LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, MICE là loại hình du lịch rất nhiều nước tập
trung phát triển vì doanh thu của loại hình này lớn hơn rất nhiều so với các loại
hình du lịch khác như du lịch cá nhân hay nhóm du lịch. Theo thống kê từ Tổ chức
du lịch thế giới, thị trường du lịch MICE toàn cầu hàng năm trị giá khoảng 300 tỷ
USD và tạo guồng máy hoạt động kinh tế gần 5,490 tỷ USD, chiếm hơn 10% của
thế giới.
Việt Nam hiện đang được xem là điểm sáng trong khu vực về địa điểm tổ
chức MICE do hàng loạt những sự kiện quốc tế lớn được tổ chức hết sức thành
công trong thời gian qua như SEAGME 22, ASEM 5, Hội nghị APEC 2006, Hoa
hậu Hoàn vũ 2008, Đại hội thể thao châu Á trong nhà Asia Indoor Game 3, Diễn
đàn du lịch ASEAN 2009 (ATF-200), Đại lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội…Hai
điểm đến nổi bật thu hút du khách MICE hiện nay là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Minh, các trung tâm kinh tế, thương mại, văn hóa lớn của cả nước. Trong bối cảnh
tình hình an ninh tại một số điểm du lịch nổi tiếng của khu vực chưa ổn định, Việt
Nam nổi lên như là một điểm đến an toàn và thân thiện trong du khách quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích kinh tế rõ ràng, du lịch MICE cũng có
những tác động lên xã hội cũng như môi trường nước ta. Các yếu tố xã hội-văn
hoá và cảnh quan môi trường lại góp phần quan trọng tạo nên bạn bè quốc tế. Nói
cách khác, hai yếu tố xã hội và môi trường đã và đang trở thành những bộ phận
không thể thiếu cấu thành nên sức mạnh của hoạt động du lịch MICE Việt Nam.
Vì vậy, để hoạt động thu hút du lịch quốc tế bằng loại hình du lịch MICE của nước
ta đem lại những lợi ích không chỉ về kinh tế mà cả về xã hội lẫn môi trường thì
một hướng phát triển bền vững, lâu dài là cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn đó, cùng với mong muốn tìm kiếm những giải pháp
phù hợp nhằm đẩy mạnh hơn nữa sự tăng trưởng của du lịch MICE tại Việt Nam
trong hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế, đề tài mà tác giả tiến hành nghiên
1
cứu mang tên: “ Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế bằng loại hình du
lịch MICE ở Việt Nam giai đoạn 2010-2015’’
Chương 2: Thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế MICE ở Việt
Nam
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế
theo loại hình du lịch MICE ở Việt Nam giai đoạn 2010-2015
Dù đã nỗ lực và hết sức mình nhưng do hạn chế về mặt kiến thức chuyên
ngành, về kinh nghiệm thực tế, về thời gian nghiên cứu và nguồn tư liệu, thông tin
còn tương đối ít nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót về mặt nội dung,
phương pháp nghiên cứu cũng như trong quá trình phân tích, đánh giá các thông
tin số liệu. Tác giả mong muốn nhận được sự đóng góp, xây dựng từ quý thầy cô
nhằm nâng cao tính khả dụng của những vấn đề tác giả đưa ra.
Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Tiến sĩ Vũ Hoàng Nam-
Giảng viên hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tác giả hoàn thành khóa luận
này.
