TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------------------------
BÀI TIỂU LUẬN
BỘ MÔN: MARKETING
Đề tài:
Các nguyên nhân tác động tới sự quay trở lại của khách du lịch quốc
tế đến Việt Nam
Lớp tín chỉ: MKT301(2-1516).2_LT
Giáo viên hướng dẫn: Cô Trần Hải Ly
Nhóm 2:
Đỗ Trần Đông
1411110107
Ngô Duy Dương
1411110130
Trịnh Thị Thùy
1411110127
Dương
Hoàng Thùy Dương
1411110125
lịch thế giới, hiện Việt Nam đang là một trong số những quốc gia có tốc độ tăng
trưởng du lịch cao nhất trên khu vực và thế giới, ước tính số lượng khách du
lịch gia tăng khoảng 17% hàng năm. Điều này đã giúp phát triển các ngành
nghề địa phương và tạo ra được nhiều công ăn việc làm cho người lao động.
Nước ta có tiềm năng lớn về nhiều mặt để phát triển du lịch: điều kiện thiên
nhiên phong phú, nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, truyền thống văn hoá lâu
đời với nhiều lễ hội độc đáo, nhiều di tích lịch sử, tôn giáo, kiến trúc nghệ thuật
đặc sắc, giàu bản sắc dân tộc... Trong những năm gần đây, ngành du lịch đã có
những đổi mới, từng bước phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo điều kiện bước
đầu thu hút khách nước ngoài và kiều bào về thăm Tổ quốc, giới thiệu đất nước,
con người và tinh hoa của dân tộc Việt Nam với bạn bè quốc tế.
Song, bên cạnh những con số tăng trưởng hàng năm về doanh thu ngành
du lịch, về số lượt khách đến thăm, ngành du lịch còn vấp phải không ít những
tồn tại hạn chế mà đáng phải kể đến là thực trạng du khách quốc tế không muốn
quay trở lại Việt Nam. Theo những con số thống kê năm 2012, có tới 80 đến
85% du khách khi được hỏi thì không muốn quay trở lại Việt Nam. Vậy đâu se
là một lời giải thích hợp lí cho con số ấy ?
Xuất phát từ những trăn trở ấy, các thành viên nhóm 2 quyết định nghiên
cứu đề tài: “Các nguyên nhân tác động tới sự quay trở lại của khách du lịch
quốc tế đến Việt Nam.”. Tiểu luận được nhóm thực hiện với hai mục đích
chính. Thứ nhất, chỉ rõ những nguyên nhân gây ra tình trạng du khách quốc tế
‘một đi không trở lại’ trên cả mức độ vĩ mô và vi mô. Sau đó, dựa trên khả năng
và hiểu biết của mình, nhóm se xây dựng một số giải pháp để cải thiện thực
trạng trên cho du lịch Việt Nam.
Do hạn chế về thời gian và kiến thức, bài tiểu luận của nhóm không tránh
khỏi những sự thiếu sót nhưng trên hết đó là sự cố gắng cùng làm việc của tất cả
thành viên. Chúng em rất mong nhận được những lời góp ý từ giảng viên hướng
dẫn cô Trần Hải Ly để hoàn thiện thêm tiểu luận cũng như tốt hơn ở những lần
sau. Chúng em xin chân thành cảm ơn cô đã giúp đỡ, gợi mở đề tài để chúng em
hoàn thành bài tiểu luận này.
5
Với tiềm năng du lịch Việt Nam rất lớn, Việt Nam đang trở thành một trong
những điểm du lịch hấp dẫn nhất ở Đông Nam Á. Dựa trên số lượng khách quốc
tế đến và thời gian ở lại từng địa điểm du lịch, có thể liệt kê những địa điểm du
lịch Việt Nam được du khách quốc tế yêu thích nhất như: Nha Trang, Vịnh Hạ
Long, Thánh địa Mỹ Sơn, Sa Pa, Mũi Né, quần thể danh thắng Tràng An, Phong
Nha - Kẻ Bàng, Hội An, Huế, Đà Nẵng,...
Theo số liệu thống kê từ Tổng cục du lịch Việt Nam, lượng khách quốc tế đến
Việt Nam trong 5 năm gần đây:
• Năm 2011 ước đạt 6.014.032 lượt, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm 2010.
