tiểu luận giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến quảng nam - Pdf 24

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng
cao, họ không những có nhu cầu về vật chất mà còn có nhu cầu được thỏa mãn về
tinh thần như vui chơi, giải trí và du lịch. Do đó, du lịch là một trong những ngành
có triển vọng.
Ngành du lịch Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước khác trên thế
giới nhưng vai trò của nó thì không thể phủ nhận. Du lịch là một ngành “ công
nghiệp không khói ”, mang lại thu nhập lớn cho nền kinh tế, giải quyết công ăn việc
làm cho hàng vạn lao động, góp phần truyền bá hình ảnh Việt Nam ra toàn thế giới.
Nhận thức được điều này, Đảng và Nhà nước đã đưa ra mục tiêu xây dựng ngành
du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Quán triệt tinh thần đó thì ngành du lịch
Việt Nam nói chung và ngành du lịch Quảng Nam, một trong những tỉnh của đất
nước, nói riêng đã có những bước phát triển khá nhanh trong những năm trở lại đây.
Sự phát triển của du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên,
cơ sở hạ tầng, các điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hôi, chính trị…Trong đó, phát
triển của thị trường khách cũng là một trong những yếu tố quan trọng, đặc biệt là thị
trường khách quốc tế. Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường khách du lịch quốc tế
vào Việt Nam nói chung cũng như Quảng Nam trong thời gần đây còn những hạn
chế nhất định so với các nước trong khu vực. Trước tình hình đó, là một sinh viên
khoa Văn hóa – Du lịch, nguồn nhân lực tương lai của đất nước và hơn hết là một
người con của quê hương Quảng Nam, tôi mong muốn có những đóng góp bé nhỏ
của mình để góp một phần nào vào sự phát triển du lịch của tỉnh nhà. Vì vậy, tôi đã
chọn đề tài “Giải pháp thu hút khách du lich quốc tế đến Quảng Nam” để tìm hiểu
và nghiên cứu. Tôi cho rằng, đây là đề tài cấp thiết và có giá trị cả về mặt lí luận
cũng như thực tiễn.
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc hệ thống hóa các yếu tố ảnh hưởng và phân tích thực trạng
việc thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Nam, bài viết hướng đến việc đề xuất
một số giải pháp cũng như kiến nghị nhằm đẩy mạnh thu hút khách du lịch quốc tế
đến Quảng Nam.

1.1. Một số khái niệm liên quan đến du lịch
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở
thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay trên phạm vi toàn
thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống kinh tế –
xã hội. Du lịch đang phát triển mạnh mẽ và trở thành ngành kinh tế quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước nói riêng và của kinh tế toàn cầu nói
chung. Khái niệm du lịch đã xuất hiện từ khá lâu. Do hoàn cảnh khác nhau, dưới
mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu và định nghĩa về du
lịch không giống nhau.
Theo Gluman : “Du lịch là sự khắc phục về mặt không gian của con người
hướng đến một điểm nhất định nhưng không phải là nơi ở thường xuyên của họ”.
Dưới con mắt của Azar : “Du lịch là một trong những hình thức di chuyển
tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước
khác nếu không gắn với sự thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc ”.
Khái niệm cơ bản về du lịch được Liên hợp Quốc các tổ chức lữ hành chính
thức – IUOTO ( Internation Union of Official Travel Oragnizatinos ) đưa ra như
sau : “ Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư
trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, không phải để
làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…”
Theo giáo sư Khadginicolov – một trong những nhà tiền bối về du lịch của
Bulgarie đưa ra định nghĩa về khách du lịch : “ Khách du lịch là người hành trình tự
nguyện , với những mục đích hòa bình. Trong cuộc hành trình của mình họ đi qua
những chặng đường khác nhau và thay đổi một hoặc nhiều lần nơi cư trú của
mình”.
1.2. Khách du lịch quốc tế
1.2.1. Khái niệm
Khái niệm du lịch quốc tế
Du lịch quốc tế là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến
của khách du lịch nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau. Như vậy, trong du
lịch quốc tế, du khách phải đi du lịch vượt qua biên giới ít nhất hai quốc gia. Ví dụ:

