TIỂU LUẬN CHUYÊN NGÀNH các yếu tố tác ĐỘNG đến tư DUY và NHIỆM vụ bảo vệ tổ QUỐC TRONG GIAI đoạn HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

"Dựng nước đi đôi với giữ nước" đã trở thành truyền thống, bài học kinh
nghiệm quý báu, là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta. Trong giai đoạn
cách mạng hiện nay, quy luật đó biểu hiện tập trung trong 2 nhiệm vụ chiến lược có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Những thành tựu mà nhân dân ta đã giành được trong sự nghiệp xây dựng đất
nước luôn gắn liền với những thành tựu đạt được trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp vĩ đại của dân tộc ta, là nhiệm vụ
trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc.
Sau khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đặc
biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng phát triển và
hoàn chỉnh tư duy chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tổng kết thực tiễn cách mạng
nước ta và thế giới về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, tình hình thế giới,
khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó vừa tạo ra nhiều thuận lợi mới, đồng thời cũng gây
ra nhiều khó khăn, thách thức nghiêm trọng đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Vì vậy tư duy về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình
hình mới của Đảng được thể hiện sâu sắc, toàn diện với nhiều nội dung mới.
Việc nghiên cứu và nắm vững những yếu tố tác động đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới có ý nghĩa quan trọng trong
phát triển tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc, trở thành nhiệm vụ tiên quyết, thường
xuyên, cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.


2

Trong thời bình đó là việc chuẩn bị mọi mặt cho đất nước sẵn sàng đánh trả mọi
cuộc chiến tranh xâm lược và chống phá của các thế lực thù địch. Trong thời chiến
là đấu tranh vũ trang trực tiếp với địch…Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nghĩa
vụ đạo đức và pháp lý của công dân xã hội chủ nghĩa;
1.2. Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ tổ
quốc xã hội chủ nghĩa.
Thời kỳ C.Mác, Ph.Ăngghen, trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản tự do cạnh
tranh, các nước tư bản lớn nhất lúc này phát triển tương đối đồng đều. Giai cấp vô
sản chưa cầm quyền, chưa có tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Theo các ông, chủ nghĩa xã
hội tất yếu phải có sức mạnh bạo lực để tự bảo vệ: “… bạo lực còn là bà đỡ cho
mọi xã hội cũ đang thai nghén một xã hội mới” 1. Luận điểm của Mác và Ănghgen :
“Công nhân không có Tổ quốc. Người ta không thể cướp của họ cái mà họ không
có... Vì thế giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự
xây dựng thành một giai cấp dân tộc” 2 nêu lên nhằm mục đích làm cho giai cập vô
sản tránh khỏi sự lừa bịp của giai cấp tư sản nhân danh dân tộc để thực hiện các
cuộc chiến tranh xâm lược.
Trong tác phẩm Nội chiến ở Pháp, C.Mác, Ph.Ănghgen đã phê phán giai cấp
công nhân trong Công xã Pari 1871 ít sử dụng bạo lực cách mạng, “hớn hở mải mê
xây dựng xã hội mới, hầu như quên mất bọn ăm thịt người đang ở ngay cửa ngõ
nhà mình” đã không công đập tan mọi hành động phản kháng của giai cấp tư sản.
Đó là những tư tưởng ban đầu về bảo vệ tổ quốc.
Thời kỳ V.I. Lênin, trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, cách mạng vô sản có thể
nổ ra và thành công ở một số nước, thậm chí ở một nước tư bản có trình độ phát triển
chưa cao. V.I. Lê-nin đã xây dựng Học thuyết bảo vệ tổ quốc, làm cơ sở để lãnh đạo
công cuộc bảo vệ Nhà nước Xô-viết và chế độ xã hội chủ nghĩa trước sự tấn công
xâm lược của kẻ thù. Với tư tưởng “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa xã hội
1
2