• Năm 2012 ước đạt 6.847.678 lượt, tăng 13,86% so với cùng kỳ năm
2011.
• Năm 2013 ước đạt 7.572.352 lượt, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2012.
• Năm 2014 ướt đạt 7.874.312 lượt, tăng 4,0% so với cùng kỳ năm 2013.
• Năm 2015 ước đạt 7.943.651 lượt, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2014.
Theo biểu đồ trên, giai đoạn từ giữa năm 2014 đến giữa năm 2015, lượng khách
tăng trưởng chậm lại là do du lịch Việt Nam phải đối mặt với những khó khăn
chưa từng có, gây ra tác động bất lợi kéo dài. Khách quốc tế đến Việt Nam liên
tục sụt giảm do tác động từ bối cảnh chính trị bất ổn và khó khăn về kinh tế
trong khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên, đã có những tín hiệu khởi sắc và đáng mừng trong 6 tháng cuối năm
2015, khách quốc tế đến Việt Nam đang phục hồi và tăng trưởng về chất, liên
tục tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2014. Từ tháng 7, 8, 9 đã tăng trưởng trở
lại, tăng lần lượt 5,1%, 7,5% và 8,3% so với cùng kỳ năm 2014, kết thúc 13
tháng sụt giảm liên tục tính từ giữa năm trước. Tính đến tháng 1/2016, lượng
khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt 805.072 lượt, tăng 5,8% so với tháng
NGUYÊN NHÂN TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ QUAY TRỞ LẠI
CỦA
KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN VIỆT NAM
1. Nguyên nhân vĩ mô
1.1.
Thiếu sự đổi mới, khác biệt hóa trong sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là một trong những yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự hấp dẫn
của điểm đến trong mắt khách du lịch, đồng thời cũng quyết định năng lực cạnh
7
tranh của điểm đến, nhất là khi nhìn nhận du lịch là một ngành kinh tế và trong
môi trường cạnh tranh du lịch ngày cảng khốc liệt.
Hiện nay Việt Nam có khoảng 10 sản phẩm du lịch thuộc ba nhóm:
- Nhóm các sản phẩm du lịch tự nhiên bao gồm du lịch sinh thái, du lịch
bãi tắm và du lịch biển...
- Nhóm sản phẩm du lịch văn hóa bao gồm du lịch văn hóa vật thể, du lịch
văn hóa phi vật thể, du lịch bảo tàng, du lịch ẩm thực…
- Nhóm du lịch đô thị bao gồm du lịch đô thị cổ, du lịch đô thị hiện đại…
Tính đến nay, với 23 di sản Thế giới được UNESCO công nhân, Việt Nam đang
ưu tiên 3 sản phẩm du lịch chủ lực là du lịch biển, du lịch núi và du lịch tham
quan các di sản văn hóa thế giới. Nhằm tạo những giá trị khác biệt sáng tạo cho
các tài nguyên tiềm năng này, Việt Nam đã đề ra những chiến lược phát triển du
lịch dài hạn như:
- Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010 và tầm nhìn đến năm
2020 đã xác định “Phát triển du lịch bền vững, theo định hướng du lịch sinh
thái và du lịch văn hóa - lịch sử, đảm bảo sự tăng trưởng liên tục, góp phần
thuyền kayak, đi xuồng cao tốc, dù kéo, dù lượn; dịch vụ du lịch ăn uống, tham
quan mua bán hải sản, lưu niệm; dịch vụ chèo đò, du lịch sinh thái, văn hoá...
