Tiểu luận Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Nam - Pdf 42

Header Page 1 of 145.

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng
cao, họ không những có nhu cầu về vật chất mà còn có nhu cầu được thỏa mãn về
tinh thần như vui chơi, giải trí và du lịch. Do đó, du lịch là một trong những ngành
có triển vọng.
Ngành du lịch Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước khác trên thế
giới nhưng vai trò của nó thì không thể phủ nhận. Du lịch là một ngành “ công
nghiệp không khói ”, mang lại thu nhập lớn cho nền kinh tế, giải quyết công ăn việc
làm cho hàng vạn lao động, góp phần truyền bá hình ảnh Việt Nam ra toàn thế giới.
Nhận thức được điều này, Đảng và Nhà nước đã đưa ra mục tiêu xây dựng ngành
du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Quán triệt tinh thần đó thì ngành du lịch
Việt Nam nói chung và ngành du lịch Quảng Nam, một trong những tỉnh của đất
nước, nói riêng đã có những bước phát triển khá nhanh trong những năm trở lại đây.
Sự phát triển của du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên,
cơ sở hạ tầng, các điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hôi, chính trị…Trong đó, phát
triển của thị trường khách cũng là một trong những yếu tố quan trọng, đặc biệt là thị
trường khách quốc tế. Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường khách du lịch quốc tế
vào Việt Nam nói chung cũng như Quảng Nam trong thời gần đây còn những hạn
chế nhất định so với các nước trong khu vực. Trước tình hình đó, là một sinh viên
khoa Văn hóa – Du lịch, nguồn nhân lực tương lai của đất nước và hơn hết là một
người con của quê hương Quảng Nam, tôi mong muốn có những đóng góp bé nhỏ
của mình để góp một phần nào vào sự phát triển du lịch của tỉnh nhà. Vì vậy, tôi đã
chọn đề tài “Giải pháp thu hút khách du lich quốc tế đến Quảng Nam” để tìm hiểu
và nghiên cứu. Tôi cho rằng, đây là đề tài cấp thiết và có giá trị cả về mặt lí luận
cũng như thực tiễn.
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc hệ thống hóa các yếu tố ảnh hưởng và phân tích thực trạng
việc thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Nam, bài viết hướng đến việc đề xuất

Chương 1: Cơ sở lí luận về du lịch và thu hút khách du lịch quốc tế
Chương 2: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Nam giai
đoạn 2010 – 2013
Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh thu hút khách du lịch quốc tế đến
Quảng Nam giai đoạn 2013 - 2020

Footer Page 2 of 145.


Header Page 3 of 145.

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ KHÁCH DU LỊCH QUỐC
TẾ
1.1. Một số khái niệm liên quan đến du lịch
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở
thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay trên phạm vi toàn
thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống kinh tế –
xã hội. Du lịch đang phát triển mạnh mẽ và trở thành ngành kinh tế quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước nói riêng và của kinh tế toàn cầu nói
chung. Khái niệm du lịch đã xuất hiện từ khá lâu. Do hoàn cảnh khác nhau, dưới
mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu và định nghĩa về du
lịch không giống nhau.
Theo Gluman : “Du lịch là sự khắc phục về mặt không gian của con người
hướng đến một điểm nhất định nhưng không phải là nơi ở thường xuyên của họ”.
Dưới con mắt của Azar : “Du lịch là một trong những hình thức di chuyển
tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước
khác nếu không gắn với sự thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc ”.
Khái niệm cơ bản về du lịch được Liên hợp Quốc các tổ chức lữ hành chính
thức – IUOTO ( Internation Union of Official Travel Oragnizatinos ) đưa ra như

