1 Luận văn Tăng cường thu hút khách du lịch quốc
tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2020
2
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch từ lâu đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi
tích cực của con người. Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã
hội phổ biến trên toàn thế giới, nó được xem như là một nhu cầu không thể thiếu
của con người và được coi là một tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng cuộc sống.
Nhận thức được xu thế trên, trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX,
Đảng và Nhà nước ta đã đề ra đường lối: “Phát triển du lịch thật sự trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn” [2].
Ngành du lịch Quảng Ngãi cùng với ngành du lịch của các tỉnh khác đã vẽ lên
một bức tranh khá sinh động và tươi sáng với nhiều cố gắng và thành quả góp phần
đáng kể vào sự nghiệp phát triển du lịch quốc tế chung của quốc gia. Đến với
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, khóa luận đề ra 3 mục tiêu
- Thứ nhất, xây dựng luận cứ khoa học, thực tiễn và hệ thống hóa các điều
kiện để thu hút khách du lịch quốc tế của Quảng Ngãi
- Thứ hai, phân tích tổng quan tình hình du lịch quốc tế và thực trạng thu
hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2001 - 2010. Từ đó, đánh giá
chung về những kết quả đạt được, những mặt hạn chế và nguyên nhân.
- Thứ ba, phân tích xu hướng, mục tiêu phấn đấu, định hướng triển khai của
du lịch quốc tế của tỉnh Quảng Ngãi; đồng thời đề xuất một số giải pháp và kiến
nghị nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn
2011 - 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thu
hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi.
+ Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: đề tài tập trung nghiên cứu khả năng thu hút khách du
lịch đến Quảng Ngãi đặt trong quan hệ đối sánh với các trọng điểm du lịch miền
Trung như Nha Trang, Đà Nẵng, Huế. Ngoài ra, còn tìm hiểu mở rộng kinh nghiệm
của một số quốc gia trên thế giới.
- Về thời gian:
4
Phân tích thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi trong giai
đoạn từ năm 2001 đến 2010.
Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng
Ngãi trong giai đoạn từ 2011 đến 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài, người viết sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp, tổng hợp,
phân tích và so sánh các số liệu thứ cấp thu thập được. Từ đó đưa ra các kết quả
nghiên cứu và các giải pháp thích hợp. Các thông tin được trích dẫn từ nhiều nguồn
khác nhau như các phương tiện thông tin đại chúng, sách, báo, Internet, các tạp chí
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT
PHẢI TĂNG CƯỜNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN
QUẢNG NGÃI GIAI ĐOẠN 2011-2020
I. Tổng quan về du lịch quốc tế
1. Các khái niệm cơ bản
1.1. Du lịch
Du lịch từ lâu đã trở thành một đề tài hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu. Tuy
nhiên, thật khó để tìm được một khái niệm thống nhất về du lịch, bởi khi tiếp cận
những cách thức và góc độ khác nhau, ta lại có những khái niệm khác nhau về du
lịch [5]:
- Tiếp cận trên góc độ người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú
tạm thời ở ngoài nơi lưu trú thường xuyên của cá thể, nhằm thỏa mãn các nhu cầu
khác nhau, với mục đích hòa bình và hữu nghị [5]. Nó vừa là cơ hội để du khách
tìm kiếm những kinh nghiệm sống mới vừa là một khoảng thời gian nghỉ ngơi, thư
giãn sau những ngày tháng làm việc căng thẳng.
- Tiếp cận trên góc độ người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức
các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thỏa mãn, đáp ứng nhu cầu của người đi
du lịch [5]. Du lịch được xem như là một cơ hội kinh doanh để tạo ra lợi nhuận.
- Tiếp cận trên góc độ của chính quyền địa phương: Du lịch là việc tổ chức các
điều kiện về hành chính, cơ sở hạ tầng để phục vụ du khách, thông qua đó tăng các
nguồn thu nhập từ các khoản thuế, đẩy mạnh cán cân thanh toán và nâng cao mức
sống vật chất và tinh thần cho người dân địa phương [5].
- Tiếp cận trên góc độ của cộng đồng dân sở tại: Du lịch là một hiện tượng
kinh tế - xã hội, vừa đem lại cơ hội tìm hiểu văn hóa vừa giúp giải quyết vấn đề việc
làm tại địa phương [5].