C.Mác, Ph.Ăngghen, toàn tập, tâp 20, Nxb ST, H. 1980, tr.259

V.I. Lê-nin - Toàn tập, Tập 38, Nxb Tiến bộ, M. 1978, tr. 165-166
V.I.Lênin toàn tập, tập 37, Nxb Tiến bộ, M. 1978, tr.145.
5 V.I.Lênin toàn tập, tập 36, Nxb Tiến Bộ, M. 1977, tr.102.
3
4


5
các biện pháp xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, tổ chức tổng tuyển
cử bầu Quốc hội, thông qua hiến pháp; kiên quyết chống ''giặc ngoại xâm, giặc
đói, giặc dốt'', ra chỉ thị ''kháng chiến và kiến quốc'', đồng thời cùng Trung ương
quyết định chủ trương ''hoà để tiến''; quyết định ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946,
Tạm ước 14-9-1946 để có thời gian chuẩn bị kháng chiến, bảo vệ chính quyền.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở ý
chí, quyết tâm, sự gắn bó không tách rời giữa mục tiêu bảo vệ nền độc lập dân tộc
với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, là sự thống nhất giữa nội dung dân tộc, nội dung
giai cấp, nội dung thời đại trong bảo vệ Tổ quốc. Để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây
dựng lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa, vận dụng tổng hợp các phương thức vũ trang, phi vũ trang,
đồng thời chuẩn bị đất nước sẵn sàng về mọi mặt, khi cần thiết kiên quyết tiến hành
chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
1.3. Những yếu tố tác động đến công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa trong tình hình mới
* Tình hình thế giới, khu vực có những thay đổi lớn tác động sâu sắc đến sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc
Trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, quá trình toàn
cầu hóa, kinh tế tri thức diễn ra mạnh mẽ, sâu sắc, tác động đến mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội, đến nhiều quốc gia, dân tộc, trong đó có bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa. Tình hình thế giới, khu vực nổi lên nhiều vấn đề cần quan tâm:

Thứ ba, Mỹ chuyển sang châu Á - Thái Bình Dương; với vai trò đầu tàu dẫn
dắt nền kinh tế toàn cầu phát triển hiện nay, khu vực châu Á-Thái Bình Dương bao
gồm cả 3 nền kinh tế lớn nhất thế giới (Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản), hai quốc gia
mới nổi tiềm năng nhất (Trung Quốc và Ấn Độ), bốn “con rồng nhỏ” (Hồng Kông,
Singapo, Hàn Quốc và Đài Loan) đã trỗi dậy từ thế kỷ trước cùng hai quốc gia
“tiềm năng mới nổi” (Inđônêxia và Việt Nam)… Cùng với đó, châu Á-Thái Bình


7
Dương cũng là khu vực có cục diện biến đổi nhanh nhất, so sánh lực lượng kinh tế,
chính trị và quân sự phức tạp nhất, quan hệ giữa các quốc gia thiếu ổn định nhất,
các “điểm nóng” và “điểm khó” nhiều nhất. Do đó, việc coi trọng hay không coi
trọng, can dự hay không can dự vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ quyết
định vận mệnh của mỗi quốc gia trong thế kỷ 21. Từ trước đến nay, Mỹ chưa từng
rời khỏi khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Việc điều chuyển mạnh mẽ lần này chỉ
là bước tăng cường tiếp theo của Oasinhtơn. Mỹ chuyển đến châu Á-Thái Bình
Dương trong điều kiện đang thu hẹp chiến lược toàn cầu, điều này khác biệt rất lớn
so với sự dịch chuyển từ Đông sang Tây trong bối cảnh mở rộng chiến lược toàn
cầu thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh trước đây.
Mỹ chuyển sang Châu Á – Thái Bình Dương với mục đích: Một mặt, Mỹ
muốn kìm hãm, chặn đà phát triển của Trung Quốc; bằng cách đó, Mỹ buộc Trung
Quốc phải chạy đua vũ trang và như thế Trung Quốc sẽ rơi vào vòng xoáy của Mỹ,
hệ quả của nó là kinh tế không thể tăng trưởng. Mặt khác, Mỹ muốn xác lập quyền
thống trị của mình ở châu Á - Thái Bình Dương. Vì vậy, Mỹ ra sức cũng cố liên
minh Mỹ - Hàn Quốc; Mỹ - Nhật Bản, Mỹ - Úc, Mỹ - ASEAN.
Thứ tư, khối ASEAN bị các nước lớn lôi kéo, có sự phân hóa sâu sắc bắt
nguồn từ lợi ích giữa các nước có quyền lợi liên quan. Các nước lớn lôi kéo các
thành viên ASEAN ngày càng mạnh mẽ. Lần đầu tiên ASEAN không ra được nghị
quyết chung do Campuchia chủ trì bởi can thiệp của một số nước lớn.
Kết thúc các hoạt động của bộ trưởng ngoại giao các nước ASEAN trong

