Tiểu luận Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Nam - Pdf 39

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng
cao, họ không những có nhu cầu về vật chất mà còn có nhu cầu được thỏa mãn về
tinh thần như vui chơi, giải trí và du lịch. Do đó, du lịch là một trong những ngành
có triển vọng.
Ngành du lịch Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước khác trên thế
giới nhưng vai trò của nó thì không thể phủ nhận. Du lịch là một ngành “ công
nghiệp không khói ”, mang lại thu nhập lớn cho nền kinh tế, giải quyết công ăn việc
làm cho hàng vạn lao động, góp phần truyền bá hình ảnh Việt Nam ra toàn thế giới.
Nhận thức được điều này, Đảng và Nhà nước đã đưa ra mục tiêu xây dựng ngành
du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Quán triệt tinh thần đó thì ngành du lịch
Việt Nam nói chung và ngành du lịch Quảng Nam, một trong những tỉnh của đất
nước, nói riêng đã có những bước phát triển khá nhanh trong những năm trở lại đây.
Sự phát triển của du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên,
cơ sở hạ tầng, các điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hôi, chính trị…Trong đó, phát
triển của thị trường khách cũng là một trong những yếu tố quan trọng, đặc biệt là thị
trường khách quốc tế. Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường khách du lịch quốc tế
vào Việt Nam nói chung cũng như Quảng Nam trong thời gần đây còn những hạn
chế nhất định so với các nước trong khu vực. Trước tình hình đó, là một sinh viên
khoa Văn hóa – Du lịch, nguồn nhân lực tương lai của đất nước và hơn hết là một
người con của quê hương Quảng Nam, tôi mong muốn có những đóng góp bé nhỏ
của mình để góp một phần nào vào sự phát triển du lịch của tỉnh nhà. Vì vậy, tôi đã
chọn đề tài “Giải pháp thu hút khách du lich quốc tế đến Quảng Nam” để tìm hiểu
và nghiên cứu. Tôi cho rằng, đây là đề tài cấp thiết và có giá trị cả về mặt lí luận
cũng như thực tiễn.
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc hệ thống hóa các yếu tố ảnh hưởng và phân tích thực trạng
việc thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Nam, bài viết hướng đến việc đề xuất
một số giải pháp cũng như kiến nghị nhằm đẩy mạnh thu hút khách du lịch quốc tế
đến Quảng Nam.


B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ KHÁCH DU LỊCH QUỐC
TẾ
1.1. Một số khái niệm liên quan đến du lịch
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở
thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay trên phạm vi toàn
thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống kinh tế –
xã hội. Du lịch đang phát triển mạnh mẽ và trở thành ngành kinh tế quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước nói riêng và của kinh tế toàn cầu nói
chung. Khái niệm du lịch đã xuất hiện từ khá lâu. Do hoàn cảnh khác nhau, dưới
mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu và định nghĩa về du
lịch không giống nhau.
Theo Gluman : “Du lịch là sự khắc phục về mặt không gian của con người
hướng đến một điểm nhất định nhưng không phải là nơi ở thường xuyên của họ”.
Dưới con mắt của Azar : “Du lịch là một trong những hình thức di chuyển
tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước
khác nếu không gắn với sự thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc ”.
Khái niệm cơ bản về du lịch được Liên hợp Quốc các tổ chức lữ hành chính
thức – IUOTO ( Internation Union of Official Travel Oragnizatinos ) đưa ra như
sau : “ Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư
trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, không phải để
làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…”
Theo giáo sư Khadginicolov – một trong những nhà tiền bối về du lịch của
Bulgarie đưa ra định nghĩa về khách du lịch : “ Khách du lịch là người hành trình tự
nguyện , với những mục đích hòa bình. Trong cuộc hành trình của mình họ đi qua
những chặng đường khác nhau và thay đổi một hoặc nhiều lần nơi cư trú của mình”.
1.2. Khách du lịch quốc tế
1.2.1. Khái niệm
Khái niệm du lịch quốc tế

1.2.2.1. Ý nghĩa về mặt kinh tế
Tăng GDP (Tổng sản phẩm quốc nội) cho đất nước
Du lịch quốc tế phát triển sẽ góp phần tăng tỷ trọng GDP của ngành du lịch
trong khu vực dịch vụ, theo đó làm tăng GDP của nền kinh tế quốc dân. Ở đâu du
lịch phát triển, đặc biệt là du lich quốc tế thì ở đó diện mạo đô thị, nông thôn được