Người viết xin đơn cử hai khái niệm tiêu biểu để có thể có một cái nhìn tổng
quát nhất về du lịch
7
8
- Khái niệm của Liên hiệp các quốc gia (League of Nations): Năm 1937, Liên
hiệp các quốc gia đưa ra khái niệm về “khách du lịch nước ngoài ”: “khách du lịch
nước ngoài là bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên
của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ” [6].
- Khái niệm về khách du lịch được chấp thuận tại Hội nghị tại Rôma (Ý) do
Liên hiệp quốc tổ chức về các vấn đề du lịch quốc tế và đi lại quốc tế năm 1963:
“Khách du lịch quốc tế” là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư
trú thường xuyên của họ trong thời gian ít nhất là 24 giờ” [6].
- Khái niệm của Hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan năm 1989: “Khách du
lịch quốc tế” là những người đi thăm một đất nước khác, với mục đích tham quan,
nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian nhỏ hơn 3 tháng, những người
khách này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời gian lưu trú ở đó
khách trở về nơi ở thường xuyên của mình” [6].
- Tại khoản 3, điều 34, Chương V, Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, “khách
du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt
Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra
nước ngoài du lịch” [24].
Khách du lịch quốc tế sẽ không bao gồm những người sau:
Những người qua lại biên giới thường xuyên, bao gồm cả những người khách
đi cùng với họ;
Những người sống gần biên giới nhưng làm việc ở nước bên kia biên giới;
Những quan chức ngoại giao, lãnh sự và thành viên các lực lượng vũ trang
được phân công đến một nước khác, bao gồm cả tùy tùng và những người đi
cùng;
Những người tị nạn hoặc sống du mục;
Những người quá cảnh không chính thức nhập cư vào một nước, chẳng hạn
những hành khách máy bay chỉ ở trong phòng chờ chuyển tiếp trong một thời
gian ngắn, hoặc những hành khách tàu thủy không được phép lên bờ, bao gồm
dẫn riêng song nó không thể tách khỏi xu thế thời đại và sự phát triển chung của
khu vực và quốc gia. Hoạt động du lịch quốc tế của một vùng, một quốc gia khó có
10
thể phát triển nếu không có sự liên kết các tuyến, điểm du lịch trong phạm vi quốc
gia và toàn thế giới.
Thứ sáu, du lịch quốc tế mang tính chi phí và tính tổng hợp cao. Mục đích của
các du khách là hưởng thụ các sản phẩm du lịch, do vậy họ sẵn sàng chi trả những
khoản chi phí cho chuyến đi của mình về các khoản dịch vụ như: ngủ nghỉ, ăn uống,
đi lại và nhiều khoản chi phí khác nhằm thực hiện mục đích đi chơi, giải trí, tham
quan. Về tính tổng hợp, sản phẩm du lịch là sản phẩm tổng hợp được biểu hiện bằng
nhiều loại dịch vụ. Phạm vi hoạt động của ngành kinh tế, du lịch bao gồm: khách
sạn, giao thông và các cửa hàng bán đồ lưu niệm. Ngoài ra, còn có bộ phận sản xuất
tư liệu phi vật chất như văn hóa, giáo dục, tôn giáo, hải quan, tài chính, bưu điện.
3. Các xu hướng du lịch quốc tế phổ biến hiện nay
Một số xu hướng du lịch quốc tế phổ biến trên thế giới được khách du lịch ưa
thích, chẳng hạn như:
4S: SEA + SUN+ SAND +SHOP: bao gồm tắm biển, phơi nắng, đi dạo bãi
biển và mua sắm.
3F: FLOWRE +FAUNA + FOLKLORE: bao gồm đi xem các động vật quí
hiếm, thực vật quí hiếm và tìm hiểu văn hóa dân gian đặc sắc.
3S: SIGHTSEEING + SPORT + SHOPPING: bao gồm đi chiêm ngưỡng và
thưởng thức các cảnh đẹp, tham gia các môn thể thao mạo hiểm, và đi dạo phố kết
hợp mua sắm.
5H: HOSPITALITY + HONESTY + HERITAGE + HISTORY + HEROIC:
khách du lịch thường tìm đến các địa điểm du lịch mà ở đó người hiếu khách, chân
thật, có nhiều di sản, bề dày lịch sử và truyền thống anh hùng để tìm hiểu.