Đông của Trung Quốc chưa hề thay đổi mà ngược lại, ngày càng gia tăng.
Kinh tế Mỹ tuy có giảm sút, song Mỹ vẫn là cường quốc số 1, ảnh hưởng lớn
đến thế giới. Trong thực tế thì Mỹ vẫn sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” để
chống ta phá ta quyết liệt.
Cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ quyết liệt hơn; quan hệ giữa khu vực
ASEAN và các nước khác cũng sẽ phức tạp hơn. Có thể xuất hiện thêm các lợi ích
khác biệt giữa ta, Lào và Campuchia, lợi dụng quan hệ với các nước lớn gây sức ép


9
đối với ta. Lần đầu tiên, ASEAN không ra được nghị quyết khi Cămpuchia làm chủ
tịch luân phiên ASEAN. Mỹ dùng mọi biện pháp để lôi kéo Thái Lan, Mianma,
Singapo đứng về phía họ. Điều này tác động đến đoàn kết các nước trong ASEAN,
gây ảnh hưởng đến an ninh của Việt Nam. Các hoạt động chống phá ta về dân chủ,
nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... bằng các phương tiện thông tin hiện đại ngày càng
tăng. Tất cả điều đó liên quan trực tiếp đến vấn đề bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Các đặc điểm trên đây tác động không nhỏ đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ta
hiện nay; cần phải nhận diện sâu sắc tình hình ấy để có đối sách phù hợp, vừa bảo
vệ được thành quả cách mạng, vừa phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững;
thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
* Âm mưu, thủ đoạn chống phá mới của các thế lực thù địch
Âm mưu cơ bản xuyên suốt của các thế lực đối với cách mạng nước ta không
hề thay đổi: xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm sụp đổ chế
độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.
Thế nhưng, để biến âm mưu ấy trở thành hiện thực, các thế lực thù địch đang ra sức
thực hiện việc kết hợp “Diễn biến hoà bình” với hậu thuẫn và sự tăng cường liên
kết với các lực lượng phản động, chống đối chính trị trong và ngoài nước, triển
khai, thực hiện nhiều kế hoạch, hoạt động chống phá, thúc đẩy Việt Nam cải cách
theo hướng dân chủ hoá về chính trị, tự do hoá về kinh tế, khôi phục vai trò của Mỹ
ở Việt Nam và Đông Dương; lôi kéo Việt Nam vào chiến lược kiềm chế, ngăn chặn

chủ nghĩa.
Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đã giành được, chúng ta vẫn còn nhiều
hạn chế, yếu kém, bất cập: Kinh tế phát triển chưa bền vững: chất lượng tăng
trưởng, hiệu quả đầu tư, năng suất lao động và sức cạnh tranh thấp; các cân đối vĩ
mô chưa vững chắc; các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếu kém chậm
được khắc phục; nhất là về giáo dục-đào tạo, y tế, đạo đức, lối sống trong một bộ