thống kê là du khách quốc tế phải có các đặc trưng cơ bản sau :
- Là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt
Nam du lịch.
- Là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước
ngoài du lịch.
Trong đề tài này, tôi chủ yếu tìm hiểu về đối tượng khách quốc tế ở nước
ngoài vào Việt Nam mà cụ thể đến Quảng Nam.
Ngoài ra còn có các định nghĩa khác về khách du lịch như định nghĩa của
Hội nghị du lịch quốc tế về du lịch ở Hà Lan 1989 : “ Khách du lịch quốc tế là
những người đi hoặc sẽ đi tham quan một nước khác, với các mục đích khác nhau
trong khoảng thời gian nhiều nhất là ba tháng, phải được cấp giấy phép gia hạn. Sau
khi kết thúc thời gian tham quan, lưu trú, du khách bắt buộc phải rời khỏi đất nước
đó để trở về hoặc đến nước khác”.
1.2.2. Ý nghĩa của việc thu hút khách quốc tế
1.2.2.1. Ý nghĩa về mặt kinh tế
Tăng GDP (Tổng sản phẩm quốc nội) cho đất nước
Du lịch quốc tế phát triển sẽ góp phần tăng tỷ trọng GDP của ngành du lịch
trong khu vực dịch vụ, theo đó làm tăng GDP của nền kinh tế quốc dân. Ở đâu du
lịch phát triển, đặc biệt là du lich quốc tế thì ở đó diện mạo đô thị, nông thôn được

Footer Page 4 of 145.


Header Page 5 of 145.

chỉnh trang, sạch đẹp hơn, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, mức sống của
nhân dân được nâng cao. Hơn nữa, hoạt động du lịch quốc tế còn tạo ra khả năng
tiêu thụ tại chỗ cho hàng hóa và dịch vụ, thúc đẩy các ngành khác phát triển, khôi
phục nhiều lễ hội và làng nghề thủ công truyền thống, góp phần thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế cả nước và từng địa phương, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo

Header Page 6 of 145.

quốc gia được đẩy mạnh. Điều này góp phần xúc tiến hoạt động ngoại thương và
đem lại nguồn lợi lớn cho quốc gia.
1.2.2.2. Ý nghĩa của việc thu hút khách du lịch quốc tế đối với xã hội
Giải quyết công ăn việc làm cho người dân
Du lịch là ngành tạo việc làm quan trọng. Thu hút khách du lịch quốc tế
thúc đẩy sự phát triển của du lịch cùng với các ngành công nghiệp khác, từ đó tạo ra
một khối lượng công việc lớn, giải quyết được tình trạng thiếu việc làm cho người
dân. Hiện nay, ngành du lịch thu hút khoảng 220 triệu lao động trực tiếp, chiếm
10,6% lực lượng lao động thế giới – cứ 9 người lao động có 1 người làm nghề du
lịch (Trần Thị Thúy Lan 2005).
Tạo thu nhập cho người dân và bảo tồn được các làng nghề thủ công
mỹ nghệ cổ truyền của dân tộc
Khi một khu vực thu hút được du khách quốc tế sẽ làm tăng sự quan tâm
trong nước đối với các điểm hấp dẫn ở khu vực đó. Khi địa phương phát triển các
tiện nghi và cơ sở dịch vụ nhằm thu hút khách quốc thế thì điều này có lợi cho
người dân địa phương. Bên cạnh đó, các địa phương hoạt động du lịch sẽ giúp cho
người dân địa phương có nhiều cơ hội để tăng thu nhập từ các hoạt động du lịch.
Mặt khác, khi đi du lịch, du khách thường rất thích mua quà lưu niệm, nhất là các
sản phẩm lưu niệm mang đậm dấu ấn của địa phương, quốc gia nơi đến du lịch. Bên
cạnh việc tham quan, tìm hiểu thì du khách thường mua sắm các sản phẩm của các
làng nghề. Từ đó, các nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền của dân tộc có điều kiện
phục hồi và phát triển. Đồng thời qua đó làm tăng thu nhập cho người dân địa
phương, tăng cường giao lưu văn hóa và xây dựng nếp sống văn minh ở mỗi địa
phương.
Giảm quá trình đô thị hóa
Thông thường, tài nguyên du lịch thiên nhiên có nhiều ở các vùng núi,
trung du, ven biển hay những nơi hẻo lánh, ít dân cư. Việc thu hút khách du lịch
quốc tế sẽ tạo sức hấp dẫn thu hút đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng…làm thay đổi bộ