Ngoài ra còn có loại hình du lịch đã phổ biến trên thế giới nhưng chưa phát
triển ở nước ta như:
Du lịch thời trang thường được tổ chức ở Paris hay Milan.
yếu là các loại rau, củ,quả, hạt, thủy, hải sản, không quá nhiều thịt như món Âu, ít
dầu mỡ hơn các món Trung Quốc, ít cay hơn đồ ăn Thái Lan.
Thứ ba là quảng cáo xúc tiến
Để thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam thì giải pháp chủ yếu là tăng
cường công tác quảng bá, xúc tiến. Từ nay đến cuối năm 2008, ngành du lịch sẽ chi
khoảng 16 tỷ đồng để quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam trên các phương tiện
12
truyền thông quốc tế như CNN, Discovery cũng như các đài truyền hình ở các thị
trường trọng điểm của du lịch Việt Nam như kênh KBS - Hàn Quốc, NHK - Nhật
Bản; các kênh truyền hình các tỉnh gần Việt Nam của Trung Quốc như Quảng
Đông, Quảng Tây, Vân Nam; trên các báo Singapore, Malayxia, Thái Lan,
Campuchia; mời các đoàn khảo sát du lịch quốc tế đến viết bài về du lịch Việt Nam.
Phối hợp chặt chẽ với ngành hàng không, ngoại giao, giao thông vận tải đẩy mạnh
tuyên truyền, xúc tiến quảng bá cho du lịch Việt Nam như quảng bá cho năm du
lịch Cần Thơ 2008.
Thứ tư là chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ du lịch là yếu tố then chốt tạo nên uy tín, thương hiệu cho
từng đơn vị kinh doanh du lịch nói riêng và của ngành du lịch Việt Nam nói chung.
Sự khẳng định thương hiệu của từng doanh nghiệp du lịch thể hiện ở việc tôn trọng
khách hàng, luôn luôn cho ra đời nhiều sản phẩm mới, nâng cao chất lượng đội ngũ
làm công tác dịch vụ du lịch, tiết kiệm chi tiêu và những khâu trung gian không cần
thiết khác. Chất lượng dịch vụ du lịch là yếu tố then chốt tạo nên uy tín, thương
hiệu cho các đơn vị kinh doanh du lịch nói riêng và của ngành du lịch nói chung.
Nhưng chất lượng dịch vụ của ngành du lịch Việt Nam trong thời gian qua là khâu
yếu kém nhất, chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ hội nhập. Chính vì thế, về lâu
dài, giải pháp then chốt để thu hút khách du lịch vẫn là nâng cao chất lượng dịch vụ
du lịch. Đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hoá, hướng dẫn và kiểm tra, đánh giá chất
lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Tăng cường lực lượng lao động lành nghề,
chuyên nghiệp; thực hiện tốt qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm, mở chiến dịch
căn cứ địa vững chắc gắn liền với lịch sử đấu tranh chống áp bức, chống ngoại xâm
của Quảng Ngãi. Đây là kho tài nguyên phong phú về lâm thổ sản với nhiều loại gỗ
quý, nhiều loại cây nguyên liệu cho tiểu thủ công nghiệp…Tiếp giáp với vùng rừng
núi là vùng trung du. Vùng địa hình này chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng diện tích
toàn tỉnh (khoảng 0.3%). Vùng Đồng bằng ven biển thuộc Quảng Ngãi là đồng bằng
hẹp với tổng diện tích khoảng 1.200 km
2
, được hình thành một phần bởi nguốn đất
đồi phân hóa, một phần do phù sa của các con sông chảy qua địa phận tỉnh như song
Trà Khúc, Trà Bồng, Trà Châu, sông Vệ bồi đắp. Bờ biển Quảng Ngãi có chiều dài
130 km bị chia cắt thành nhiều đoạn bởi các mũi như Nam Châm, Ba Làng An, Sa
Huỳnh, Kim Bồng.
Quảng Ngãi nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với khí hậu chia thành hai mùa
là mùa ít mưa và mùa mưa. Vì Quảng NGãi nằm trong vùng khí hậu Trung Trung
Bộ nên có nền nhiệt khá cao với biên độ dao động nhiệt nằm khoảng7
0
C – 8
0
C.