11
phận xã hội xuống thấp; môi trường nhiều nơi bị ô nhiễm nặng, tài nguyên đất đai
chưa được quản lý tốt; thể chế kinh tế thị trường; chất lượng nguồn nhân lực, kết
cấu hạ tầng vẫn là những “điểm nghẽn” của nền kinh tế, cản trở sự phát triển; tiềm
ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia.
Tất cả những hạn chế ấy không chỉ ảnh hưởng đến nhiệm vụ xây dựng và phát triển
đất nước, mà còn gây nên những khó khăn trong thực thi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Tình hình tranh chấp biển Đông ngày càng phức tạp: Trung Quốc hai lần cắt
cáp tàu Bình Minh 2, gây áp lực đối với tập đoàn dầu khí của Vương quốc Anh, khi
họ hợp tác với ta thăm dò dầu khí ở biển Đông, thấy không thuận lợi, tập đoàn dầu
khí của Vương quốc Anh đã bỏ đi. Ta mời Nga vào thay thế, hợp tác thăm dò, khai
thác 9 lô trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trung Quốc và một số nước
khác có lợi ích ở biển Đông tiếp tục gây khó khăn, tăng áp lực đối với nước ta, đặc
biệt là xua đuổi ngư dân ta đánh bắt cá ngoài khơi xa... Mới đây là sự kiện Trung
Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 thăm dò khai thác dầu khí trong vùng biển
Việt Nam xâm phạm chủ quyền Việt Nam …
Bốn nguy cơ mà các kỳ Đại hội Đảng nêu ra chưa giảm, chưa được khắc phục
mà ngược lại, có xu hướng tăng. Trong đó, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế nhìn
thấy rất rõ. Thái Lan GDP đạt trên 300 tỷ USD, Việt Nam kinh tế có tăng trưởng,
sự tăng GDP rất chậm đạt trên dưới 150 - 160 tỷ USD. Các nguy cơ tham nhũng,
quan liêu, diễn biến hòa bình,...vẫn rất nghiêm trọng.
Việc nắm bắt tình hình chính trị an ninh chưa chắc, còn bị động, bất ngờ. Các

và lãnh đạo (1986) là bước đột phá tư duy toàn diện của Đảng trên các lĩnh vưc.
Thực tiễn tiến hành đổi mới đất nước trong những năm đầu cũng đặt ra nhiều khó
khăn thách thức. Tại đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ VIII đã xác định: Nhiệm
vụ quốc phòng, an ninh trong những năm tới là: phát huy sức mạnh tổng hợp của
toàn dân, của cả hệ thống chính trị, từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng, an
ninh của đất nước, xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc
phòng toàn dân gắn với nền an ninh toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, nâng
cao chất lượng các lực lượng vũ trang, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và


13
toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa; ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động gây mất ổn
định chính trị xã hội, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, gây tổn hại
cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; ngăn chặn có hiệu quả và nghiêm
trị mọi loại tội phạm, bảo đảm tốt trật tự, an toàn xã hội.
Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kết
hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế. Gắn chặt nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ
an ninh, hai mặt có mối quan hệ khăng khít trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ
chế độ trong tình hình mới. Phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng an ninh với
hoạt động đối ngoại.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ Tổ quốc; thể chế hóa các chủ trương,
chính sách của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.
Thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
quân đội và công an, đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh. Tăng cường
quản lý nhà nước về quốc phòng và an ninh.
Trên cơ sở đánh giá tình hình thế giới, khu vực và trong nước; từ thực tiễn
20 năm đổi mới, Đảng ta đã hình thành rõ nét hơn tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa trong tình hình mới ngày càng sâu sắc, toàn diện hơn trên nhiều vấn
đề, Nghị quyết trung ương 8 khóa IX của Đảng về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc

quốc phòng, an ninh, đối ngoại với kinh tế - tức là chúng ta nhận thức toàn diện,
sâu sắc, biện chứng hơn mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối
cảnh mới. Đó là một thành quả mới về lý luận bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta.
Về các quan điểm, Hội nghị nêu lên 6 quan điểm chỉ đạo, đó là: giữ vững vai
trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ
quốc; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội; kết hợp chặt chẽ
hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; xây
6

Xem Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI, NXB CTQG, H. 2001, tr.108 - 109