Tuy nhiên, khách đến Hạ Long chỉ loanh quanh tắm biển, đi tàu thăm vịnh,
thăm hang động. Khách sạn chủ yếu là cao tầng, không có khuôn viên. Hàng
lưu niệm lặt vặt, không đặc trưng và chủ yếu hàng Trung Quốc. Hải sản, đồ ăn
bị đánh giá là rất đắt so với các điểm du lịch khác. Tính mùa vụ trong kinh
doanh du lịch ở Hạ Long rất rõ rệt, chưa được cải thiện, thích ứng. Các dịch vụ
vui chơi giải trí đơn điệu không đủ đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách đến
đây. Nhìn chung, các sản phẩm du lịch trên vịnh vẫn chưa thu hút được đối
tượng khách chi trả cao, số lượng khách tuy tăng nhưng lượng chi tiêu vẫn thấp
và thời gian lưu trú ngắn. Điều này tác động không nhỏ đến hành vi muốn quay
trở lại du lịch của khách quốc tế. Vịnh Hạ Long đang bỏ lỡ những cơ hội phát
triển du lịch đặc trưng mà những nơi khác không có được.
Vịnh Hạ Long thiếu sản phẩm du lịch đặc trưng rõ nét
Không chỉ thiếu tính đặc thù, sản phẩm du lịch Việt Nam còn chậm đổi
mới, đây là hệ quả của sự chậm chạp trong đổi mới tư duy và hành động cụ thể.
Các doanh nghiệp nghiệp phần lớn vừa và nhỏ, thiếu vốn và công nghệ nên khai
thác dựa trên tài nguyên có sẵn hoặc sao chép lại các mô hình một cách thụ
động. Sản phẩm không được nghiên cứu bài bản nên hàm lượng gia tăng thấp,
chất lượng không nổi bật. Điều này làm giảm rất nhiều sự hấp dẫn với khách
nước ngoài.
Thừa Thiên – Huế là một ví dụ. Sản phẩm du lịch chủ lực ở đây là văn hóa với
nhiều di tích lịch sử, lăng tẩm, đền đài…; tuy nhiên mới chỉ được khai thác trên
9
cơ sở di tích cũ, không tu bổ tôn tạo những điểm di tích mới để mở rộng và
hoàn chỉnh thành điểm du lịch hấp dẫn. Du lịch tâm linh ở đây mang tiềm năng
rất lớn, đồng thời có thể phát triển “dấu ấn Huế, bản sắc Việt trong sản phẩm
nguyên nhân trực tiếp tác động đến nhận thức của du khách nước ngoài về đất
nước ta.
Du lịch Việt Nam chưa có thông điệp chung và rõ ràng
Trong những năm qua, dù đã có rất nhiều nỗ lực để khuyếch trương hình ảnh
của mình đến với thế giới nhưng du lịch Việt Nam vẫn chưa có thông điệp
chung và rõ ràng. Hình ảnh về điểm đến Việt Nam chưa nổi bật và chưa rõ ràng
trong tâm trí của du khách, vì vậy chúng ta gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh
với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp.
Dạo quanh một vòng thế giới, ta có thể bắt gặp:
New Zealand. Hoàn toàn tinh khiết (100% Pure New Zealand)
Tây Ban nha. Tất cả đều dưới ánh nắng mặt trời (Spain. Everything under the
sun)
Malaysia. Châu Á đích thực (Malaysia. Truly Asia)
Hong Kong. Thế giới của châu Á (Hong Kong. Asia’s world city)
Các slogan du lịch của các quốc gia trên đều mang lại sự tin cậy cho mỗi du
khách đến đây, vì những gì New Zealand, Tây Ban Nha, Malaysia và Hong
Kong nói về bản thân đều đúng như những gì khách du lịch nghĩ về họ. Du
khách đều biết rằng Malaysia là đất nước có nhiều dân tộc châu Á sinh sống:
người Trung Quốc, người Ấn độ, người Mã Lai. Bạn chỉ cần đến Malaysia là đã
có thể nhìn thấy một châu Á thực sự rồi và “Truly Asia” thực sự có ý nghĩa.
Trở lại với định vị thương hiệu du lịch Việt Nam qua nhiều giai đoạn:
2001 – 2004: Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới (Vietnam – A
destination for the new millennium)
2004 – 2005: Hãy đến với Việt Nam (Welcome to Vietnam)
2006 – 2011: Việt Nam – Vẻ đẹp tiềm ẩn (Vietnam – The hidden charm)
2012 – 2015: Việt Nam – Vẻ đẹp bất tận (Vietnam – Timeless Charm)
Chúng ta thực sự không “rao” cụ thể chúng ta có gì, tất cả còn rất chung chung.