Sinh viên thực hiện
Lê Thu Trang
3
CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆC THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ
THEO LOẠI HÌNH DU LỊCH MICE
I. Khái quát chung về du lịch MICE và phát triển du lịch bền vững
1. Khái quát chung về du lịch MICE
1.1. Khái niệm
MICE là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự
kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác. MICE – viết tắt
của Meeting ( hội họp); Icentive (khen thưởng); Convention/ conference (hội nghị,
hội thảo) và Events/Exhibition (triển lãm). Tên đầy đủ tiếng anh là Meeting
Incentive Conference Event [1]. Cụ thể:
Gặp gỡ, hội họp (Meeting): các cuộc họp nội bộ của công ty, trong ngành
hoặc các sự kiện lớn
Khen thưởng (Incentive): có tính chất như Meeting, nhưng những cuộc hội
chương trình MICE thường có nội dung chân phương. Những điểm-tuyến tham
quan của khách MICE là những điểm du lịch phổ biến, những nơi có danh lam
thắng cảnh đẹp hay gắn với các trung tâm mua sắm.
Một đặc trưng nữa của du lịch MICE là không có tính vụ mùa rõ rệt. Việc
tổ chức chương trình MICE thường do người mua dịch vụ lên kế hoạch trước một
thời gian dài, do đó kinh doanh MICE là một biện pháp hữu hiệu để hạn chế tính
mùa vụ trong hoạt dộng kinh doanh du lịch nhằm tối ưu hóa việc khai thác các cơ
sở vật chất sẵn có.
Chi tiêu của khách MICE không chỉ cao gấp 6 lần chi tiêu của các khách
du lịch thông thường mà còn được phân bố cả trong lẫn ngoài hội nghị- hoạt động
cơ sở ban đầu của chuyến đi. Một nghiên cứu cho thấy, một khách MICE chi 1
đồng khi họ tham dự một sự kiện nào đó của MICE thường sẽ chi đến 15 đồng cho
các hoạt động bên ngoài khác. Đó là mức chi tiêu ở các nước phát triển, còn tại các
nước đang phát triển thì mức chi tiêu có thể lên tới 25 đồng cho các hoạt động bên
ngoài [20]. Do đó, loại hình này không chỉ đòi hỏi các dịch vụ cao cấp từ ăn uống,
lưu trú, vận chuyển cho đến các dịch vụ kèm theo như hướng dẫn viên, nhân viên
đón tiếp tại các cửa khẩu; mà còn yêu cầu có sự liên kết bên ngoài với các loại
hình và du lịch khác.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới du lịch MICE
1.3.1. Nhân tố tự nhiên
Đây là một nhân tố quan trọng và ảnh hưởng nhiều tới tiềm năng phát triển
du lịch MICE. Bởi lẽ, khách du lịch MICE không chỉ đòi hỏi có được môi trường
5
phù hợp với những mục đích chính trong các cuộc họp, hội nghị, hội thảo mà còn
mong muốn có không gian thăm quan, giải trí thư giãn thực sự đảm bảo. Đó là các
yếu tố về môi trường cảnh quan, khí hậu đường xá, các công trình xây dựng tiện
nghi…Việc quản lí, tổ chức và xây dựng một môi trường vừa tự nhiên, giữ được
ững vẻ đẹp hoang sơ mà vẫn có những nét hiện đại năng động là hết sức cần thiết.
Vấn đề này hiện vẫn đang chờ những giải pháp hiệu quả của những nhà hoạch
định.
gian văn hóa, xã hội mới lạ cũng luôn được chú ý. Hiện nay, Việt Nam được xem
la một nước có tiềm năng phát triển du lịch MICE bởi xã hội Việt Nam mang
những nét văn hóa đặc trưng pha trộn giữa cổ điển và hiện đại, truyền thống và và
sôi động. Nước ta đang trên đà phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội nên việc xây
dựng một nền văn hóa đa phong cách, đa tính chất là rất quan trọng. Đó là việc
luôn giữ gìn nét truyền thống, đồng thời không ngừng tiếp thu những nét văn hóa
mới mẻ hiện đại của thế giới. Đây là yếu tố ảnh hưởng nhiều tới mục tiêu của
khách du lịch MICE.