15
dựng sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hoá, quốc
phòng, an ninh, đối ngoại và phát huy sức mạnh của khối Đại đoàn kết toàn dân tộc;
ra sức phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa và khai thác mọi thuận lợi ở bên
ngoài; chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện và triệt tiêu những nhân tố bên trong có
thể dẫn đến những đột biến bất lợi.
Hội nghị xác định ba phương châm cần phải nắm vững trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc:
- Kiên định các nguyên tắc chiến lược, đi đôi với sự vận dụng linh hoạt sách
lược, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế, cô
lập, phân hoá các phần tử chống đối.
- Đối với nội bộ, lấy việc phát huy dân chủ, giáo dục, thuyết phục, phòng ngừa
là chính, đi đôi với giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, xử lý nghiêm minh các sai phạm. Đối
với các thế lực chống đối ở trong nước, cần phân hoá, cô lập và xử lý nghiêm minh.
- Thường xuyên đi sát cơ sở, nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời mọi mầm
mống gây mất an ninh, không để bị động, bất ngờ.
Để đạt được mục tiêu của Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới,
Nghị quyết nhấn mạnh cần phải thực hiện tốt 6 nhiệm vụ cơ bản:

hội chủ nghĩa trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế; khắc phục những
phiến diện trong tư duy chỉ nhấn mạnh đến bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ; làm rõ hơn mối quan hệ thống nhất, chặt chẽ, biện chứng giữa các
nội dung trong mục tiêu.
Về quan điểm chỉ đạo, Đảng ta đã nhấn mạnh thêm cần phải xây dựng sức
mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh,
đối ngoại; chỉ rõ tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh không ngừng xây dựng
thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân phù hợp với hoàn
cảnh mới.


17
Phương thức bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển mới: Đảng ta đã nhận thức
đúng và sử dụng tổng hợp các phương thức đấu tranh vũ trang và phi vũ trang, kết
hợp chặt chẽ các phương thức đấu tranh ấy; làm phong phú các hình thức đấu tranh
phi vũ trang; kết hợp bảo vệ với xây dựng, lấy xây dựng để bảo vệ. “bảo vệ Tổ quốc
từ xa”. Từ Đại hội X đến nay, phương thức đấu tranh phi vũ trang ngày càng giữ vị
trí quan trọng. Đảng ta khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ đấu tranh vũ trang và phi vũ
trang, kết hợp bảo vệ với xây dựng, lấy xây dựng để bảo vệ”7.
Đảng ta đã coi xây dựng cũng là phương thức hữu hiệu để bảo vệ; bảo vệ trong
xây dựng, xây dựng trong bảo vệ; bảo vệ là một bộ phận hợp thành của xây dựng,
xây dựng cũng là một bộ phận hợp thành của bảo vệ. Đây là một nhận thức rất quan
trọng của Đảng trong bối cảnh mới, làm tăng khả năng phát huy nội lực đất nước
trong bảo vệ Tổ quốc, cũng như trong xây dựng đất nước; làm sâu sắc thêm tính chất
toàn dân, toàn diện của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Về lực lượng và sức mạnh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng ta coi bảo
vệ Tổ quốc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của toàn bộ hệ thống chính trị dưới
sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của cả nước ; đại đoàn kết
toàn dân tộc là động lực chủ yếu. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp

mốc trên biên giới Lào và đạt gần 80% cắm mốc với Campuchia. Đối với
Campuchia, cơ bản việc cắm mốc đã xong, tuy nhiên, một số nơi, công việc này còn
có sự tranh chấp, diễn biến phức tạp, cần tiếp tục đàm phán để đi đến thống nhất.
Trên cơ sở đánh giá, tổng kết 10 năm thực hiện nghị quyết trung ương 8 khóa
IX, Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về Chiến
lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nghị quyết thể hiện sâu sắc sự phát triển tư
duy nhận thức lý luận của Đảng về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nghị
quyết Trung ương 8 khóa XI đã khái quát 5 bài học kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất, quán triệt và thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết
định thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Thứ hai, kết hợp chặt chẽ sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại;
trong đó sức mạnh của đất nước, sức mạnh của toàn dân đóng vai trò quyết định,
“dân là gốc nước; sự nghiệp cách mạng là của quần chúng nhân dân”, còn yếu tố
quốc tế có vai trò quan trọng. (Bởi vì, thời nay, đem quân đi xâm lược nước khác có