Là một quốc gia lịch sử gắn với những cuộc chiến tranh dài liên miên đã gắn
trong tâm trí nhiều khách quốc tế, để tái định vị, Việt Nam cần nghiên cứu bài
bản và có một chiến lược rõ ràng. Việt Nam không được biết đến như một đất
“biểu hiện bất ngờ” của đoàn Việt Nam tại Ý lần này lại trở thành điểm trừ đối
với Việt Nam trước bạn bè quốc tế. Trong khi các quốc gia khác chăm chút giới
thiệu những nét đặc trưng văn hóa, tinh hoa ẩm thực nước nhà, thì những gì
đoàn Việt Nam thể hiện lại quá đơn điệu, sơ xài và chưa đáp ứng được kỳ vọng.
Theo phản ánh của một du khách Việt tham quan Expo 2015, bên trong khuôn
viên Ngôi nhà Việt Nam được trang trí hết sức sơ sài và nhếch nhác. Quầy trái
cây được trưng bày lèo tèo vài loại quả như dứa (thơm), thanh long nhưng đã
héo và đen xì. Khu ẩm thực không đại diện được nét đặc sắc của ẩm thực Việt
Nam, các món ăn như phở xào, miến xào, gỏi cuốn, bún thịt bò xào Nam bộ, gà
chiên tẩm bột lạnh tanh, kém hấp dẫn với hương vị thì như kiểu của các suất ăn
công nghiệp; vắng bóng những tinh hoa ẩm thực của dân tộc Việt - món phở trứ
danh khắp bốn bể, món bánh cuốn, bánh xèo, chả lụa, chè ba miền…
12
Trái cây trưng bày chỉ vài loại như thanh long, dứa (thơm) và không còn tươi
ngon
Tầng 1 tập trung bày bán các sản phẩm được xem là đặc trưng của Việt Nam, đa
dạng từ các mẫu quần áo, thiệp xếp tay, sản phẩm sơn mài, nón lá, túi xách…
Chưa nói đến độ phong phú và tinh xảo của các mặt hàng thủ công mỹ nghệ
này, những bộ quần áo, được giới thiệu là gắn liền với dân tộc Việt Nam, lại là
những mẫu mang đậm phong cách Trung Quốc. Bộ áo dài duy nhất cũng được
“biến tấu” theo kiểu sườn xám.
Trưng bày trang phục phụ nữ Việt Nam rất đơn điệu dễ nhầm lẫn là sản phẩm
Trung Quốc.
Trong khi đó, gian hàng các nước khác đều được chăm chút tỉ mỉ trong sự kiện
này. Không chỉ các nước lớn và giàu có khu trưng bày hoành tráng, lộng lẫy mà
ngay cả những nước trong khu vực ASEAN như Lào, Myanmar, Campuchia,
lịch lâu dài, nhưng thực tế cho thấy Việt Nam không phát huy được lợi thế này
để phát triển
15
Các báo cáo cho thấy Việt Nam vẫn hạn chế việc miễn thị thực cho một số thị
trường lớn và còn nhiều bất cập trong việc cấp thị thực trực tuyến gây nhiều
phiền hà cho khách trong việc xin cấp thị thực tại sân bay. Việc này ảnh hưởng
không nhỏ tới việc thu hút khách lần đầu đến Việt Nam hay có ý định quay trở
lại.
Bằng chứng là năm 2014, Thái Lan đón 24,8 triệu lượt khách quốc tế, Thái Lan
đã miễn thị thực và lệ phí thị thực cho công dân đến từ 61 quốc gia (trong đó 49
nước là đơn phương), Malaysia đón 27,4 triệu lượt khách quốc tế và đã miễn lệ
phí thị thực cho 155 quốc gia (trong đó 85 quốc gia là đơn phương).
Tương tự, Singapore đón 15,1 triệu lượt khách quốc tế và miễn thị thực nhập
cảnh cho công dân 150 quốc gia (trong đó 82 quốc gia là đơn phương). Trong
khi đó Việt Nam đón gần 8 triệu lượt khách quốc tế và miễn visa cho 22 quốc
gia trong đó bao gồm miễn song phương với 9 nước ASEAN, và đơn phương 13
nước có lượng khách du lịch lớn tại Việt Nam gồm Anh, Pháp, Đức, Tây Ban
Nha, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Nga,
Belarus.