chỉnh trang, sạch đẹp hơn, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, mức sống của
nhân dân được nâng cao. Hơn nữa, hoạt động du lịch quốc tế còn tạo ra khả năng
tiêu thụ tại chỗ cho hàng hóa và dịch vụ, thúc đẩy các ngành khác phát triển, khôi
phục nhiều lễ hội và làng nghề thủ công truyền thống, góp phần thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế cả nước và từng địa phương, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo
và vươn lên làm giàu, mở rộng giao lưu giữa các vùng miền trong và ngoài nước.
Mang lại ngoại tệ cho đất nước
Khách du lịch quốc tế mang theo tiền kiếm được từ quốc gia cư trú đến tiêu
ở nước đến du lịch, trong chừng mực nào đó được coi là xuất khẩu của nước đến du
lịch, do đó giúp cải thiện cán cân thương mại quốc gia. Vì vậy, nếu du lịch quốc tế
được duy trì một cách thường xuyên và phù hợp thì nó có thể được coi như một tác
nhân giữ ổn định nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu.
Thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển
Hoạt động liên doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành. Yêu cầu về sự hỗ
trợ liên ngành này là cơ sở cho các ngành như: giao thông vận tải, tài chính, bưu
điện, sản xuất đồ lưu niệm phát triển. Lượng khách du lịch quốc tế đến với quốc gia
càng nhiều thì giao thông quốc tế và hệ thống cơ sở hạ tầng của quốc gia như mạng
lưới giao thông công cộng, mạng lưới điện nước, các phương tiện truyền thông…
càng được mở rộng và hoàn thiện. Lượng khách du lịch quốc tế càng nhiều còn mở
ra thị trường tiêu thụ hàng hóa cho nền sản xuất xã hội.
Khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Các nhà kinh doanh thường tìm đến các lĩnh vực kinh doanh thu được lợi
nhuận cao trên mỗi đồng vốn bỏ ra. Một ưu điểm lớn của hoạt động kinh doanh du

làng nghề. Từ đó, các nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền của dân tộc có điều kiện
phục hồi và phát triển. Đồng thời qua đó làm tăng thu nhập cho người dân địa
phương, tăng cường giao lưu văn hóa và xây dựng nếp sống văn minh ở mỗi địa
phương.
Giảm quá trình đô thị hóa
Thông thường, tài nguyên du lịch thiên nhiên có nhiều ở các vùng núi,
trung du, ven biển hay những nơi hẻo lánh, ít dân cư. Việc thu hút khách du lịch
quốc tế sẽ tạo sức hấp dẫn thu hút đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng…làm thay đổi bộ
mặt kinh tế - xã hội ở các vùng đó, góp phần phân bố lại dân cư, giảm mật độ dân
cư quá cao ở những trung tâm kinh tế xã hội lớn.


Tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho nước làm du lịch
Thu hút khách du lịch quốc tế là phương tiện tuyên truyền quảng cáo hữu
hiệu cho hàng hóa nội địa ra nước ngoài thông qua du khách. Khách du lịch quốc tế
được làm quen tại chỗ với các mặt hàng công nghiệp, thủ công nghiệp của các quốc
gia. Một số mặt hàng làm cho du khách hài lòng cả về chất lượng, mẫu mã, và giá
cả. Khi về đến nước mình, khách du lịch sẽ giới thiệu cho bạn bè, người thân. Từ
đó, các mặt hàng sẽ được biết đến nhiều hơn và tạo điều kiện để các cơ sở đó phát
triển.
1.2.2.3. Ý nghĩa về mặt văn hóa – chính trị
Mở rộng giao lưu văn hóa
Hoạt động du lịch nói chung và du lịch quốc tế nói riêng phát triển kéo theo
sự mở rộng giao lưu kinh tế văn hóa giữa các vùng, miền và với quốc tế, góp phần
giáo dục truyền thống, đào tạo kiến thức và rèn luyện, bồi dưỡng thể chất, tinh thần
cho mọi tầng lớp nhân dân. Trên phạm vi thế giới, du lịch quốc tế được coi là
phương thức hữu hiệu xúc tiến quá trình giao lưu, trao đổi văn hóa giữa các quốc
gia và khu vực. Cụ thể, khách du lịch quốc tế đến thăm viếng một đất nước sẽ được
tiếp xúc và tìm hiểu phong tục, tập quán, truyền thống, thói quen của đất nước họ
đang du lịch qua việc giao tiếp với người dân bản địa cũng như đi tham quan những

được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu
du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.
Khoản 1 (Điều 4, chương 1), Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: “
Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn
đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các
yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên
nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn
gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử,
cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và
các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích
du lịch”.
Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch. Để
thu hút và đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, các sản phẩm du lịch cần phải đa
dạng, phong phú, đặc sắc và mới mẻ. Tài nguyên du lịch được xem là nhân tố quan
trọng để thu hút khách du lịch nói chung và khách du lịch quốc tế nói riêng. Tài


