm
vụ kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, quốc phòng - an ninh ở vùng dân tộc, miền
núi góp phần tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Tích cực tham gia xây
dựng miền núi, cơ sở địa phương, vùng dân tộc thiểu số tiến bộ và vững mạnh
về mọi mặt: Xây dưng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh; Giữ vững ổn
định chính trị, trật tự an toàn xã hội, an ninh biên giới. Chủ động giúp đỡ đồng
bào xây dựng kết cấu hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo, xoá mù chữ; nâng cao dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status