1.3.4. Kinh tế - chính trị
Yếu tố kinh tế - chính trị ảnh hưởng rất lớn tới việc xây dựng hình ảnh về
một môi trường du lịch MICE hiệu quả. Yếu tố này bao gồm nên tảng kinh tế phát
triển mạnh mẽ, chất lượng cơ sở hạ tầng tốt, đời sống người dân được duy trì ổn
định, anh ninh tốt, không có những rối loạn trong đời sống xã hội. Khi hai vấn đề
trên song hành phát triển, gắn chặt với nhau sẽ tạo nên một môi trường an sinh xã
hội rất tốt, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch, đặc biệt với khách du
lịch MICE. Theo các nhà hoạch định, Việt Nam đang có những bước phát triển
mạnh mẽ cả về kinh tế lẫn chính trị, dần xây dựng một xã hội vững mạnh hơn.
Chính điều đó đã tạo nên sự tin tưởng, sức hấp dẫn đối với những đối tượng khách
du lịch mong muốn có một môi trường an toàn để thực hiện các chuyến nghỉ
dưỡng, tham quan hay hội họp…Đây là yếu tố đòi hỏi những chính sách phát triển
chiến lược quan trọng của Chính phủ.
2. Khái quát chung về phát triển du lịch bền vững
2.1. Phát triển bền vững:
Phát triển bền vững ( Sustainable development) là thuật ngữ mới xuất hiện
lần đầu vào năm 1987 trong báo cáo của ủy ban Môi trường và phát triển thế giới
(World Committee of environment and Development, WCED), tựa đề “Tương lai
của chúng ta”, theo đó ủy ban Liên hợp quốc tế về Môi trường và Phát triển
(UNCED): “phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện taị, nhưng
7
không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Quan điểm
8
trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát
triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con người”.
Ngoài ra, Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC) 1996, có định
nghĩa: “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và
vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du
lịch tương lai”. Đây là một định nghĩa ngắn gọn dựa trên định nghĩa về “phát triển
bền vững” của UNCED, đảm bảo được tính khái quát của việc phát triển bền vững
trong hoạt động du lịch.
Trong khuôn khổ khóa luận này, khái niệm “phát triển du lịch bền vững” sẽ
được hiểu theo nội hàm định nghĩa của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới
(WTTC), 1996.
Theo đó, sự phát triển của một hoạt động du lịch theo hướng bền vững sẽ
được phản ánh qua 3 phương diện: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo
vệ môi trường.
2.2.2. Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững
Nguyên tắc của phát triển du lịch bền vững là những yêu cầu cơ bản đã được
xác định để dùng làm cơ sở cho sự phát triển của hoạt động du lịch để đạt tới mức
bền vững.
Theo Hội đồng khoa học, Tổng cục du lịch, 2005 [21] cũng đã đề ra 12
nguyên tắc của du lịch bền vững, trong đó có nhiều nguyên tắc chứa đựng sự kết
hợp các yếu tố và ảnh hưởng của môi trường, kinh tế và xã hội; bao gồm ( không
xếp theo thứ tự ưu tiên):
• Hiệu quả kinh tế
• Sự phồn thịnh cho địa phương
• Chất lượng việc làm
• Công bằng xã hội
• Sự thỏa mãn của du khách
• Khả năng kiểm soát của địa phương
• An ninh cộng đồng
số về tuổi thọ (LI); chỉ số về thu nhập (YI) và chỉ số về phát triển con người
(HDI). Ngoài ra, tác động về mặt xã hội – văn hóa của hoạt động du lịch còn được
xem xét qua các đóng góp của nó trong việc tạo ra công ăn việc làm, giảm bớt
khoảng cách thu nhập giữa giàu với nghèo trong xã hội. Hơn nữa, gần đây, phát
triển du lịch bền vững còn đề cập đến việc xây dựng “văn hóa xanh”. Văn hóa
xanh là nền văn hóa phù hợp với sự phát triển bền vững, đó là toàn bộ các hoạt
động văn hóa của con người dựa trên đạo đức thế giới và cuộc sống cộng đồng,
10
các quan hệ xã hội như thái độ của con người hướng tới sự tiết kiệm, giảm nghèo
đói, nâng cao chất lượng cuộc sống. Trong “văn hóa xanh” có cả thái độ đúng đắn
của con người đối với các hiện tượng tiêu cực trong xã hội như: chống ô nhiễm
môi trường, bài trừ các tệ nạn xã hội đang làm mai một đi cuộc sống tốt đẹp của
cộng đồng.