Nhiệt độ trung bình ở đây khoảng 26
0
C và giảm xuống ở vùng núi còn 23
0
C - 24
0
C
ở độ cao 400m - 500m và chỉ còn 21
0
C – 23
0
bờ biển Mỹ Khuê, đảo Lý Sơn [10]. Vùng bờ biển Sa Huỳnh nằm ở cực nam của
tỉnh, thuộc xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ. Trên bờ biển Sa Huỳnh có nhánh núi
Trường Sơn chạy áp sát biển tạo thành những ghành đá rất đẹp. Cũng chính vì vậy
địa hình Sa Huỳnh rất đa dạng với những ngọn núi màu xanh nhiều cung bậc, với
những động cát vàng rực,…Sa Huỳnh còn có Hòn Me, Hòn Khỉ, Động cát Ma
Vương chứa đựng di chỉ văn hóa Sa Huỳnh nổi tiếng. Bờ biển Mỹ Khuê dài trên
10km với ba cảnh quan độc đáo và hấp dẫn là Cổ Lũy Cô Thôn, Thạch Cơ Điếu
Tẩu và An Hải Sa Bàn. Bờ biển Sa Kỳ - Cổ Lũy có hình cong lưỡi liềm với bãi cát
vàng sạch sẽ, rặng phi lao xanh mát, không khí trong lành là nơi thuận lợi cho hoạt
động nghỉ dưỡng và tắm biển. Đảo Lý Sơn là đảo lớn nhất của tỉnh Quảng Ngãi(-
15
đảo lớn nhất của tỉnh Quảng Ngãi-) với phong cảnh thiên nhiên hoang sơ, không khí
trong lành, cảnh quan đẹp mắt là địa chỉ du lịch lý tưởng đối với những du khách ưa
khám phá.
Nhìn chung, tài nguyên du lịch thiên nhiên của Quảng Ngãi khá phong phú và
đa dạng, nếu được đầu tư khai thác một cách hợp lý thì đây sẽ là nguồn tài nguyên
mang lại lợi ích cho không chỉ nền kinh tế mà còn góp phần thỏa mãn nhu cầu du
lịch của nhân dân trong tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và cả nước nói chung.( sẽ mang
lại lợi ích không nhỏ cho nền Ktế cũng như…)
2. Điều kiện kinh tế - xã hội và tài nguyên du lịch
2.1. Điều kiện kinh tế xã hội
Những năm gần đây tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội tính trên đầu
người của Quảng Ngãi tăng mạnh nhờ vào nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhìn chung
cao hơn so với mức bình quân của cả nước và các tỉnh trong khu vực. Chỉ tiêu tăng
trưởng GDP 2010 của Quảng Ngãi đạt 14,9% so với năm trước. Năm 2010, Quảng
Ngãi xếp vị trí thứ 7 trong top 10 tỉnh nộp ngân sách cao nhất cả nước.
Mặc dù có những bước phát triển kinh tế nhất định, song nói chung mức sống
dân cư còn thấp. Đặc biệt là trong những vùng thường xuyên gặp thiên tai và những
vùng núi xa xôi.
phố khoảng 50km về hướng tây bắc; di tích địa dạo Đám Toái (huyện Bình Sơn,
bán đảo ba Làng An); di tích chiến thắng Ba Gia; di tích chiến thắng Vạn Tường
thuộc huyện Sơn Tịnh. Đặc biệt, khu chứng tích Sơn Mỹ (thuộc xã tịnh Khuê), là
nơi 504 đồng bào ta bị giặc Mỹ sát hại ngày 16/03/1968 – một vụ thảm sát đẫm máu
gây chấn động cả thế giới ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ quân Mỹ chiếm
đóng miền Nam Việt Nam. Khu chứng tích Sơn Mỹ đã được Bộ Văn hóa – Thông
tin công nhận và là di tích lịch sử cách mạng quốc gia. Hiện nay tại đây có một
tượng đài và một nhà chứng tích trưng bày một số hiện vật và hình ảnh về những tội
ác của giặc Mỹ đối với đồng bào ta ở đây trong ngày 16/ 03/1986.