chỉnh trang, sạch đẹp hơn, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, mức sống của
nhân dân được nâng cao. Hơn nữa, hoạt động du lịch quốc tế còn tạo ra khả năng
tiêu thụ tại chỗ cho hàng hóa và dịch vụ, thúc đẩy các ngành khác phát triển, khôi
phục nhiều lễ hội và làng nghề thủ công truyền thống, góp phần thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế cả nước và từng địa phương, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo
và vươn lên làm giàu, mở rộng giao lưu giữa các vùng miền trong và ngoài nước.
Mang lại ngoại tệ cho đất nước
Khách du lịch quốc tế mang theo tiền kiếm được từ quốc gia cư trú đến tiêu
ở nước đến du lịch, trong chừng mực nào đó được coi là xuất khẩu của nước đến du
lịch, do đó giúp cải thiện cán cân thương mại quốc gia. Vì vậy, nếu du lịch quốc tế
được duy trì một cách thường xuyên và phù hợp thì nó có thể được coi như một tác
nhân giữ ổn định nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu.
Thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển
Hoạt động liên doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành. Yêu cầu về sự hỗ
trợ liên ngành này là cơ sở cho các ngành như: giao thông vận tải, tài chính, bưu
điện, sản xuất đồ lưu niệm phát triển. Lượng khách du lịch quốc tế đến với quốc gia
càng nhiều thì giao thông quốc tế và hệ thống cơ sở hạ tầng của quốc gia như mạng
lưới giao thông công cộng, mạng lưới điện nước, các phương tiện truyền thông…
càng được mở rộng và hoàn thiện. Lượng khách du lịch quốc tế càng nhiều còn mở
ra thị trường tiêu thụ hàng hóa cho nền sản xuất xã hội.
Khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Các nhà kinh doanh thường tìm đến các lĩnh vực kinh doanh thu được lợi
nhuận cao trên mỗi đồng vốn bỏ ra. Một ưu điểm lớn của hoạt động kinh doanh du
lịch là vốn đầu tư ban đầu vào du lịch tương đối ít so với các ngành công nghiệp
nặng mà khả năng thu hồi vốn nhanh, thu hút nhiều lao động. Hơn nữa du lịch quốc
tế lại là một nguồn thu ngoại tệ đáng kể trong tổng doanh thu mà ngành du lịch
mang lại, vậy nên việc thu hút khách du lịch quốc tế sẽ giúp các nhà đầu tư nước
ngoài chú trọng và đẩy mạnh đầu tư hơn nữa vào ngành du lịch. Hơn nữa, hoạt
động du lịch phát triển sẽ kéo theo sự mở rộng giao lưu kinh tế văn hóa giữa các
vùng miền và với quốc tế. Có thể nói, thông qua hoạt động du lịch quốc tế mà các

cư quá cao ở những trung tâm kinh tế xã hội lớn.
Tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho nước làm du lịch
Thu hút khách du lịch quốc tế là phương tiện tuyên truyền quảng cáo hữu
hiệu cho hàng hóa nội địa ra nước ngoài thông qua du khách. Khách du lịch quốc tế
được làm quen tại chỗ với các mặt hàng công nghiệp, thủ công nghiệp của các quốc
gia. Một số mặt hàng làm cho du khách hài lòng cả về chất lượng, mẫu mã, và giá
cả. Khi về đến nước mình, khách du lịch sẽ giới thiệu cho bạn bè, người thân. Từ
đó, các mặt hàng sẽ được biết đến nhiều hơn và tạo điều kiện để các cơ sở đó phát
triển.
1.2.2.3. Ý nghĩa về mặt văn hóa – chính trị
Mở rộng giao lưu văn hóa
Hoạt động du lịch nói chung và du lịch quốc tế nói riêng phát triển kéo theo
sự mở rộng giao lưu kinh tế văn hóa giữa các vùng, miền và với quốc tế, góp phần
giáo dục truyền thống, đào tạo kiến thức và rèn luyện, bồi dưỡng thể chất, tinh thần
cho mọi tầng lớp nhân dân. Trên phạm vi thế giới, du lịch quốc tế được coi là
phương thức hữu hiệu xúc tiến quá trình giao lưu, trao đổi văn hóa giữa các quốc
gia và khu vực. Cụ thể, khách du lịch quốc tế đến thăm viếng một đất nước sẽ được
tiếp xúc và tìm hiểu phong tục, tập quán, truyền thống, thói quen của đất nước họ
đang du lịch qua việc giao tiếp với người dân bản địa cũng như đi tham quan những
di tích, điểm tham quan và mua đồ lưu niệm. Đồng thời, khách du lịch quốc tế cũng
có cơ hội để giới thiệu về bản sắc văn hóa nước mình khi đi du lịch sang các quốc
gia khác.
Đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội
Quá trình phát triển du lịch quốc tế không chỉ hướng tới những mục tiêu
kinh tế, xã hội mà còn nhằm đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ an ninh và đối ngoại.
Từ các chủ trương đến các công việc điều hành cụ thể hoạt động du lịch quốc tế đều
liên quan đến an ninh quốc phòng và có sự phối hợp chặt chẻ với cơ quan có thẩm
quyền. Phát triển du lịch quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia có cơ hội
hiểu nhau, giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau thông qua việc giao lưu, hợp tác kinh tế, văn
hóa, góp phần duy trì sự ổn định chính trị và hòa bình trong khu vực và trên thế