Quá trình phát triển du lịch quốc tế không chỉ hướng tới những mục tiêu
kinh tế, xã hội mà còn nhằm đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ an ninh và đối ngoại.
Từ các chủ trương đến các công việc điều hành cụ thể hoạt động du lịch quốc tế đều
liên quan đến an ninh quốc phòng và có sự phối hợp chặt chẻ với cơ quan có thẩm
quyền. Phát triển du lịch quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia có cơ hội
hiểu nhau, giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau thông qua việc giao lưu, hợp tác kinh tế, văn
hóa, góp phần duy trì sự ổn định chính trị và hòa bình trong khu vực và trên thế
giới. Một quốc gia nếu muốn thu hút khách du lịch quốc tế thì cần quan tâm đặc
biệt đến môi trường du lịch – điều này khẳng định tầm quan trọng của nền chính trị

Footer Page 7 of 145.


Header Page 8 of 145.

- xã hội nhân văn. Chính vì lí do này mà họ sẽ đầu tư hợp lí vào an ninh quốc phòng
và trật tự an toàn xã hội để đảm bảo an toàn cho du khách nước ngoài. Như vậy,
hoạt động du lịch nếu được xúc tiến khoa học và có chiến lược thì sẽ giữ được an
ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Hơn nữa, việc phát triển du lịch ở các vùng
biên giới, hải đảo sẽ góp phần tích cực khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển và
trên đất liền.
1.3. Các yếu tố tác động đến thu hút khách quốc tế
1.3.1. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa – lịch sử cùng các thành
phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người,
khả năng lao động và sức khỏe của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu
cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch.
Khoản 4 (Điều 4, chương 1) Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định:
“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn
hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể

tiện kỹ thuật giúp cho việc phục vụ để thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch như
: khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải, các khu nhà giải trí, cửa
hàng, công viên, đường sá, hệ thống thoát nước, mạng lưới điện trong khu vực của
cơ sở du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá
trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch.
Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là những phương tiện vật chất không phải do các tổ chức du
lịch xây dựng nên mà là của toàn xã hội. Đó là hệ thống đường sá, nhà ga, bến
cảng, đường sắt, công viên của toàn dân, mạng lưới thương nghiệp của khu dân cư,
hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện, các rạp
chiếu phim, nhà hát, viện bảo tàng.
Trong cơ sở hạ tầng kỹ thuật của xã hội, nhân tố phục vụ đắc lực nhất và có
tầm quan nhất đối với du lịch là hệ thống giao thông vận tải (đường hàn không,
đường bộ, đường thủy). Đây chính là cơ sở vật chất kỹ thuật bậc hai đối với du lịch.
Nó được xây dựng để phục vụ nhân dân địa phương và sau nữa là phục vụ cả khách
du lịch đến thăm đất nước hoặc vùng du lịch. Đây là cơ sở có tầm quan trọng đặc
biệt vì nó nằm sát ngay nơi du lịch, nó quyết định nhịp độ phát triển du lịch và
trong chừng mực nào đó còn quyết định chất lượng phục vụ du lịch.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt, không ngừng được đổi mới và hoàn thiện sẽ tạo
điều kiện thu hút khách du lịch quốc tế và ngược lại.

Footer Page 9 of 145.


Header Page 10 of 145.