19
độc lập, chủ quyền là điều rất khó; bị thế giới phản đối găy gắt; nó thuộc về vấn đề
nhân quyền).
Thứ ba, luôn nắm chắc thực tiễn thế giới, khu vực, đất nước; nắm rõ kẻ thù,
đối tượng để có đối sách, kế sách bảo vệ Tổ quốc cho phù hợp; phải mềm dẻo, linh
hoạt, uyển chuyển phương pháp đấu tranh trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, kiên định
mục tiêu. Ta kiên định mục tiêu, nguyên tắc, song hết sức linh hoạt, mềm dẻo trong
sách lược. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu bất biến, còn cái khả biến
là sự ứng xử mềm dẻo, linh hoạt trong từng tình huống cụ thể.
Thứ tư, xây dựng và phát triển bền vững nền quốc phòng toàn dân gắn với xây
dựng, củng cố thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân; trong đó lực lượng nòng
cốt là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.
Thứ năm, coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, bổ sung, khái quát lý luận mới
về bảo vệ Tổ quốc.

Bác về sự kiềm chế, biết “nhân nhượng” để chuẩn bị tiềm lực bảo vệ Tổ quốc.
Về quan điểm chỉ đạo:
Thứ nhất, nhận thức và giải quyết tốt vấn đề đối tác và đối tượng. Trung ương
đặc biệt nhấn mạnh: những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền của ta là đối tác. Những
ai chống phá ta đều là đối tượng đấu tranh. Trung ương chỉ rõ: Cần có cách nhìn
biện chứng trong xử lý các tình huống. Bởi vì, trong đối tác có mặt là đối tượng;
trong đối tượng có mặt là đối tác. Trung ương nhấn mạnh tính mềm dẻo linh hoạt,
thực hiện đúng lời dạy của Bác: “cái gì có lợi cho dân thì làm, cái gì có hại cho dân
thì tránh”.
Thứ hai, nhân tố bên trong là quyết định, nhân tố bên ngoài là quan trọng; để
giữ vững hòa bình, cần cảnh giác cao, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch, bảo
vệ Tổ quốc từ xa, từ trong khi đất nước chưa lâm nguy, trong thời bình. Bởi vì, có
giữ vững môi trường hòa bình thì chúng ta mới phát triển kinh tế, xây dựng đất nước
thuận lợi. Đó cũng là phương cách sẵn sàng đánh bại sự xâm lăng của địch trong mọi
tình huống.


21
Về phương châm chỉ đạo: Nguyên tắc là phải giữ vững hòa bình, khi có bất
trắc xảy ra thì cương quyết xử lý hiệu quả; song sách lược là mềm dẻo, linh hoạt,
uyển chuyển; không để lây lan, kết hợp giáo dục với nghiêm khắc xử lý đối tượng
chủ mưu.
Trung ương chỉ rõ các nhiệm vu, giải pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch vững mạnh toàn diện, khôi
phục lại niềm tin của nhân dân. Đây là nhân tố quyết định và việc làm đầu tiên, cần
ưu tiên hàng đầu. Để giải pháp này đi vào đời sống cần làm tốt nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội; gắn phát triển kinh tế - xã hội với với quốc phòng – an ninh – đối
ngoại; xây dựng văn hóa xã hội lành mạnh; quốc phòng – an ninh vững chắc; đối
ngoại hiệu quả.
Trong đó, nổi lên 6 biện pháp cụ thể cần làm (5 điểm bên trong và 1 điểm bên