Nhóm các di tích kiến trúc phải kể đến là Chùa Thiên Ấn và chùa Ông. Chùa
Thiên Ấn lúc đầu mới chỉ là một am nhỏ do Tổ sư Pháp Hóa, chùa được xây dựng
trên đỉnh núi Thiên Ấn (Sơn Tịnh), trước mặt là sông Trà Khúc, dưới chân núi phía
tây là dãy Long Đầu, xung quanh chùa có nhiều cây xanh, khung cảnh đẹp, đặc biệt
17
chùa có 2 di vật giá trị là chuông đồng cao 2m được gọi là “Chuông Thần” và giếng
nước sâu 15m được gọi là giếng Phật. Năm 1947 khi cụ Huỳnh Thúc Kháng quyền
chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (nay là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam) về công tác tại Quảng Ngãi và cụ mất tại Quảng Ngãi. Nhân dân ngưỡng
mộ đưa Cụ an táng tại đỉnh núi Thiên Ấn (cách chùa Thiên Ấn 200m). Chùa Thiên
Ấn không chỉ là niềm tự hào của Quảng Ngãi, mà còn nổi tiếng khắp miền Trung.
Nhóm danh thắng có những cảnh đẹp, trong đó đáng chú ý là 12 cảnh đẹp đã
được Nguyễn Chu Trinh làm thơ tặng. Đó là các địa danh: Thiên Ấn Niêm Hà,
Long Đầu Hí Thủy, La Hà Thạch Trận, Liên Trì Dục Nguyệt, Hà Nhai Vãng Độ,
Cỗ Lũy Cổ Thôn, bãi biển Sa Huỳnh…
Thứ hai là nghề thủ công truyền thống. Một trong những nguồn tài nguyên du
lịch nhân văn quan trọng là các nghề và làng nghề thủ công truyền thống. Ở Quảng
Ngãi cũng có một số nghề thủ công tiêu biểu có thể khai thác phục vụ như: nghề
làm đường phổi, đường phèn, kẹo gương ở Tư Nghĩa, nghề làm gốm ở Mỹ Thiện
(Bình Sơn), Đại Lộc (Sơn Tịnh), Bồ Đề (Tư Nghĩa), Nghề đúc đồng ở làng Chú
như Sa Huỳnh, Chăm Pa, các di tích chiến tranh Sơn Mỹ…Ngoài ra bên cạnh
Quảng Ngãi là những điểm du lịch nổi tiếng như đô thị cổ Hội An, thánh địa Mỹ
Sơn ở phía Bắc, Bình Định Tây Sơn với hệ thống Tháp Chàm ở Phía Nam đã đặt
Quảng Ngãi vào một không gian du lịch hấp dẫn. Chính vì vậy, Quảng Ngãi được
coi là một trong những điểm du lịch quan trọng trên tuyến du lịch xuyên Việt của cả
nước
Và Quảng Ngãi còn nằm trong khu vực phát triển của hành lang Đông Tây –
một dải hành lang chiến lược nối miền trung với các nước Lào, Thái Lan và
Myanmar. Tất cả những điều kiện trên đã cho thấy vị trí quan trọng của Quảng Ngãi
trong hệ thống các tuyến điểm du lịch của miền trung và có tầm quan trọng trong
chiến lược đối với ngành du lịch Việt Nam trong xu thế hội nhập khu vực.
Thứ hai, vị trí của du lịch quốc tế Quảng Ngãi trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của Quảng Ngãi
Theo số liệu Cục thống kê Quảng Ngãi, mặc dù tỷ phần của kinh tế dịch vụ
Quảng Ngãi chỉ chiếm khoảng trên dưới 20%, trong đó tỷ lệ này của cả nước là trên
40% nhưng dịch vụ vẫn là ngành có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế của mình
19
Trong thời gian qua du lịch Quảng Ngãi cũng đã có những bước phát triển
nhất định. Nếu năm 2001 tổng doanh thu du lịch đạt 45,6 tỷ đồng, thì đến năm 2005
doanh thu đã đạt 74,6 tỷ đồng và năm 2010 đạt trên 215 tỷ đồng; nộp ngân sách nhà
nước từ 4,8 tỷ đồng năm 2001 đến năm 2005 đã đạt xấp xỉ 7 tỷ đồng, năm 2010 đạt
trên 10 tỷ đồng. Như vậy tỷ lệ tăng trưởng về doanh thu đạt khoảng 23%/năm, nộp
ngân sách tăng gấp nhiều lần. Đây là tốc độ tăng trưởng cao, mặc dù giá trị tuyệt đối
còn thấp. Sự đóng góp của du lịch nói riêng và của các ngành du lịch nói chung còn
chưa đáng kể. Điều đó được thể hiện trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh
trong thời gian qua.