Việt Nam đã đàm phán thành công Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình
Dương TPP và tham gia và cộng đồng kinh tế Asean – AEC, thiết nghĩ việc mở
cửa hơn nữa để gia nhập vào các sân chơi lớn, tạo điều kiện thuận lợi dễ dàng
thu hút thêm các du khách quốc tế đến du lịch cần được đẩy mạnh hơn nữa.
1.4. Cạnh tranh gay gắt từ các nước khác
Ngoài vấn đề nhập cảnh, sự cạnh tranh về dịch vụ du lịch của các nước trong
khu vực cũng là một nguyên nhân khiến du khách không muốn quay trở lại. Đặc
biệt là Thái Lan, Singapore, thậm chí các nước láng giềng Lào, Campuchia - các
Đua thuyền Kayak ở Thái Lan rất thu hút du khách
Còn Việt Nam, phải chăng chúng ta vẫn đang loay hoay không tìm được điểm
nhấn để khiến khách du lịch ấn tượng và mong muốn trở lại?
2. Nguyên nhân vi mô
2.1. Tệ nạn chặt chém khách du lịch
Việt Nam được đánh giá là một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn với nhiều
danh lam thắng cảnh, nhiều Di sản văn hóa, Di sản thiên nhiên nổi tiếng, người
Việt Nam thân thiện, mến khách. Tuy nhiên đi kèm với những hình ảnh Di sản
đẹp lại là chất lượng dịch vụ kém – điểm trừ lớn trong lòng mỗi du khách đến
Việt Nam.
Trước tiên, đó là việc "chặt chém" khách du lịch – một thực tế đầy bất cập và
khó quản lý với các cơ quan Nhà nước hay "căn bệnh" mãn tính của một bộ
phận không nhỏ người làm du lịch – đã để lại một hình ảnh Việt Nam không
mấy đẹp đe, thân thiện trong mắt bạn bè quốc tế.
Ví dụ giá vé lặn biển (tại Hòn Mun, Nha Trang) cho người Việt Nam là 600.000
đồng một lần và 950.000 đồng hai lần. Nhưng vé cho người nước ngoài lại là
800.000 đồng một lần và 1,15 triệu đồng 2 lần.
Hay tại một số địa điểm du lịch nổi tiếng… thường xuất hiện một số người bán
hàng rong, mát-xa dạo có hiện tượng bắt chẹt du khách. Theo sự phản ánh của
những người dân địa phương, họ thường nhắm đến khách ngoại quốc để chào
mời, bán hàng với giá cắt cổ. Chắc hẳn chúng ta đã từng nghe câu chuyện một
18
du khách Nga giận dữ vì bị một người bán hàng rong bán một trái dừa với giá
500.000 đồng ở Mũi Né (Vũng Tàu) hay câu chuyện xảy ra ở Hà Nội, khi hai vợ
chồng Việt kiều bị tính tiền đến 800.000 đồng cho hai tô phở thắc mắc với chủ
quán thì được chủ quán đáp lại bằng cách dùng con dao thái thịt chém xuống
Tổ chức tour không trung thực
Nhiều du khách và ngay cả những hãng lữ hành có tên tuổi đang “kêu trời” về
tình trạng hàng loạt công ty lữ hành không phép, hoạt động chui... đã dẫn đến
chất lượng tour bị giảm sút. Hiện nay, trong Luật Du lịch, các quy định xử phạt
công ty du lịch về hành vi kinh doanh lữ hành cắt xén hoặc thay đổi hành trình
du lịch, phương tiện du lịch và các chế độ phục vụ trái với hợp đồng đã ký còn
quá nhẹ. Nhiều công ty thường xuyên dùng chiêu quảng cáo ở khách sạn 3 sao
nhưng đưa khách đến 1 sao, 2 sao…
Một số công ty bán tour 5 ngày 4 đêm nhưng khởi hành vào buổi chiều ngày
đầu và đi về vào sáng sớm của ngày cuối nên thực chất chương trình tham quan
chỉ có 3 ngày... như vậy thực chất là "chặt chém" giá tour.