1.3.3. Đội ngũ lao động
Nguồn nhân lực luôn là yếu tố cốt lõi trong mọi hoạt động, bởi con người
bằng hành động có nhận thức của mình tác động theo nhiều phương thức khác nhau
vào các yếu tố vật chất tạo ra sản phẩm và dịch vụ phục vụ cuộc sống.

1.3.4.1. Xúc tiến quảng bá hình ảnh du lịch của quốc gia đến với khách du lịch
quốc tế
Du lịch là một lĩnh vực quan trọng toát lên vẻ đẹp, bản sắc và điểm khác
biệt của mỗi quốc gia, dân tộc. Du lịch kết tinh từ nhiều yếu tố văn hóa, địa lí và
con người. Du lịch đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế
phát triển, kết nối chính trị ngoại giao. Do đó, du lịch cần phải được xem là bộ mặt,
là hình ảnh của mỗi quốc gia. Do đó, để thu hút khách du lịch nói chung và khách
du lịch quốc tế nói riêng, chúng ta phải đẩy mạnh công tác quảng bá các tour du
lịch, các tài nguyên du lịch, các chính sách hấp dẫn khách du lịch nhằm truyền bá
hình ảnh đất nước, những cảnh đẹp, những nét đặc sắc về văn hóa, con người của
quốc gia hay điểm đến, tạo được sự hấp dẫn cho khách du lịch nước ngoài, tạo động
lực để thu hút khách tìm đến với quốc gia hay điểm đến đó để khám phá, tìm hiểu.
1.3.4.2. Xây dựng và thực hiện các chiến lược khai thác, bảo tồn, gìn giữ và tôn
tạo tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên sức hấp dẫn du
khách và phải được khai thác vào mục đích kinh doanh du lịch. Vấn đề khai thác tài
nguyên du lịch như thế nào để đạt hiệu quả cao trong việc thu hút khách du lịch
luôn là bài toán khó đối với chính phủ và ngành du lịch của mỗi quốc gia. Việc khai
thác được thể hiện thông qua việc phát triển các sản phẩm du lịch, tổ chức các sự
kiện du lịch…
Tiềm năng về tài nguyên du lịch không phải là tiềm năng vô hạn, nhất là tài
nguyên thiên nhiên. Không phải nơi nào cũng có thể phát triển tài nguyên du lịch,
và bản thân tài nguyên du lịch không có sự tác động có mục đích của con người
cũng không thể trở thành những điểm du lịch hấp dẫn nhiều du khách. Quá trình tác
động có thể gây ra các ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới nguồn tài nguyên du
lịch. Mục đích của việc khai thác bảo tồn và tôn tạo tài nguyên du lịch là sử dụng
tài nguyên du lịch một cách hợp lí. Bên cạnh tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên
nhân tạo cũng là yếu tố quan trọng để tạo sự hấp dẫn đối với khách du lịch. Xây
dựng các chiến lược khai thác tài nguyên du lịch là công việc quan trọng trong
chính sách phát triển du lịch của mỗi quốc gia và từng địa phương.

du lịch và các ngành này càng nhịp nhàng và thuận tiện cho khách du lịch thì càng
tăng sự thỏa mãn và hài lòng ở du khách.
1.3.4.6. Phát triển nguồn nhân lực
Chất lượng du lịch là yếu tố quyết định khả năng thu hút khách du lịch tại
một điểm đến. Nâng cao chất lượng dịch vụ luôn là mục tiêu quan trọng của mỗi
quốc gia để phát triển du lịch. Trong đó, yếu tố con người giữ vai trò quan trọng
nhất bởi con người bằng sức lao động của mình tác động đến cơ sở vật chất kỹ thuật

Footer Page 12 of 145.


Header Page 13 of 145.