dạng, phong phú, đặc sắc và mới mẻ. Tài nguyên du lịch được xem là nhân tố quan
trọng để thu hút khách du lịch nói chung và khách du lịch quốc tế nói riêng. Tài
nguyên du lịch càng phong phú, đặc sắc và có mức tập trung cao thì càng có sức
hấp dẫn với du khách và có hiệu quả kinh doanh du lịch càng cao.
1.3.2. Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch theo nghĩa rộng là toàn bộ các phương tiên
vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác tài nguyên du lịch
nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách nói
chung và khách du lịch quốc tế nói riêng trong các chuyến hành trình của họ.
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Cơ sở vật chất của kỹ thuật du lịch bao gồm toàn bộ nhà cửa và phương
tiện kỹ thuật giúp cho việc phục vụ để thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch
như : khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải, các khu nhà giải trí, cửa
hàng, công viên, đường sá, hệ thống thoát nước, mạng lưới điện trong khu vực của
cơ sở du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá
trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch.
Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là những phương tiện vật chất không phải do các tổ chức du
lịch xây dựng nên mà là của toàn xã hội. Đó là hệ thống đường sá, nhà ga, bến
cảng, đường sắt, công viên của toàn dân, mạng lưới thương nghiệp của khu dân cư,
hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện, các rạp
chiếu phim, nhà hát, viện bảo tàng.
Trong cơ sở hạ tầng kỹ thuật của xã hội, nhân tố phục vụ đắc lực nhất và có
tầm quan nhất đối với du lịch là hệ thống giao thông vận tải (đường hàn không,
đường bộ, đường thủy). Đây chính là cơ sở vật chất kỹ thuật bậc hai đối với du lịch.
Nó được xây dựng để phục vụ nhân dân địa phương và sau nữa là phục vụ cả khách
du lịch đến thăm đất nước hoặc vùng du lịch. Đây là cơ sở có tầm quan trọng đặc
biệt vì nó nằm sát ngay nơi du lịch, nó quyết định nhịp độ phát triển du lịch và
trong chừng mực nào đó còn quyết định chất lượng phục vụ du lịch.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt, không ngừng được đổi mới và hoàn thiện sẽ tạo