Thái độ phục vụ kém
Tình trạng chèo kéo khách, ứng xử kém văn minh… là những yếu tố gây mất
thiện cảm trong mắt du khách quốc tế. Đó có thể là những nhân viên bán hàng
kém thân thiện, hay tỏ thái độ khi khách không có ý định mua hàng, hay đánh
giá du khách bằng vẻ bề ngoài của họ và đối xử tùy theo họ “trông có vẻ” giàu
hay bình dân.
Khi du khách có thắc mắc về giá cả các dịch vụ chênh lệch giữa các nơi, một số
còn có thái độ nạt nộ, quát mắng mà thiếu đi một lời giải thích hợp lí.
Hay tình cảnh một dàn hùng hậu các nhân vật có tên “vẫy khách” đứng trước
cửa các quán ăn, nhà hàng, khách sạn,… khiến du khách sợ hãi, cảnh giác với
sự mời chào quá mức nhiệt tình.
2.3. Cơ sở hạ tầng du lịch chưa phát triển
Trong hoạt động du lịch, cơ sở vật chất đóng một vai trò hết sức quan trọng . Sự
phát triển của ngành du lịch gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật
chất kỹ thuật.
20
Tuy nhiên, điều này ở nước ta hiện nay vẫn còn rất kém. Rất nhiều cơ sở bị
21
Hai du khách với tấm biển dòng chữ tiếng Anh: "Chúng tôi đến từ Hong
Kong. Xin hãy cẩn thận với những tên cướp chuyên chạy xe gắn máy".
2.5. Nguồn nhân lực du lịch trình độ thấp
Khi khách quốc tế đến Việt Nam, với mong muốn tìm hiểu về điểm đến cũng
như rào cản về ngôn ngữ làm nảy sinh nhu cầu về những hướng dẫn viên du lịch
- các “đại sứ” của chuyến đi. Thế nhưng do quá nhiều hướng dẫn viên hiện nay
yếu nghiệp vụ, kém kiến thức nên khách đi tour về bực bội trong lòng.
Hướng dẫn viên làm mất lòng du khách không phải chuyện hy hữu trong ngành
Du lịch Việt. Theo nhiều du khách phản ánh, mang tiếng là có HDV đi cùng
nhưng hỏi cái gì họ cũng trả lời qua loa, đại khái. Hay nhiều HDV không coi
trọng hình ảnh của mình cũng như ngành Du lịch. Có rất nhiều người bị đoàn
khách chê vì lý do HDV đó ăn mặc rất luộm thuộm, tóc tai bù xù, thậm chí
người có mùi hôi; hoặc HDV không lo hướng dẫn cho khách mà chỉ lo đi
shopping mua đồ cho mình.
Đáng buồn hơn, nhiều HDV thậm chí còn không hiểu rõ về những địa danh
mình dẫn khách đến. Có câu chuyện cười ra nước mắt là khi giới thiệu quần thể
di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám, một cậu HDV hùng hồn giới thiệu cho một
đoàn du khách đến từ Tây Ba Nha: “Văn Miếu gắn với tên Quốc Tử Giám bởi
đây là nơi chôn cất những quan thái giám triều đình”
Trình độ ngoại ngữ kém
Bên cạnh đó, thực trạng khoảng 50% hướng dẫn viên không thông thạo ngoại
ngữ cũng là một điều đáng buồn cho du lịch Việt Nam. Trong số những hướng
dẫn viên, nhân viên biết ngoại ngữ thì tiếng anh vẫn chiếm đa số, còn ở các thị
trường du lịch cung cấp khách hàng đầu cho du lịch Việt Nam như Nga, Hàn
Quốc, Nhật Bản, Đức… vẫn còn rất thiếu nhân lực chuyên về ngoại ngữ. Cũng vì
hiện
thực.
