Luận văn
Tăng cường thu hút khách du lịch quốc
tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2020
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch từ lâu đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi
tích cực của con người. Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã
hội phổ biến trên toàn thế giới, nó được xem như là một nhu cầu không thể thiếu
của con người và được coi là một tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng cuộc sống.
Nhận thức được xu thế trên, trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX,
Đảng và Nhà nước ta đã đề ra đường lối: “Phát triển du lịch thật sự trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn” [2].
Ngành du lịch Quảng Ngãi cùng với ngành du lịch của các tỉnh khác đã vẽ lên
một bức tranh khá sinh động và tươi sáng với nhiều cố gắng và thành quả góp phần
đáng kể vào sự nghiệp phát triển du lịch quốc tế chung của quốc gia. Đến với
Quảng Ngãi, chúng ta sẽ cảm nhận được cái nắng gió của vùng đất của miền Trung
với những bờ biển uốn lượn dài tuyệt đẹp và một chiều dài lịch sử lâu đời với các di
tích lịch sử khá nổi tiếng. Hình ảnh ấy đã thu hút không ít du khách phải một lần đặt
chân đến mảnh đất này. Vì thế mà lượng khách du lịch quốc tế đến đây ngày một
gia tăng. Năm 2010, tỉnh đã đón 26.325 lượt khách quốc tế, đóng góp gần 8% tổng
số lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Tuy nhiên, doanh thu của ngành du
lịch tỉnh chỉ đạt 215 tỷ VND so với 25.305,1 tỷ VND của cả nước, con số trên chưa
thực sự tương xứng với số lượng khách du lịch [26], [19].
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng trên chính là khả năng thu hút khách
du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi còn chưa thật sự mạnh, kèm theo đó là khả năng
cung cấp dịch vụ còn nhiều hạn chế. Một mặt là do tình trạng cơ sở hạ tầng còn yếu
kém, thái độ nhân viên không chuyên nghiệp, tình trạng tranh giành khách vẫn còn
+ Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thu
hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi.
+ Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: đề tài tập trung nghiên cứu khả năng thu hút khách du
lịch đến Quảng Ngãi đặt trong quan hệ đối sánh với các trọng điểm du lịch miền
Trung như Nha Trang, Đà Nẵng, Huế. Ngoài ra, còn tìm hiểu mở rộng kinh nghiệm
của một số quốc gia trên thế giới.
- Về thời gian:
3
Phân tích thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi trong giai
đoạn từ năm 2001 đến 2010.
Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng
Ngãi trong giai đoạn từ 2011 đến 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài, người viết sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp, tổng hợp,
phân tích và so sánh các số liệu thứ cấp thu thập được. Từ đó đưa ra các kết quả
nghiên cứu và các giải pháp thích hợp. Các thông tin được trích dẫn từ nhiều nguồn
khác nhau như các phương tiện thông tin đại chúng, sách, báo, Internet, các tạp chí
chuyên ngành và tài liệu từ các Sở, Ban, Ngành liên quan.
5. Kết cấu nội dung đề tài
Nhất quán với mục tiêu nghiên cứu, ngoài mở đầu, mục lục, kết luận chung và
danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được kết cấu thành 3 chương có trọng
tâm, trọng điểm. Khóa luận được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về du lịch quốc tế và sự cần thiệt phải tăng cường thu
hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011 – 2020.
- Chương 2: Tình hình thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn
2001 - 2010.
- Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường thu hút khách du
Du lịch từ lâu đã trở thành một đề tài hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu. Tuy
nhiên, thật khó để tìm được một khái niệm thống nhất về du lịch, bởi khi tiếp cận
những cách thức và góc độ khác nhau, ta lại có những khái niệm khác nhau về du
lịch [5]:
- Tiếp cận trên góc độ người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú
tạm thời ở ngoài nơi lưu trú thường xuyên của cá thể, nhằm thỏa mãn các nhu cầu
khác nhau, với mục đích hòa bình và hữu nghị [5]. Nó vừa là cơ hội để du khách
tìm kiếm những kinh nghiệm sống mới vừa là một khoảng thời gian nghỉ ngơi, thư
giãn sau những ngày tháng làm việc căng thẳng.
- Tiếp cận trên góc độ người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức
các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thỏa mãn, đáp ứng nhu cầu của người đi
du lịch [5]. Du lịch được xem như là một cơ hội kinh doanh để tạo ra lợi nhuận.
- Tiếp cận trên góc độ của chính quyền địa phương: Du lịch là việc tổ chức các
điều kiện về hành chính, cơ sở hạ tầng để phục vụ du khách, thông qua đó tăng các
nguồn thu nhập từ các khoản thuế, đẩy mạnh cán cân thanh toán và nâng cao mức
sống vật chất và tinh thần cho người dân địa phương [5].
- Tiếp cận trên góc độ của cộng đồng dân sở tại: Du lịch là một hiện tượng
kinh tế - xã hội, vừa đem lại cơ hội tìm hiểu văn hóa vừa giúp giải quyết vấn đề việc
làm tại địa phương [5].