Nam. Vì vậy, trong hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, phải đặt mối quan
hệ Trung - Mỹ với việc giải quyết nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Mặt khác, chú ý mối quan hệ Mỹ - Trung - Nga. Trong các đối tác chiến lược
của ta, Nga cũng có tầm quan trọng vì Nga có quan hệ lịch sử truyền thống và giúp
đỡ Việt Nam nhiều mặt, nhất là việc đào tạo cán bộ chiến lược, chiến dịch cho ta.
Tuy nhiên, vẫn có mặt nghịch, gây khó khăn, tạo ra những bất lợi mới cho ta, đặc
biệt là việc giải quyết lợi ích trên biển Đông.
Trung Quốc là nước lớn, láng giềng, đối tác chiến lược, song Trung Quốc có
nhiều mâu thuẫn với ta về lợi ích, nhất là lợi ích trên biển Đông. Vì vậy, mọi động
thái liên quan đến Trung Quốc, từ kinh tế, chính trị, quân sự đến ngoại giao, chúng ta
phải giải quyết hài hòa, phù hợp với tình hình thực tế. Nhìn lại lịch sử của 14 cuộc
chiến tranh ngoại bang xâm lược nước ta thì có 12/14 cuộc chiến tranh Việt Nam
chống các triều đại phong kiến Trung Quốc. Tuy nhiên, sau các lần chiến tranh, mặc
dù chúng ta giành thắng lợi nhưng ông cha ta vẫn giữ hòa hiếu, tôn trọng Trung
Quốc. để yên ổn làm ăn, phát triển kinh tế - xã hội. Chúng ta nên học tập kinh
nghiệm quý báu đó.


23
Trong chiến thắng thì thượng sách là giữ vững hòa bình, bất đắc dĩ mới phải
dùng đến chiến tranh. Quan điểm của Đảng ta là “khép lại quá khứ, nhìn về tương
lai”, coi họ là bạn, là đối tác và đẩy mạnh hợp tác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ
quyền, hai bên cùng có lợi đó là vấn đề có tính nguyên tắc.
Thứ hai, Mỹ là nước lớn, đối tác toàn diện. Bản chất của mọi mối quan hệ
chính trị là kinh tế. Kinh tế quyết định chính trị. Mỹ là cường quốc số 1 về khoa học
công nghệ. Vì vậy, quan điểm ta phải cứng rắn, giữ vững nguyên tắc nhưng cần mềm
dẻo, linh hoạt.
Thứ ba, đối với các nước ASEAN: cần phát huy vai trò của Việt Nam trong
khối ASEAN, coi trọng mối quan hệ Việt Nam - Lào Cămpuchia, vì đó là yếu tố
truyền thống, lịch sử, liên quan trực tiếp đến Việt Nam.


25
4. Cách mạng trong quân sự và những vấn đề đặt ra đối với quốc phòng Việt
Nam, Nxb CTQG, H.2010
6. Chỉ thị số 34-CT/TW, Chỉ thị của Ban Bí thư về tăng cường cuộc đấu tranh
chống âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực, tư tưởng văn hóa….
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đạo biểu toàn quốc của Đảng
lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2001.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đạo biểu toàn quốc của Đảng
lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2006
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đạo biểu toàn quốc của Đảng
lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011
10. V.I.Lênin toàn tập, tập 36, Nxb TB, M.1976.
11. Mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Nxb
Chính trị Quốc gia, H.2010.
12. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
IX về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nxb Chính trị Quốc gia,
H.2003.
13. Viện khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Bảo vệ Tổ quốc trong tình
hình mới - Một số vấn đề lý luận, Nxb QĐND, H.2003.
14. Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X về
công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, Ngày 13-7-2007.
15. Viện khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Nxb QĐND, H.2007
16. Viện khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Một số vấn đề về chiến tranh nhân
dân bảo vệ Tổ quốc XHCN trong điều kiện mới. Nxb QĐND, H.2002.
17. Võ Nguyên Giáp, Bài giảng về Đường lối quân sự của Đảng, Nxb Viện Khoa
học quân sự, H.1974.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status