Độ đo về môi trường:
Độ đo về môi trường có thể đánh giá thông qua chất lượng các thành phần
môi trường như đất, nước, không khí, sinh thái; mức độ duy trì các nguồn tài
nguyên không tái tạo; việc sử dụng, khai thác hợp lý các tài nguyên không tái tạo;
nguồn vốn của xã hội dành cho bảo vệ môi trường, khả năng kiểm soát của chính
quyền địa phương đối với các hoạt động kinh tế - xã hội, tiềm ẩn các hoạt động
tiêu cực đối với môi trường, ý thức bảo vệ môi trường của người dân. Đặc biệt,
phát triển bền vững trong hoạt động du lịch còn chú trọng xem xét đến việc xây
dựng cơ sở hạ tầng như nhà cửa, đô thị….phù hợp với yêu cầu duy trì cảnh quan
chung của môi trường để đảm bảo khai thác dài lâu các sản phẩm du lịch.
Tóm lại, phương pháp đánh giá dựa theo các yêu cầu tổng quát về phát triển
bền vững cho phép mô tả được sự phát triển của hoạt đông du lịch trên chiếc
“kiềng ba chân” kinh tế - xã hội- môi trường.
II. Ảnh hưởng của du lịch MICE đến sự phát triển du lịch bền vững
1. Tác động của MICE đối với kinh tế - chính trị
MICE là một loại hình du lịch mới xuất hiện nhưng đã trở thành mũi nhọn
phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia vì mang lại nguồn thu ngoại tệ dồi dào. Khách
Du lich MICE đã trở thành động lực chính thúc đẩy tiến bộ xã hội và đa dạng
văn hóa nhờ có sự giao lưu giữa các nền văn hóa khác nhau thông qua lượng du
khách quốc tế. Cũng nhờ có sự giao lưu văn hóa này mà các quốc gia có cái nhìn
thân thiện hơn về văn hóa của nước còn lại cũng như hòa nhịp theo xu hướng toàn
cầu hóa và hội nhập kinh tế.
3. Tác động của MICE đối với môi trường
Du lịch MICE mang lại những tín hiệu đáng mừng vì đã góp phần tích cực
trong việc bảo vệ môi trường. Hoạt động du lịch này cung cấp những sáng kiến
cho việc làm sạch môi trường trường thông qua các chương trình quy hoạch cảnh
quan, thiết kế xây dựng các cơ sở hạ tầng như sân bay, đường sá, khách sạn, khu
resort.
12
MICE cũng hưởng ứng mạnh mẽ khẩu hiệu “du lịch xanh”, thân thiện và bền
vững cho môi trường. Mặc dù thu hút một lượng lớn khách du lịch quốc tế nhưng
du lịch MICE vẫn luôn đảm bảo vấn đề môi trường và coi đây như một yếu tố
quyết định sự phát triển bền vững của loại hình du lịch MICE.
III. Bài học kinh nghiệm từ các nước trong khu vực
1. Singapore
Năm 2008, Singapore đứng vị trí thứ 3 với 30% lựa chọn từ hàng trăm công
ty, tập đoàn trên khắp khu vực. Đến năm 2009, Singapore giữ vị trí thứ 4 sau
Trung Quốc (đứng hạng 1) và Hồng Kông, Thái Lan (đồng hạng 2) với việc đăng
cai trên 5.000sự kiện kinh doanh MICE. Thế mạnh du lịch Singapore chính là một
hệ thống CSHT-KT đồng bộ mang đẳng cấp quốc tế và một giao hòa trong văn
hóa, nghệ thuật giải trí, mua sắm và ẩm thực giữa Đông và Tây. Năm năm liên tiếp
Singapore được bình chọn là “Thành phố có môi trường kinh doanh được yêu
thích nhất” bởi độc giả tạp chí Time- một trong những tạp chí duy nhất trên thế
giới.