Người viết xin đơn cử hai khái niệm tiêu biểu để có thể có một cái nhìn tổng
quát nhất về du lịch
6
Thứ nhất, theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), một tổ chức quốc tế trực
thuộc Liên Hợp Quốc, chịu trách nhiệm về những vấn đề liên quan đến du lịch của
toàn thế giới, “Du lịch là đi đến một một nơi khác xa nơi thường trú, để giải trí, nghỉ
dưỡng trong thời gian rỗi. Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người
du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá, và tìm hiểu, trải nghiệm
hoặc trong mục đích nghỉ ngơi giải trí thư giãn, cũng như mục đích hành nghề và
- Khái niệm về khách du lịch được chấp thuận tại Hội nghị tại Rôma (Ý) do
Liên hiệp quốc tổ chức về các vấn đề du lịch quốc tế và đi lại quốc tế năm 1963:
“Khách du lịch quốc tế” là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư
trú thường xuyên của họ trong thời gian ít nhất là 24 giờ” [6].
- Khái niệm của Hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan năm 1989: “Khách du
lịch quốc tế” là những người đi thăm một đất nước khác, với mục đích tham quan,
nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian nhỏ hơn 3 tháng, những người
khách này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời gian lưu trú ở đó
khách trở về nơi ở thường xuyên của mình” [6].
- Tại khoản 3, điều 34, Chương V, Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, “khách
du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt
Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra
nước ngoài du lịch” [24].
Khách du lịch quốc tế sẽ không bao gồm những người sau:
Những người qua lại biên giới thường xuyên, bao gồm cả những người khách
đi cùng với họ;
Những người sống gần biên giới nhưng làm việc ở nước bên kia biên giới;
Những quan chức ngoại giao, lãnh sự và thành viên các lực lượng vũ trang
được phân công đến một nước khác, bao gồm cả tùy tùng và những người đi
cùng;
Những người tị nạn hoặc sống du mục;
Những người quá cảnh không chính thức nhập cư vào một nước, chẳng hạn
những hành khách máy bay chỉ ở trong phòng chờ chuyển tiếp trong một thời
gian ngắn, hoặc những hành khách tàu thủy không được phép lên bờ, bao gồm
cả những người được chuyển tải trực tiếp từ sân bay đến các địa điểm khác. [33]
8
2. Đặc điểm du lịch quốc tế
Du lịch quốc tế mang những đặc điểm chung của du lịch, cộng thêm với yếu tố
thể phát triển nếu không có sự liên kết các tuyến, điểm du lịch trong phạm vi quốc
gia và toàn thế giới.
Thứ sáu, du lịch quốc tế mang tính chi phí và tính tổng hợp cao. Mục đích của
các du khách là hưởng thụ các sản phẩm du lịch, do vậy họ sẵn sàng chi trả những
khoản chi phí cho chuyến đi của mình về các khoản dịch vụ như: ngủ nghỉ, ăn uống,
đi lại và nhiều khoản chi phí khác nhằm thực hiện mục đích đi chơi, giải trí, tham
quan. Về tính tổng hợp, sản phẩm du lịch là sản phẩm tổng hợp được biểu hiện bằng
nhiều loại dịch vụ. Phạm vi hoạt động của ngành kinh tế, du lịch bao gồm: khách
sạn, giao thông và các cửa hàng bán đồ lưu niệm. Ngoài ra, còn có bộ phận sản xuất
tư liệu phi vật chất như văn hóa, giáo dục, tôn giáo, hải quan, tài chính, bưu điện.
3. Các xu hướng du lịch quốc tế phổ biến hiện nay
Một số xu hướng du lịch quốc tế phổ biến trên thế giới được khách du lịch ưa
thích, chẳng hạn như:
4S: SEA + SUN+ SAND +SHOP: bao gồm tắm biển, phơi nắng, đi dạo bãi
biển và mua sắm.
3F: FLOWRE +FAUNA + FOLKLORE: bao gồm đi xem các động vật quí
hiếm, thực vật quí hiếm và tìm hiểu văn hóa dân gian đặc sắc.
3S: SIGHTSEEING + SPORT + SHOPPING: bao gồm đi chiêm ngưỡng và
thưởng thức các cảnh đẹp, tham gia các môn thể thao mạo hiểm, và đi dạo phố kết
hợp mua sắm.
5H: HOSPITALITY + HONESTY + HERITAGE + HISTORY + HEROIC:
khách du lịch thường tìm đến các địa điểm du lịch mà ở đó người hiếu khách, chân
thật, có nhiều di sản, bề dày lịch sử và truyền thống anh hùng để tìm hiểu.
Ngoài ra còn có loại hình du lịch đã phổ biến trên thế giới nhưng chưa phát
triển ở nước ta như:
Du lịch thời trang thường được tổ chức ở Paris hay Milan.
Hình thức điện ảnh đi trước du lịch theo sau: ví dụ như thăm trường quay, rạp
chiếu phim công nghệ cao, gặp gỡ thần tượng điện ảnh…tại Hollywood. [22]
4. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thu hút khách du lịch quốc tế
Thứ nhất là tính thời vụ đến hoạt động du lịch