Tuy nhiên trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Quảng Ngãi, Ủy
Ban Nhân Dân tỉnh đã quyết định chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ
trọng ngành nông – lâm – thủy sản và tăng tỷ trọng kinh tế dịch vụ và công nghiệp
được biết đến. Thông qua việc chương trình cải thiện dịch vụ du lịch và tăng cường
thu hút khách du lịch, chúng sẽ trở nên những viên kim cương vô giá được nhiều
người biết đến. Nếu có những chương trình hợp lý, trong một tương lai gần, chúng
ta sẽ thấy đằng sau những bờ biển dài vẫn phong cảnh hữu tình ấy là những chuyến
du lịch nghĩ dưỡng đầy hấp dẫn, còn đằng sau những con sông hiền hòa, những ngôi
chùa cổ kính ấy là những chuyến thưởng ngoạn cảnh vật trên sông và cơ hội đắm
mình cùng chốn linh thiên,… Đó chính là cách để tăng cường thu hút khách du lịch
và phát triển dịch vụ du lịch giúp đánh thức vẻ đẹp của cảnh vật quê hương.
Thứ hai là nâng cao giá trị dịch vụ du lịch, góp phần tăng thu ngoại tệ.
Những tiềm năng phát triển du lịch ở Quảng Ngãi là điều hiển nhiên không ai có thể
bác bỏ được, tuy nhiên những giá trị mang về từ du lịch thật sự chưa tương xứng
với tiềm năng của tỉnh. Một trong những lý do đó là vấn đề trong việc thu hút khách
du lịch, tiếp sau đó là chất lượng dịch vụ cung cấp. Hai vấn đề này có một mối quan
hệ thân thiết với nhau, một dịch vụ tốt có chất lượng sẽ thu hút được nhiều khách du
lịch nhưng phải có một số lượng khách nhất định để có thể duy trì nó được. Dịch vụ
cung cấp có chất lượng và phong phú hơn thì số tiền chi tiêu của du khách mới cao
hơn. Hiện nay, du khách đến Quảng Ngãi sẽ không thể nào tiêu được “nhiều tiền”
bởi vì có quá ít những dịch vụ cung cấp hay nếu có đi chăng nữa thì cũng quá sơ sài
và không đáp ứng yêu cầu của du khách, đặc biệt là khách du lịch nước ngoài.
21
Thứ ba là góp phần phát triển hoạt động du lịch quốc tế một cách đồng bộ
và toàn diện hơn. Hiện nay, hoạt động thu hút khách du lịch còn quá yếu, thêm vào
đó dịch vụ cung cấp không tốt không đồng nhất, có thể gây những ấn tượng xấu
trong lòng du khách. Hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch còn khá yếu kém chưa đáp ứng
được ở mức cao của du khách quốc tế. Vấn đề được đặt ra đó là làm sao để có thể
phát triển tất cả các thành phần dịch vụ du lịch một cách đồng bộ để mang đến chất
lượng hoạt động du lịch một cách toàn diện nhất. Hơn nữa, việc cung cấp các dịch
vụ phù hợp, đáp ứng được nhu cầu thì sẽ là một cách để giữ chân khách du lịch.
2.2. Về xã hội
trên khắp thế giới. Chính họ là những vị đại sứ thiện chí, là hình bóng của văn hóa
xứ họ. Quảng Ngãi, một mảnh đất của miền trung đầy nắng gió, nơi người dân chân
chất, đầu tắt mặt tối trên ruộng vườn, họ chưa từng được biết đến văn hóa thế giới,
có chăng là những tin tức chấp vá họ nghe hay nhìn được qua thiết bị truyền thông.
Đối với họ việc biết một thứ tiếng nước ngoài còn quá xa xỉ cho dù họ có muốn tiếp
cận. Bởi thế, việc phát triển dịch vụ du lịch mang theo những cơ hội để người dân
địa phương tiếp cận những kiến thức về văn hóa từ các vùng khác nhau trên thế
giới, học tiếng nước ngoài, học cách giao tiếp với nước ngoài,… Hoạt động du lịch
quốc tế phát triển cũng đồng nghĩa với những cơ hội giao lưu của người dân được
mở rộng.