quốc tế
Du lịch là một lĩnh vực quan trọng toát lên vẻ đẹp, bản sắc và điểm khác
biệt của mỗi quốc gia, dân tộc. Du lịch kết tinh từ nhiều yếu tố văn hóa, địa lí và
con người. Du lịch đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế
phát triển, kết nối chính trị ngoại giao. Do đó, du lịch cần phải được xem là bộ mặt,
là hình ảnh của mỗi quốc gia. Do đó, để thu hút khách du lịch nói chung và khách
du lịch quốc tế nói riêng, chúng ta phải đẩy mạnh công tác quảng bá các tour du
lịch, các tài nguyên du lịch, các chính sách hấp dẫn khách du lịch nhằm truyền bá
hình ảnh đất nước, những cảnh đẹp, những nét đặc sắc về văn hóa, con người của
quốc gia hay điểm đến, tạo được sự hấp dẫn cho khách du lịch nước ngoài, tạo động
lực để thu hút khách tìm đến với quốc gia hay điểm đến đó để khám phá, tìm hiểu.
1.3.4.2. Xây dựng và thực hiện các chiến lược khai thác, bảo tồn, gìn giữ và tôn
tạo tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên sức hấp dẫn du
khách và phải được khai thác vào mục đích kinh doanh du lịch. Vấn đề khai thác tài
nguyên du lịch như thế nào để đạt hiệu quả cao trong việc thu hút khách du lịch
luôn là bài toán khó đối với chính phủ và ngành du lịch của mỗi quốc gia. Việc khai
thác được thể hiện thông qua việc phát triển các sản phẩm du lịch, tổ chức các sự
kiện du lịch…
Tiềm năng về tài nguyên du lịch không phải là tiềm năng vô hạn, nhất là tài
nguyên thiên nhiên. Không phải nơi nào cũng có thể phát triển tài nguyên du lịch,
và bản thân tài nguyên du lịch không có sự tác động có mục đích của con người
cũng không thể trở thành những điểm du lịch hấp dẫn nhiều du khách. Quá trình tác
động có thể gây ra các ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới nguồn tài nguyên du
lịch. Mục đích của việc khai thác bảo tồn và tôn tạo tài nguyên du lịch là sử dụng
tài nguyên du lịch một cách hợp lí. Bên cạnh tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên
nhân tạo cũng là yếu tố quan trọng để tạo sự hấp dẫn đối với khách du lịch. Xây
dựng các chiến lược khai thác tài nguyên du lịch là công việc quan trọng trong
chính sách phát triển du lịch của mỗi quốc gia và từng địa phương.
1.3.4.3. Đầu tư xây dựng và cải thiện cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

để khai thác các giá trị của tài nguyên du lịch tạo ra dich vụ, hàng hóa cung ứng cho
du khách. Vì vậy, chính phủ mỗi nước luôn đề ra các chương trình phát triển nguồn
nhân lực tại đất nước mình, nhằm đào tạo đội ngũ lao động phục vụ du lịch chuyên
nghiệp, có ý thức trách nhiệm và nhiệt tình.
1.3.4.7. Tuyền truyền và nâng cao ý thức cộng đồng về du lịch
Có thể nói du lịch là công việc của toàn xã hội. Sự phát triển của du lịch
liên quan đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, liên
quan đến sự phát triển của địa phương, tác động tới cuộc sống của mỗi người dân
tại địa phương hoạt động du lịch. Mỗi quốc gia cần thực hiện các biện pháp tuyên
truyền giáo dục nâng cao ý thức cộng đồng về vai trò của du lịch để người dân ý
thức được và góp phần tích cực trong việc phát triển du lịch.
1.4. Môi trường du lịch
Môi trường du lịch bao gồm môi trường du lịch tự nhiên và môi trường
du lịch nhân văn. Bất kỳ hoạt động du lịch nào cũng chỉ diễn ra trong pham vi môi
trường du lịch. Hay nói cách khác, ở đâu có du lịch thì ở đó có môi trường du lịch.
Trong khi môi trường tự nhiên đòi hỏi việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên
phải gắn liền với việc tôn tạo và giữ gìn môi trường, thì môi trường du lịch nhân
văn đòi hỏi phải đảm bảo sự an toàn cho du khách về moi mặt. Một đất nước có nền
chính trị ổn định, hòa bình, an ninh xã hội đảm bảo là điều kiện thuận lợi để thu hút
khách du lịch. Bởi lẻ, mỗi khách du lịch trước khi bắt đầu một hành trình, họ không
chỉ tìm hiểu về các sản phẩm du lịch mà còn quan tâm đến tình hình an ninh, chính
trị của quốc gia đó.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG KHAI THÁC KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ
TẠI QUẢNG NAM
2.1. Giới thiệu khái quát về tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam là một tỉnh nằm giữa miền trung Việt Nam, phía bắc giáp tỉnh
Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng, phía tây giáp nước Lào, phía nam giáp
Quảng Ngãi, phía đông giáp biển Đông, ngoài khơi có Cù Lao Chàm với ngư
trường rộng lớn.
Quảng Nam có nhiều đồi và núi ( chiếm 72% diện tích) với nhiều ngọn núi