để khai thác các giá trị của tài nguyên du lịch tạo ra dich vụ, hàng hóa cung ứng cho
du khách. Vì vậy, chính phủ mỗi nước luôn đề ra các chương trình phát triển nguồn
nhân lực tại đất nước mình, nhằm đào tạo đội ngũ lao động phục vụ du lịch chuyên
nghiệp, có ý thức trách nhiệm và nhiệt tình.
1.3.4.7. Tuyền truyền và nâng cao ý thức cộng đồng về du lịch
Có thể nói du lịch là công việc của toàn xã hội. Sự phát triển của du lịch
liên quan đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, liên
quan đến sự phát triển của địa phương, tác động tới cuộc sống của mỗi người dân
tại địa phương hoạt động du lịch. Mỗi quốc gia cần thực hiện các biện pháp tuyên
truyền giáo dục nâng cao ý thức cộng đồng về vai trò của du lịch để người dân ý
thức được và góp phần tích cực trong việc phát triển du lịch.
1.4. Môi trường du lịch
Môi trường du lịch bao gồm môi trường du lịch tự nhiên và môi trường
du lịch nhân văn. Bất kỳ hoạt động du lịch nào cũng chỉ diễn ra trong pham vi môi
trường du lịch. Hay nói cách khác, ở đâu có du lịch thì ở đó có môi trường du lịch.
Trong khi môi trường tự nhiên đòi hỏi việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên
phải gắn liền với việc tôn tạo và giữ gìn môi trường, thì môi trường du lịch nhân

con đường phát triển về phía Nam của nhiều thế hệ người Việt. Các nhà khảo cổ
học đã tìm thấy dấu tích văn hóa Sa Huỳnh, sau đó được người Chămpa kế thừa và
sáng tạo ra nền văn hóa Chămpa. Vương quốc Chămpa đã có hai thời kỳ cực thịnh
với những cung điện, đền đài, thành quách uy nghi tráng lệ được xây dựng từ thế kỷ
I đến thế kỷ IX. Năm 1306, vùng đất Quảng Nam trở thành đất của Đại Việt. Đây là
đất sính lễ của vua Chế Mân dâng lên vua Trần Anh Tông khi cưới công chúa
Huyền Trân về làm hoàng hậu vương quốc Chămpa. Năm 1471 dưới thời vua Lê
Thánh Tông, Quảng Nam là thừa tuyên thứ 13 của Đại Việt.
Năm 1570 – 1606 Nguyễn Hoàng (một chúa Nguyễn sau này) khi làm lãnh
trấn Quảng Nam đã coi Đà Nẵng là cửa ngõ yết hầu miền Thuận Quảng, biến nó
thành đất dung nạp những người từ phía Bắc vào khai canh, với bên ngoài…Năm
1832 được vua Minh Mạng đổi thành Quảng Nam dinh. Tỉnh Quảng Nam đã được

Footer Page 14 of 145.


Header Page 15 of 145.

lập từ năm 1831, là một tỉnh nông nghiệp. Hai dòng sông Thu Bồn và Tam Kỳ vừa
tô điểm cho Quảng Nam vừa là đường giao thông thuận tiện.
Phố cổ Hội An (trước đây là cảng Đại Chiêm), một trong những đô thị cổ
nhất Đông Nam Á, đến nay vẫn giữ được gần như nguyên vẹn. Cùng với Hội An,
quần thể đền tháp ở Mỹ Sơn là hai di sản của Quảng Nam được UNESCO (United
Nations Educational Scientific and Cultural Organization - Tổ chức Giáo dục, Khoa
học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc) công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Về văn hóa – lễ hội, Quảng Nam là vùng đất giàu truyền thống văn hóa.
Cùng với Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế, Quảng Nam được mệnh danh là vùng “đất
học”, “vùng văn hóa” đất sản sinh của nhân tài, các vị khoa bảng, những nhà hoạt
động chính trị, những chiến sĩ ái quốc, các văn nhân nghệ sĩ, các nhà khoa học công
kỹ nghệ nổi tiếng. Đây là vùng đất còn giữ được bản sắc trong các loại hình nghệ