Đối với những hội nghị lớn, Singapore đem đến nhiều lựa chọn về địa điểm
tổ chức như: Trung tâm hội nghị và triển lãm quốc tế Suntec Singapore, Singapore
Expo, trung tâm hội thảo Raffes City, và trung tâm Hội nghị Harbourfront. Tất cả
sắc đẹp lớn nhất thế giới là Hoa Hậu Thế giới và Hoa Hậu Hoàn Vũ. Riêng cuộc
thi Hoa Hậu Thế Giới đã được tổ chức liên tiếp ba năm tại quốc gia này. Trong
suốt quá trình tổ chức sự kiện này, hình ảnh về đất nước con người, văn hóa Trung
Quốc xuất hiện liên tục trên các phương tiện truyền thông đại chúng trên khắp thế
giới và nhất là đêm chung kết hai cuộc thi này được truyền hình trực tiếp trên khắp
các châu lục với hơn 1,5 tỉ người xem. Điều này đã tạo nên một hiệu quả quảng bá
có khả năng lan truyền mạnh mẽ giúp ngành du lịch Trung Quốc nói chung và du
lịch MICE nói riêng có được sự tăng trưởng nhảy vọt trong giai đoạn vừa qua.
Hồng Kông
Hồng Kông sở hữu một hệ thống CSHT-KT thuộc loại tiên tiến nhất khu
vực, đặc biệt là các trung tâm hội nghị. Nổi bật nhất là trung tâm hội nghị Hồng
Kông (HKCEC)- một trong những nơi hội tụ khách du lịch MICE lớn nhất Châu
Á- Thái Bình Dương hiện nay. Trung tâm được chính quyền Hồng Kông xây dựng
14
để tổ chức buổi lễ trao trả Hồng Kông cho Trung Quốc đã trở thành cơ hội khai
thác thị trường MICE của ngành du lịch Hồng Kông. Sự thật rất nhiều quốc gia và
doanh nghiệp đã chọn trung tâm này làm nơi tổ chức hội nghị kinh tế, chính trị,
văn hóa. Trung tâm hội nghị Hông Kông hằng năm thu hút trên 4,5 triệu lượt
khách/năm tham gia dự các sự kiện MICE được tổ chức tại đây. Nhờ sự đầu tư
trên mà vào năm 2008, Hồng Kông giữ vị trí thứ tư trong khu vực về tổ chức du
lịch MICE và đến năm 2008 thì vươn lên vị trí thứ hai sau Trung Quốc. Ủy ban du
lịch Hồng Kông cho biết chi tiêu khách du lịch MICE khoảng 10.757 HKD, cao
gấp hai lần chi tiêu của du khách thông thường, thời gian lưu trú bình quân là 4,8
đêm, cao hơn bình thường là 60%
Kết luận chương1 :
Chương 1 đã đưa ra những kiến thức tổng quát về du lịch MICE từ khái
niệm, đặc trưng, các nhân tố ảnh hưởng đến loại hình du lịch này, cho đến vai trò
của MICE trong việc phát triển du lịch bền vững. Việt Nam đang được xem là một
điểm sáng trong khu vực về địa điểm tổ chức MICE. Vì vậy việc tăng cường thu
hút khách du lịch quốc tế MICE đến với Việt Nam thông qua việc phát triển loại
biệt, Vịnh Hạ Long được UNESSCO công nhận là kì quan thiên nhiên thế giới.