Về văn hóa – lễ hội, Quảng Nam là vùng đất giàu truyền thống văn hóa.
Cùng với Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế, Quảng Nam được mệnh danh là vùng “đất
học”, “vùng văn hóa” đất sản sinh của nhân tài, các vị khoa bảng, những nhà hoạt
động chính trị, những chiến sĩ ái quốc, các văn nhân nghệ sĩ, các nhà khoa học công
kỹ nghệ nổi tiếng. Đây là vùng đất còn giữ được bản sắc trong các loại hình nghệ
thuật cổ truyền: hát tuồng, hát hò khoan, đối đáp, hát bả trạo, hát lý, bài chòi…thấm
sâu truyền thống xứ Quảng. Ngoài ra còn có các lễ hội của các dân tộc ít người như:
lễ hội cồng chiêng, lễ hội ăn trâu, dàn nước Xơ Đăng.
Đến Quảng Nam du khách sẽ được đắm mình vào thế giới xưa với các đền
tháp, tháp ở Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Bằng An, Chiên Đàn, Khương Mỹ; những công
trình rêu phong ở Hội An…được xây dựng trong nhiều thế kỷ cho thấy sự sáng tạo
đạt tới đỉnh cao nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc của các thế hệ ngày xưa ở địa
phương. Mặt khác, giúp ta hiểu thêm về âm nhạc, vũ điệu, phong tục, lễ hội truyền
thống của vùng đất Quảng…
Vùng đất Quảng Nam còn ghi dấu lại nhiều dấu tích của những năm tháng
chiến đấu trường kỳ. Đó là các di tích chiến thắng Núi Thành, địa đạo Kỳ Anh,
đường mòn Hồ Chí Minh, căn cứ Chu Lai, chiến khu Trà My, chiến khu Hòn Tàu…
Quảng Nam là còn là nơi có nhiều lễ hội dân gian như lễ hội Bà Thu Bồn,
lễ hội Long Chu, lễ vía Bà Thiên Hậu, lễ tế cá Ông…Mỗi dịp lễ hội, hàng ngàn
người tham dự vừa tỏ lòng tôn kính tổ tiên, vừa là dịp tham gia các sinh hoạt văn
hóa dân gian.
Với hơn 125km đường bờ biển, Quảng Nam nổi tiếng với các bãi biển đẹp
như biển Cửa Đại, biển Tam Thanh, biển Rạng, biển Bàn Than. Bên cạnh đó,
Quảng Nam là nơi hội tụ những danh thắng như Cù Lao Chàm, hồ Phú Ninh, Hòn
Kẽm Đá Dừng, suối Tiên, hố Giang Thơm…
2.2. Thực trạng khai thác khách tại tỉnh Quảng Nam
2.2.1. Tình hình khách đến tỉnh Quảng Nam
Trong những năm qua, du lịch Quảng Nam có những bước phát triển.
Thành quả lớn nhất của ngành du lịch Quảng Nam trong thời gian qua là đã xây
dựng và phát triển được uy tín thương hiệu Hội An – một điểm đến an toàn, thân

1,286,455 1,384,342
1,650,000
* Khách nội địa
1,229,315
1,259,366 1,433,971
1,750,000
I. Lưu trú
1. Khách lưu trú
731,677
801,976 872,034
950,000
* Khách quốc tế
472,362
512,617 541,190
592,000
* Khách nội địa
259,315
289,359 330,844
358,000
2. Ngày khách
1,509,922
1,736,358 1,805,124
2,100,000
* Quốc tế
1,081,431
1,250,195 1,323,605
1,500,000