dựng và phát triển được uy tín thương hiệu Hội An – một điểm đến an toàn, thân
thiện. Mỗi năm, Quảng Nam đã đón trên 1 triệu lượt khách, với hơn ba nghìn buồng
phòng sẵn sàng phục vụ trên năm nghìn khách/ngày. Mạng lưới kinh tế du lịch phát
triển nhanh với 150 doanh nghiệp và hơn 3.500 hộ kinh doanh với gần 11 nghìn
người trực tiếp lao động trong nghành du lịch.Tuy nhiên, phát triển du lịch trên địa
bàn tỉnh chưa đều; nhận thức về phát triển du lịch ở các cấp, các ngành du lịch còn
hạn chế, nhiều địa phương chưa có định hướng phát triển, chưa đa dạng hóa các loại
hình du lịch; kết cấu hạ tầng và các dịch vụ phụ trợ du lịch còn nhiều mặt yếu kém;
việc chuẩn bị nguồn nhân lực còn hạn chế, chưa đồng bộ chưa khai thác hết lợi thế
đẩy mạnh phát triển.
Trong những năm qua, số lượng khách đến tham quan và lưu trú trên địa
bàn tỉnh tăng lên qua các năm. Theo báo cáo của Sở VHTT-DL Quảng Nam, trong
năm 2010, tổng lượt khách tham quan và lưu trú là 2.391.677 lượt khách thì đến
năm 2013 tổng lượt khách tham quan lưu trú ước đạt 3,4 triệu lượt khách (tăng
20,64 % so với cùng kỳ năm 2012;) trong đó khách quốc tế ước đạt 1,65 triệu lượt
khách (tăng 19,19 % so với cùng kỳ năm 2012), khách nội địa ước đạt 1,75 triệu
lượt khách (tăng 22,04 % so với năm 2012). Đây là một con số đáng khích lệ cho
ngành du lịch tỉnh nhà và cần đầu tư phát triển hơn nữa để số lượng khách đến
Quảng Nam sẽ tăng hơn nữa từ nay cho đến năm 2020.

Footer Page 16 of 145.


Header Page 17 of 145.

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch năm 2010 - 2013

Ước
Chỉ tiêu



* Khách quốc tế

472,362

512,617

541,190

592,000

* Khách nội địa

259,315

289,359

330,844

358,000

2. Ngày khách

1,509,922 1,736,358 1,805,124 2,100,000

* Quốc tế

1,081,431 1,250,195 1,323,605 1,500,000

* Nội địa


1.65

1.68

1.46

2

( Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam )
2.2.2. Tình hình khách du lịch quốc tế đến tỉnh Quảng Nam
Theo bảng thống kê của sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam,
trong những năm qua, khách quốc tế đến Quảng Nam chủ yếu là khách châu Âu và
cơ cấu khách du lịch không thay đổi đáng kể từ năm 2010 đến nay. Theo thống kê,
trong 8 tháng đầu năm 2013, Quảng Nam đón 516.086 lượt khách quốc tế trong đó
số lượt khách châu Âu chiếm số lượng lớn. Năm 2010, khách Pháp có 54.808 lượt
khách, khách Úc chiếm 64.630, khách Anh gần 37.309 lượt, khách Đức gần 36.679
lượt và khách Mỹ gần 36.137 lượt. Đến năm 2011, trong giai đoạn đầu lượng khách
từ thị trường châu Âu có giảm đôi chút nhưng không đáng kể. Trong đó cơ cấu
khách theo quốc tịch đến Việt Nam đa số là các nước châu Á, đặc biệt là các nước:
Footer Page 17 of 145.


Header Page 18 of 145.