Những vẻ đẹp do thiên nhiên ban tặng đó càng hấp dẫn, lôi cuốn khách du lịch
quốc tế.
2. Lợi thế từ sự đầu tư xây dựng CSHT – KT của Chính phủ Việt Nam
Theo nhận định của bà Võ Thị Thắng – Nguyên tổng cục trưởng TCDL trong
Hội nghị Tổng kết đầu tư CSHT – KT du lịch thời kì 2001 – 2005 thì vốn ngân
sách để tập trung cho sự phát triển CSHT – KT du lịch tại các tỉnh – Thành phố
16
trong giai đoạn đã đạt hiệu quả tương đối cao. Từ năm 2001, thực hiện chủ trương
tập trung cho sự phát triển du lịch theo công văn số 1095/CP-KTTH ngày
28/11/2000 về việc xây dựng các khu du lịch, ngân sách nhà nước đã được bố trí
hỗ trợ đâu tư cho CSHT-KT du lịch cho các địa phương. Dù không phải là nguồn
vốn lớn, nhưng nguồn vốn này giữ vai trò rất quan trọng trong việc thu hút các
nguồn lực khác.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nhà nước sẽ hỗ trợ vốn từ ngân sách để đầu tư
CSHT-KT du lịch cho các dự án thuộc khu du lịch đã được xác định tại chiến lược
phát triển du lịch Viêt Nam giai đoạn 2006-2010. Theo đó, Nhà nước sẽ hỗ trợ các
địa phương có khu du lịch xây dựng CSHT-KT như đường giao thông nối từ
đường trục chính đến các điểm, khu du lịch, cầu cảng, bến thuyền, bãi đỗ xe nhằm
tạo điều kiện thụận lợi để tiếp cận các địa điểm du lịch, các khu du lịch.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng qui định, đối với các địa phương thuộc các khu
du lịch quốc gia, mức hỗ trợ sẽ không quá 30 tỷ đồng/năm; đối với các địa phương
thuộc các khu du lịch chuyên đề thuộc địa bàn khó khăn, mức hỗ trợ không quá 25
tỷ đồng/năm; đối với các địa phương có khu du lịch thuộc địa bàn khó khăn không
quá 15 tỷ đồng/năm [24].
3. Khả năng nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ du lịch MICE của các
doanh nghiệp Việt Nam
Khai thác thị trường MICE là một trong những mục tiêu của chiến lược phát
triển du lịch Việt Nam, mà thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm có điều kiện
hơn bất kì một thành phố nào để phát triển sản phẩm dịch vụ tổng hợp này vì có
cho biết nhìn chung hệ thống cơ sở lưu trú thành phố tiếp tục khẳng định vị thế
hàng đầu trong cả nước, trong đó các khách sạn từ 3-5 sao có khả năng cạnh tranh
được với khách sạn trong khu vực về giá cả lẫn chất lượng. Ngoài ra, phương thức
bán hàng qua mạng đã được hầu hết các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn lớn áp
dụng. Hơn thế, một số doanh nghiệp còn chú trọng xây dựng những trang web
chuyên đề cho từng loại thị trường. Nếu việc quảng bá được thực hiện tốt thì thị
trường du lịch Việt Nam cũng không thua kém các nước khác trong khu vực như
Thái Lan, Singapore.
II. Tình hình thu hút khách du lịch quốc tế theo loại hình du lịch MICE ở
Việt Nam
18
Loại hình du lịch MICE đã xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1994. Tuy nhiên, du
lịch MICE chỉ thực sự nhận được sự quan tâm đầu tư từ phía nhà nước lẫn doanh
nghiệp từ năm 2000, và xuất hiện trên bản đồ du lịch MICE của thế giới kể từ sau
sự kiện Việt Nam tổ chức thành công Cuộc họp thượng đỉnh APEC 2006. Nhận ra
được tiềm năng phát triển rất lớn của loại hình du lịch này, Chính phủ Việt Nam
cùng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch đã mạnh dạn đầu tư mạnh
mẽ vào du lịch MICE và xác định đây là một trong những động lực phát triển
chính của ngành du lịch Việt Nam trong thời gian tới.