IV. Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và bài học cho tỉnh Quảng
Ngãi về việc thu hút khách du lịch quốc tế
1. Kinh nghiệm của đảo Sabah (Malaysia)
Sabah là một hòn đảo nằm ở phía Bắc Borneo, là bang lớn thứ 2 tại Malaysia,
diện tích khoảng 74.500 km2 với 1.440 km bờ biển. Sabah được gọi là “Vùng đất
của gió” vì nằm trong vành đai bão. Dù vậy, Sabah vẫn có sức hút đối với du khách
bởi những công viên bảo tồn tự nhiên, trong đó có Công viên Quốc gia Kinabalu,
Khu bảo tồn Đười ươi Sepilok…
Thành phố Kota Kinabalu – thủ phủ của bang Sabah là một hòn đảo xinh đẹp
của núi, của biển, của cỏ cây hoa lá với những bãi tắm nguyên sơ và những khu
rừng nguyên sinh kết hợp thành một bức tranh của tự nhiên hoàn mỹ. Vì vậy,
Kota Kinabalu còn là cửa ngõ cho những chuyến phiêu lưu leo núi, đi bè vượt thác,
khám phá hang động. Du khách sẽ có những phút giây thư giãn tuyệt vời tại suối
23
nước nóng Poring, tận hưởng những loại hình dịch vụ không chê vào đâu được. Du
khách thích thú đắm mình vào làn nước biển trong xanh, chơi nhảy dù, lướt ván, tàu
chuối (gần giống với lướt ván), lặn biển, tắm nắng và tận hưởng các dịch vụ cao cấp
trong các resort.
Công viên Quốc gia Kinabalu là một điểm nhấn mà khách du lịch không thể
hoa khổng lồ này tại Trung tâm hoa Rafflesia. Rafflesia là loài cây ký sinh, song
hoa của nó có đường kính tới 1,5m và nặng tới 10-12kg. Thật tuyệt vời khi ngắm
những bông hoa khổng lồ này nở bung trên các triền đồi, các sườn dốc. Có điều loài
hoa này có mùi rất hôi.
Sabah còn nhiều khung cảnh nên thơ được tạo bởi dòng Kinabatangan – con
sông dài nhất của Malaysia. Dọc hai bờ sông về phía hạ nguồn là nơi tập trung động
vật hoang dã lớn nhất của đất nước này. Đi thuyền trên sông, du khách có thể nhìn
thấy đời sống tự nhiên của đười ươi, khỉ lông đỏ và lông bạc, voi, cá sấu, rái cá và
khỉ Proboscis sinh sống trong khu vực đầm lầy ven sông.
2. Kinh nghiệm của Singapore
Singapore, được mệnh danh là con rồng và thành phố "sạch sẽ nhất" Châu Á,
là nơi bạn sẽ khám phá thấy được những truyền thống cổ xưa hòa hợp với xu thế
phát triển hiện đại.
Không náo nhiệt, ồn ã như một số thủ đô khác nhưng Singapore - đất nước nhỏ
bé và ngăn nắp, tinh tươm hàng năm luôn thu hút lượng du khách vượt xa dân số
của họ. Ở Singapore, đất đai quý đến mức có những con đường được làm trên nền
đất bồi mua từ các quốc gia láng giềng, vậy mà thành phố có rất nhiều khoảng xanh
phủ ngợp, dịu mát, trong lành. Du khách không bắt gặp cảnh ăn uống, nhậu nhẹt
tưng bừng nơi vỉa hè. Các điểm ăn nhậu bình dân thường được “giấu” vào các con
phố nhỏ hoặc khuất sau lùm cây xanh khiến vẻ ngoại cảnh thêm nét thanh tao.
Một nếp sống văn hóa được hình thành từ cả một quá trình lâu dài, nghiêm
ngặt. Những vi phạm như hút thuốc nơi không được phép, nhả kẹo cao su, xả rác
bừa bãi, vi phạm luật giao thông bị xử phạt rất nặng. Thật khó thấy bóng dáng
cảnh sát trên đường phố nhưng ở đây không ít lần du khách được chứng kiến hình
ảnh người qua đường, có khi là một người già yếu lượm bỏ vô thùng rác vỏ bao
thuốc, túi xốp mà ai đó sơ ý để rớt trên đường
Mạng lưới giao thông công cộng thật lý tưởng, ở các bến xe và đường phố
tuyệt đối không có cảnh đậu xe bừa bãi hay taxi giành giật khách, người dân không
bị ám ảnh bởi nạn ô nhiễm môi trường, kẹt xe Những hình ảnh ấy gợi lên biết bao
25
thuyết sư tử biển - linh hồn của đảo Sentosa Ðặt chân vào Bảo tàng sáp, dưới hình