Trung Quc, Nht Bn, Hn Quc, i Loan, Thỏi Lan, Malaysia. S lt khỏch
quc t n Qung Nam luụn nm v trớ túp 5 ca c nc ( Bỏo Qung Nam,
2006).
Bng 2.2: C cu khỏch quc t n Vit Nam theo quc tch t nm 2010
2013


17531

20953

27726

4255

2764

4112

3415

Anh

37309

34103

50582

50887

Bỉ

5317

4932


Italia

6237

6220

9538

7780

Nauy

2813

2760

4510

4592

Pháp

54808

52984

64897

58713


Newzealand

7998

8230

11048

6695

úc

64630

65809

90625

82627

Canada

11795

11336

13758

11850

2192

Hµn Quèc

3803

3420

5445

2853

10660

7474

7158

4123

TrungQuèc

7991

8898

13343

22026


Đài Loan

812

1447

2554

1094

Hongkong

234

215

114

3

1374

946

7605

7274

Laos


63821

67362



Th¸i Lan

Malaisia

Ấn độ
Các nước khác

(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam)

Footer Page 19 of 145.


Header Page 20 of 145.

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ số lượt khách quốc tế đến Quảng Nam năm 2010 – 2012
Đơn vị : Lượt khách

( Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam )
Qua quan sát biểu đồ, có thể thấy số lượng khách quốc tế đến Quảng Nam
có xu hướng tăng dần qua các năm. Với số lượt khách quốc tế đến tham quan cụ thể
là năm 2010, Quảng Nam đón được 472362 lượt khách đến, năm 2011 con số đã
tăng lên 512617 lượt, và đến năm 2012 đạt 541190 lượt khách quốc tế. Với kết quả
trên, đây là tín hiệu đáng mừng cho thấy du lịch Quảng Nam đã vững vàng hơn với
lượng khách tăng ổn định, ít chịu ảnh hưởng của những biến động về kinh tế.

2000

Doanh thu

1500
1000
500
0
2010

2011

2012

Năm

( Nguồn : Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam )
Trong năm 2012, du lịch Quảng Nam có bước phát triển vượt bật, mang lại
doanh thu lớn cho tỉnh nhà. Tốc độ doanh thu bình quân năm 2012 tăng 37,4% so
với năm 2010
2.3. Đánh giá chung về thực trạng khai thác khách du lịch quốc tế của tỉnh
Quảng Nam
2.3.1. Tài nguyên du lịch
Quảng Nam là vùng đất có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch.
Nơi đây có biển và trên 125 km bờ biển với nhiều bãi tắm sạch đẹp ở khu vực Điện
Bàn, Hội An, Tam Kỳ, Núi Thành... Ngoài ra còn có 15 hòn đảo lớn nhỏ ngoài
khơi, 10 hồ nước (với 6000 ha mặt nước, khoảng 11000 ha rừng xung quanh khu
vực hồ và 40 đảo trong các hồ) là một trong những tiềm năng lớn để phát triển du
lịch Quảng Nam. Môi trường không bị ô nhiễm, độ dốc ít, cát mịn và độ mặn vừa
phải, nước biển xanh và đặc biệt khí hậu biển rất lý tưởng cho phát triển các loại

giao lưu tại các khách sạn. Ngoài ra các cửa hàng ăn uống tư nhân nhỏ phục vụ chủ
yếu các món ăn Việt bình dân nằm ở khu vực thành phố Hội An.
2.3.3. Nguồn nhân lưc du lịch Quảng Nam
Du lịch Quảng Nam đang đứng trước một khó khăn lớn là thiếu lao động
quản trị doanh nghiệp du lịch. Với 3.500 lao động làm việc tại các doanh nghiệp du
lịch, chiếm 31% tổng số lao động trực tiếp tham gia trong ngành du lịch - dịch vụ,
trong đó có 1.400 lao động đã qua đào tạo chuyên môn du lịch, chiếm 35%. Lực
lượng trong ngành du lịch rất trẻ, 93% có độ tuổi dưới 45, được đào tạo chuyên

Footer Page 22 of 145.