Bng 2.2: C cu khỏch quc t n Vit Nam theo quc tch t nm 2010
2013
Quc tch 2010 2011 2012
8t/2013
Tng khỏch
quc t
472362 512617 541190
466086
Izarel 3061 3103 3958
3038
Nhật 17854 17531 20953
27726
áo 4255 2764 4112
3415
Anh 37309 34103 50582
50887
Bỉ 5317 4932 5861
4368
Đức 36679 29885 45972
35956
Đan Mạch 8276 7805 9735
6784
Hà Lan 13532 12577 17254
6503
Italia 6237 6220 9538
7780
Nauy 2813 2760 4510
4592
Pháp 54808 52984 64897
58713

Hongkong 234 215 114
3
Malaisia 1374 946 7605
7274
Laos 50 108 0
0
Campuchia 41 71 9
205
Ấn độ 0 433 1762
704
Các nước khác 110333 174227 63821
67362
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam)
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ số lượt khách quốc tế đến Quảng Nam năm 2010 – 2012
Đơn vị : Lượt khách
( Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam )
Qua quan sát biểu đồ, có thể thấy số lượng khách quốc tế đến Quảng Nam
có xu hướng tăng dần qua các năm. Với số lượt khách quốc tế đến tham quan cụ thể
là năm 2010, Quảng Nam đón được 472362 lượt khách đến, năm 2011 con số đã
tăng lên 512617 lượt, và đến năm 2012 đạt 541190 lượt khách quốc tế. Với kết quả
trên, đây là tín hiệu đáng mừng cho thấy du lịch Quảng Nam đã vững vàng hơn với
lượng khách tăng ổn định, ít chịu ảnh hưởng của những biến động về kinh tế.
2.2.3. Tình hình doanh thu từ khách du lịch quốc tế tại tỉnh Quảng Nam
Trong những năm qua, cơ cấu khách lưu trú chuyển biến theo hướng tích
cực với ưu thế vượt trội thuộc về các cơ sở lưu trú có chất lượng cao, các khách sạn
được xếp hạn sao. Các loại hình du lịch có tiềm năng như sinh thái, biển đảo, nghỉ
dưởng, hội nghị… tiếp tục được chú trọng và có bước phát triển. Cũng như số
lượng khách, doanh thu du lich Quảng Nam tăng qua các năm. Trong 9 tháng đầu
năm 2013, con số doanh thu đạt gần 1,5 tỷ đồng.
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ doanh thu của du lịch quốc tế vào Quảng Nam 2010 -

(Nam Giang), đường du lịch ven sông Tam Kỳ, hạ tầng du lịch cộng đồng Trà Nhiêu
(Duy Xuyên), đường vào nhà cụ Phan Châu Trinh (Tam Lộc) và đường vào điểm
du lịch thác Trắng – mỏ vàng Bồng Miêu (Phú Ninh).
Hiện nay, về cơ sở lưu trú, Quảng Nam có đến 160 cơ sở lưu trú với số
phòng là 5.120 phòng. Các hệ thống nhà hàng, khách sạn được đầu tư phát triển.
Các khách sạn đạt tiêu chuẩn năm sao như Sunrise Hội An Beach Resort, The Nam
Hai Resort, Golden Sand Resort Hoi An, Palm Garden Beach Resort & Spa, Swiss-
Belhotel Golden Sand Resort & Spa đầy luôn đầy đủ các điều và sẵn sàng phục vụ
du khách.
Các cở sở ăn uống rất phong phú, đa dạng về loại hình bao gồm Restaurant, Coffee-
shop, Bar, quán ăn nhanh,… các tiện nghi phục vụ ăn uống, nghỉ ngơi, hội họp và
giao lưu tại các khách sạn. Ngoài ra các cửa hàng ăn uống tư nhân nhỏ phục vụ chủ
yếu các món ăn Việt bình dân nằm ở khu vực thành phố Hội An.
2.3.3. Nguồn nhân lưc du lịch Quảng Nam
Du lịch Quảng Nam đang đứng trước một khó khăn lớn là thiếu lao động
quản trị doanh nghiệp du lịch. Với 3.500 lao động làm việc tại các doanh nghiệp du
lịch, chiếm 31% tổng số lao động trực tiếp tham gia trong ngành du lịch - dịch vụ,
trong đó có 1.400 lao động đã qua đào tạo chuyên môn du lịch, chiếm 35%. Lực
lượng trong ngành du lịch rất trẻ, 93% có độ tuổi dưới 45, được đào tạo chuyên
môn và ngoại ngữ, có thể đáp ứng yêu cầu lao động hiện tại nhưng số lao động
được đào tạo chuyên môn cao từ đại học đến sau đại học chưa nhiều, hiện chỉ có
20%. Do đó, đội ngũ lao động quản trị doanh nghiệp còn thiếu và yếu, hầu hết đều
là người đến từ các địa phương khác và nước ngoài.
Ước tính năm 2010, nguồn nhân lưc du lịch Quảng Nam có khoảng 18.715
lao động trong ngành du lịch, trong đó có 6.135 lao động trực tiếp làm việc trong
các cơ quan quản lý du lịch, công ty lữ hành, khách sạn, nhà hàng và các cơ sở dịch
vụ khác.
2.3.4. Hoạt động kinh doanh lữ hành và hướng dẫn viên du lịch quốc tế
Toàn tĩnh đã có 5 đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế là Trung tâm Lữ hành
quốc tế Hội An, Công ty trách nhiệm hữu hạn An Phú, Doanh nghiệp tư nhân Lê