1. Hoạt động quảng bá du lịch quốc tế cho dịch vụ du lịch MICE của Việt
Nam:
1.1. Sử dụng phương tiện truyền thông quốc tế
Trong giai đoạn vừa qua, Chính phủ đã có những sự đầu tư đáng kể vào việc
quảng bá, giới thiệu du lịch Việt Nam trên các phương tiện truyền thông quốc tế.
Trong đó nổi bật nhất chính là việc quảng bá hình ảnh Việt Nam trên kênh truyền
hình CNN - kênh truyền hình uy tín của thế giới. Vào tháng 10/2007, đoạn phim
30 giây quảng bá du lịch Việt Nam đã phát sóng định kỳ trên kênh truyền hình
quốc tế CNN Châu Á. Đoạn phim này đã được phát sóng liên tiếp đến hết ngày
13/1/2008 vừa qua. Hãng CNN đã dành giờ vàng vào buổi sáng và buổi chiều đề
quảng cáo cho du lịch Việt Nam trên các kênh của CNN ở Châu Á như Hồng
dựng những website riêng nhằm quảng bá, giới thiệu về ngành du lịch của tỉnh,
thành phố. Trong đó website cua Sở Du lịch Hà Nội và TP.HCM đặc biệt quan tâm
đến MICE vì đây là hai điểm nổi bật thu hút khách MICE hiện nay.
Các công ty du lịch lữ hành, cung cấp dịch vụ MICE như website của Hanoi
Tourist, BenThanh Tourist, Viettravel và Fiditourist v.v…đã bắt đầu có những bài
viết, chuyên mục riêng biệt về du lịch MICE như một cách thể hiện quan tâm, đầu
tư của công ty vào loại hình này khi mà du lịch MICE mang đến cho họ những
nguồn thu không nhỏ. Ưu điểm của hầu hết các website quảng bá, giới thiệu du
lịch Việt Nam là đều có từ 2 ngôn ngữ cơ sở trở lên, giúp cho các DKQT thuận lợi
hơn trong việc tìm kiếm thông tin.
Tuy nhiên, hoạt động quảng bá du lịch MICE của các công ty kinh doanh
trong lĩnh vực này còn thiếu tính sáng tạo và chưa tích cực. Các tập đoàn, công ty
hoặc DKQT muốn tìm kiếm những thông tin cần thiết về du lịch MICE tại Việt
20
Nam thường gặp nhiều hạn chế do hầu hết các website du lịch ở nước ta chưa đăng
ký trên các công cụ tìm kiếm internet phổ biến trên thế giới, cũng như các website
được thiết kế thiếu chuyên nghiệp, hình ảnh kém sinh động, không tạo nên sự thu
hút đối với người truy cập, không được cập nhật thường xuyên và hạn chế ngôn
ngữ sử dụng.
1.2. Tổ chức và tham gia các hoạt động xúc tiến du lịch MICE
1.2.1. Tổ chức các sự kiện văn hóa, chính trị trong nước
Trong giai đoạn 2000-2010, Việt Nam đã tổ chức thành công 3 sự kiện quốc
tế lớn của khu vực và thế giới đó là SEAGAMES 22, ASEM 5 và Năm APEC Việt
Nam với hàng loạt các sự kiện lớn như Hội nghị cấp cao APEC, Hội nghị Bộ
trưởng, Du lịch APEC, Hội chợ du lịch APEC, Đại hội thể thao Châu Á trong nhà,
Cuộc thi Hoa hậu Hoàn Vũ v.v…Tất cả các sự kiện trên đều được bạn bè quốc tế
đánh giá rất cao từ khâu chuẩn bị cho đến khâu tổ chức, hậu cần và cũng chính
những sự kiện này đã đóng góp phần không nhỏ trong việc nâng cao vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát
triển của ngành du lịch Việt Nam, đặc biệt là du lịch MICE.