Header Page 23 of 145.

môn và ngoại ngữ, có thể đáp ứng yêu cầu lao động hiện tại nhưng số lao động
được đào tạo chuyên môn cao từ đại học đến sau đại học chưa nhiều, hiện chỉ có
20%. Do đó, đội ngũ lao động quản trị doanh nghiệp còn thiếu và yếu, hầu hết đều
là người đến từ các địa phương khác và nước ngoài.
Ước tính năm 2010, nguồn nhân lưc du lịch Quảng Nam có khoảng 18.715
lao động trong ngành du lịch, trong đó có 6.135 lao động trực tiếp làm việc trong
các cơ quan quản lý du lịch, công ty lữ hành, khách sạn, nhà hàng và các cơ sở dịch
vụ khác.
2.3.4. Hoạt động kinh doanh lữ hành và hướng dẫn viên du lịch quốc tế
Toàn tĩnh đã có 5 đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế là Trung tâm Lữ hành
quốc tế Hội An, Công ty trách nhiệm hữu hạn An Phú, Doanh nghiệp tư nhân Lê
Nguyễn, Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dich vụ Du lịch Nguyên
Khang, Công ty trách nhiệm hưu hạn Dịch vụ Hoa Hồng. Đội ngũ hướng dẫn viên
du lịch trên địa bàn tỉnh không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Hiện
tại trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có 197 hướng dẫn viên du lịch, ( trong đó có 181
hướng dẫn tiếng Anh, 11 hướng dẫn viên tiếng Pháp, 2 hướng dẫn viên tiếng Trung,

động tự nhiên, rừng nguyên sinh. Đặc biệt thu hút du khách tham quan làng văn
hoá các dân tộc thiểu số... Gắn du lịch đường Hồ Chí Minh với tuyến du lịch
đường bộ qua cửa khẩu Đắc ốc khai thác thị trường khách từ Thái Lan đến Lào và
vào Việt Nam.
Các dự án ưu tiên đầu tư: cơ sở hạ tầng du lịch, cơ sở lưu trú, dịch vụ phục
vụ du khách, xây dựng các thiết chế văn hoá, làng văn hoá. Các điểm du lịch sinh
thái như rừng nguyên sinh, thác nước, suối nước nóng được tỉnh quan tâm và đầu
tư để phát triển du lịch. Tham quan các bản dân tộc Cơ Tu, Xê Đăng, Cor,
GỉeTriêng...
2.3.6. Môi trường du lịch của tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam là vùng đất đa dạng về tài nguyên, cả về tài nguyên tự nhiên và
tài nguyên nhân văn. Vì vậy, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển sản phẩm du
lịch như du lịch tham quan di sản văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng biển, du lịch sinh
thái, du lịch tham quan các làng nghề, du lịch cộng đồng và tìm hiểu bản sắc văn
hóa các dân tộc, du lịch tham quan di tích lịch sử-cách mạng, du lịch Caravan, du
lịch tàu biển, du lịch mua sắm, du lịch công vụ, du lịch thể thao biển…Với các loại
hình đa dạng như vậy sẽ thu hút được số lượng lớn khách du lịch quốc tế.
Hơn nữa, Quảng Nam ở vào vị trí trung độ của đất nước, nằm trên trục giao
thông Bắc - Nam về đường sắt, đường bộ và đường biển và đường hàng không, có
đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 14D, 14B, 14E nối đồng bằng ven biển qua các huyện
trung du miền núi của tỉnh đến biên giới Việt - Lào và các tỉnh Tây Nguyên; trong
tương lai gần sẽ nối với hệ thống đường xuyên Á tạo vị trí thuận lợi cho tỉnh về

Footer Page 24 of 145.


Header Page 25 of 145.

giao lưu kinh tế với bên ngoài. Hơn thế nữa Quảng Nam nằm giữa thành phố Đà
Nẵng (Trung tâm kinh tế lớn của khu vực miền Trung) và khu vực phát triển công

Footer Page 25 of 145.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status