hoá các dân tộc thiểu số Gắn du lịch đường Hồ Chí Minh với tuyến du lịch
đường bộ qua cửa khẩu Đắc ốc khai thác thị trường khách từ Thái Lan đến Lào và
vào Việt Nam.
Các dự án ưu tiên đầu tư: cơ sở hạ tầng du lịch, cơ sở lưu trú, dịch vụ phục
vụ du khách, xây dựng các thiết chế văn hoá, làng văn hoá. Các điểm du lịch sinh
thái như rừng nguyên sinh, thác nước, suối nước nóng được tỉnh quan tâm và đầu
tư để phát triển du lịch. Tham quan các bản dân tộc Cơ Tu, Xê Đăng, Cor,
GỉeTriêng
2.3.6. Môi trường du lịch của tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam là vùng đất đa dạng về tài nguyên, cả về tài nguyên tự nhiên và
tài nguyên nhân văn. Vì vậy, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển sản phẩm du
lịch như du lịch tham quan di sản văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng biển, du lịch sinh
thái, du lịch tham quan các làng nghề, du lịch cộng đồng và tìm hiểu bản sắc văn
hóa các dân tộc, du lịch tham quan di tích lịch sử-cách mạng, du lịch Caravan, du
lịch tàu biển, du lịch mua sắm, du lịch công vụ, du lịch thể thao biển…Với các loại
hình đa dạng như vậy sẽ thu hút được số lượng lớn khách du lịch quốc tế.
Hơn nữa, Quảng Nam ở vào vị trí trung độ của đất nước, nằm trên trục giao
thông Bắc - Nam về đường sắt, đường bộ và đường biển và đường hàng không, có
đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 14D, 14B, 14E nối đồng bằng ven biển qua các huyện
trung du miền núi của tỉnh đến biên giới Việt - Lào và các tỉnh Tây Nguyên; trong
tương lai gần sẽ nối với hệ thống đường xuyên Á tạo vị trí thuận lợi cho tỉnh về
giao lưu kinh tế với bên ngoài. Hơn thế nữa Quảng Nam nằm giữa thành phố Đà
Nẵng (Trung tâm kinh tế lớn của khu vực miền Trung) và khu vực phát triển công
nghiệp dịch vụ Chu Lai Dung Quất, đây là một khu vực đang được hình thành và
phát triển ở phía Nam. Cảng Kỳ Hà, sân bay Chu Lai, cùng với diện tích mặt bằng
đất cát ven biển rộng, gần hệ thống lưới điện quốc gia, có nguồn nước ngọt dồi dào,
gần trục giao thông đường bộ, đường sắt, tạo thuận lợi cho việc hình thành các khu
công nghiệp, các đô thị mới và đặc biệt là các dịch vụ du lịch.
Mặt khác, Quảng Nam còn được mọi người biết đến với tên gọi “mãnh đất
ân tình”, người dân nơi đây thì hiền hòa, gần gũi và hiếu khách. Đây là điểm nhấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status