trọng trong việc đẩy mạnh sự phát triển của ngành du lịch trong nước, trong đó
trọng tâm chính là du lịch MICE – loại hình du lịch mà chính sự thành công của
các sự kiện trên đã chứng mình tiềm năng phát triển rất lớn của nó tại Việt Nam
trong tương lai. Sau sự kiện APEC 2006, ngành du lịch Việt Nam nói chung và du
lịch MICE nói riêng có những bước phát triển mạnh mẽ, Trong năm 2007 thì số dự
án đầu tư du lịch trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã lên tới 47 dự án với tổng
số vốn hơn1,86 tỷ USD, tăng 19,57% so với năm 2006, trong đó hơn 50% là các
dự án đầu tư xây dựng các khách sạn cao cấp cũng như các trung tâm thương mại
tầm cỡ quốc tế [14].
1.2.2. Tham gia các sự kiện xúc tiến du lịch quốc tế
Trong giai đoạn 2000-2010, các doanh nghiệp Việt Nam đã phối hợp các ban
ngành, cơ quan chức năng thực hiện các sự kiện văn hóa, lễ hội đặc sắc như các kỳ
Festival Huế, Tuần văn hóa - du lịch Hội An năm 2000, Festival hoa Đà Lạt, Con
đường gốm sứ ở Hà Nội, Festival biển Nha Trang. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp
còn phối hợp với Chính phủ thực hiện các chương trình “Năm du lịch Việt Nam”
được phát động vào năm 2003 với các chương trình cụ thể như Năm du lịch Hạ
22
Long 2005, Năm du lịch Điện Biên Phủ 2006, Năm du lịch Nghệ An 2007, Năm
du lịch Quảng Nam 2008 và Năm du lịch Tuyên Quang 2009 với chủ đề “Về thủ
đô gió ngàn – Chiến khu Việt Bắc” và gần đây là Chương trình đại lễ 1000 năm
Thăng Long – Hà Nội (2010)…
Tất cả những chương trình trên đều tạo nên một nét văn hóa đặc trưng của du
lịch Việt Nam, đây là môt trong những yếu tố giúp Việt Nam trở thành sự lựa chọn
của nhiều DKQT, trong đó có khách du lịch MICE. Như đã đề cập trên, du khách
MICE là những người có thu nhập cao, có địa vị trong xã hội và mức chi tiêu trung
bình vào các hoạt động ngoài hội nghị cao. Vì vậy, việc tổ chức nhiều chương
trình, lễ hội văn hóa đặc sắc sẽ thu hút được sự chú ý của du khách MICE khi lựa
chọn điểm đến, đồng thời góp phần nâng cao hơn mức chi tiêu của du khách
MICE và các dịch vụ và sản phẩm du lịch gắn liền với các lễ hội này.
Trong giai đoạn 2000-2010, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch MICE đã
nói riêng
- Tìm kiếm các đối
tác vừa và nhỏ bên
cạnh việc củng cố
quan hệ với các
đối - tác truyền
thống, đẩy mạnh
phát triển MICE
- Tiếp nhận thông
tin, học hỏi kinh
nghiệm và ký kết
hợp tác với đối tác
- Đẩy mạnh hoạt
động quảng bá
Việt Nam như một
điểm đến hấp dẫn
cho các chương
trình du lịch kết
hợp tổ chức hội
thảo, hội nghị.
Kết quả đạt được - Làm việc với
trên 100 đối tác là
các nhà tổ chức
MICE chuyên
nghiệp đến từ Mỹ,
Châu Úc, Châu Á,
Nam Mỹ - Việt
Nam được lựa
chọn là điểm đến
ưa chuộng nhất
25