Rõ là đội ngũ hướng dẫn viên du lịch đang "vênh" giữa cung và cầu. Như nhiều
chuyên gia phân tích, là do ngành du lịch trong nước đang "mặc kệ" cho đội ngũ
hướng dẫn viên tự phát định hướng ngoại ngữ và tự phát phát triển. Điều dễ
nhìn thấy là sự khập khiễng trong trình độ của hướng dẫn viên: Người có
nghiệp vụ du lịch thì yếu về ngoại ngữ, người giỏi ngoại ngữ lại thiếu hụt về
kỹ năng nghề. Thế nên việc cần làm cho du lịch Việt Nam hiện nay là cân bằng
những khập khiễng trong trình độ đội ngũ hướng dẫn viên.
Thiết nghĩ trong thời kì hội nhập, để sẵn sàng mở cửa với thế giới, đón tiếp
thêm các du khách quốc tế, việc trau dồi ngoại ngữ cũng như chuyên môn cho
không chỉ các hướng dẫn viên mà những người làm trong du lịch là hết sức cấp
bách và cần thiết.
III.
GIẢI PHÁP, ĐỊNH HƯỚNG CHO DU LỊCH VIỆT NAM
Trước tình trạng du khách quốc tế không muốn quay trở lại với Việt Nam, từ
việc hiểu rõ những nguyên nhân gây ra thực trạng trên, nhóm xin đề xuất một số
23
giải pháp mà thiết nghĩ se là cần thiết để xây dựng lại thương hiệu du lịch Việt
Nam thu hút, hấp dẫn trong mắt du khách:
Một là, phải nghiên cứu xác định rõ và tìm ra những giá trị cốt lõi của thương
hiệu du lịch Việt Nam gắn với các thuộc tính và sản phẩm du lịch cụ thể. Đầu tư
xây dựng, nâng tầm sản phẩm, khẩu hiệu du lịch đặc trưng, khác biệt chỉ là của
Việt Nam, phát triển thương hiệu du lịch quốc gia trên cơ sở phát triển thương
địa điểm kinh doanh du lịch, đặc biệt không để xảy ra tình trạng thét giá, tăng
giá phi lý chèn ép du khách nước ngoài.
Sáu là, xây dựng nhiều hơn các kênh thông tin quảng bá cả online như các
website du lịch chất lượng cung cấp đủ thông tin với đa dạng ngôn ngữ, các tư
vấn viên có mặt trực tuyến trên các diễn đàn sẵn sàng giải đáp thắc mắc, ghi
nhận các phản hồi và ngay tại các địa điểm du lịch cũng cần có các phòng thông
tin cho du khách… Thiết lập các đường dây nóng, quầy hỗ trợ, cấp cứu… bằng
mọi biện pháp quan tâm và giúp đỡ du khách quốc tế giải quyết các khó khăn
trong khi du lịch ở Việt Nam, để ấn tượng lại trong họ – thực sự là một Việt
Nam thân thiện và mến khách ở thực tế chứ không chỉ trên khẩu hiệu.
KẾT LUẬN
Du lịch, hơn bất kì ngành nào khác khi được đầu tư và phát triển đúng
cách se tạo một nguồn lực kinh tế lớn góp phần vào sự tăng trưởng của quốc
gia. Với những thế mạnh cả về tự nhiên và lao động sẵn có, Việt Nam cần phải
25
biết nắm bắt những cơ hội, dẹp bỏ những hạn chế còn tồn tại để đưa ngành du
lịch của nước nhà thực sự trở thành một thương hiệu, một hình ảnh đẹp mỗi khi
nhắc tới trong mắt du khách quốc tế.
Học tập từ các bạn bè láng giềng như Thái Lan, điều đáng khâm phục là
họ không chỉ nỗ lực xây dựng hình ảnh “Đất nước của những nụ cười” mà còn
không ngừng gìn giữ và phát triển lên thành một thương hiệu riêng. Việc xây
dựng một thương hiệu, ví dụ như “Việt Nam - đất nước thân thiện” có le không
nằm ngoài khả năng của chúng ta nếu như các cơ quan, các sở Du lịch không
vội đưa ra chỉ tiêu đón khách mà nên cấp bách xây dựng những kế hoạch phát
triển ngành du lịch như tăng số phòng nghỉ; đào tạo bồi dưỡng cán bộ; nâng cao
kiến thức, tay nghề cho công nhân viên các ngành liên quan, tăng cường công
tác quản lý và bảo trì các di tích, điểm tham quan, bảo vệ du khách.