nguyên du lịch càng phong phú, đặc sắc và có mức tập trung cao thì càng có sức
hấp dẫn với du khách và có hiệu quả kinh doanh du lịch càng cao.
1.3.2. Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch theo nghĩa rộng là toàn bộ các phương tiên
vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác tài nguyên du lịch
nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách nói
chung và khách du lịch quốc tế nói riêng trong các chuyến hành trình của họ.
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Cơ sở vật chất của kỹ thuật du lịch bao gồm toàn bộ nhà cửa và phương
tiện kỹ thuật giúp cho việc phục vụ để thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch như
: khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải, các khu nhà giải trí, cửa
hàng, công viên, đường sá, hệ thống thoát nước, mạng lưới điện trong khu vực của
cơ sở du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá

bar, hướng dẫn viên du lịch, họ phải tiếp xúc với nhiều đối tượng khách du lịch
khác nhau với những đặc điểm tâm lí xã hội khác nhau. Vậy nên đội ngũ lao động
có trình độ, có chuyên môn nghiệp vụ chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là đội ngũ
lao động phải có tinh thần phục vụ tốt, làm việc hết sức chuyên nghiệp để tạo cảm
giác thân thân thiện và thỏa mái cho du khách. Đội ngũ lao động hội tụ đủ các điều
kiện trên chắc chắn sẽ là một tác nhân quan trọng để giúp thu hút khách du lịch
quốc tế.
1.3.4. Chính sách phát triển
Các chính sách phát triển du lịch hợp lí sẽ đảm bảo phát huy được khả năng
du lịch của quốc gia và mỗi địa phương. Đặc biệt các quy định và chính sách đa
dạng hóa về tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế của nhà nước và cơ quan
thẩm quyền địa phương luôn có tác động trực tiếp đáng kể đến việc thu hút này. Do
vậy các chính sách và các quy định này phải được xây dựng và triển khai hợp lí để
đảm bảo sự phù hợp giữa chính sách và khả năng thực hiện trên thực tế.
Để thu hút khách du lịch quốc tế, chính phủ và các cơ quan nhà nước cần
thực hiện các chính sách:


1.3.4.1. Xúc tiến quảng bá hình ảnh du lịch của quốc gia đến với khách du lịch
quốc tế
Du lịch là một lĩnh vực quan trọng toát lên vẻ đẹp, bản sắc và điểm khác
biệt của mỗi quốc gia, dân tộc. Du lịch kết tinh từ nhiều yếu tố văn hóa, địa lí và
con người. Du lịch đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế
phát triển, kết nối chính trị ngoại giao. Do đó, du lịch cần phải được xem là bộ mặt,
là hình ảnh của mỗi quốc gia. Do đó, để thu hút khách du lịch nói chung và khách
du lịch quốc tế nói riêng, chúng ta phải đẩy mạnh công tác quảng bá các tour du
lịch, các tài nguyên du lịch, các chính sách hấp dẫn khách du lịch nhằm truyền bá
hình ảnh đất nước, những cảnh đẹp, những nét đặc sắc về văn hóa, con người của
quốc gia hay điểm đến, tạo được sự hấp dẫn cho khách du lịch nước ngoài, tạo động
lực để thu hút khách tìm đến với quốc gia hay điểm đến đó để khám phá, tìm hiểu.

1.3.4.4. Cải thiện môi trường du lịch
Du lịch rất nhạy cảm với những biến động của chính trị, xã hội. Quốc gia
nào thường xảy ra các bất ổn về chính trị, xã hội sẽ tạo yếu tố tâm lý hoang mang,
lo sợ cho du khách, làm giảm lượng khách quốc tế đến quốc gia đó. Do đó, các
chính sách của chính phủ đối với du khách quốc tế như bảo đảm an toàn, tạo được
thuận lợi cho du khách đi du lịch trong quốc gia đó, bảo đảm được môi trường
chính trị xã hội ổn định…để thu hút khách du lịch quốc tế.
1.3.4.5. Phối kết hợp hoạt động của ngành du lịch với các ngành liên quan
phục vụ cho hoạt động du lịch
Sản phẩm du lịch là sản phẩm tổng hợp được biểu hiện bằng nhiều loại
hình dịch vụ. Phạm vi hoạt động của ngành kinh tế du lịch bao gồm các khách sạn,
nhà hàng, dịch vụ bán đồ lưu niệm. Ngoài ra, còn có bộ phận sản xuất tư liệu phi
vật chất như văn hóa, giáo dục, tôn giáo, hải quan, tài chính…Do đó, du lịch chỉ
phát triển khi có sự kết hợp chặt chẽ với các ngành. Sự phối hợp giữa hoạt động của
du lịch và các ngành này càng nhịp nhàng và thuận tiện cho khách du lịch thì càng
tăng sự thỏa mãn và hài lòng ở du khách.
1.3.4.6. Phát triển nguồn nhân lực
Chất lượng du lịch là yếu tố quyết định khả năng thu hút khách du lịch tại
một điểm đến. Nâng cao chất lượng dịch vụ luôn là mục tiêu quan trọng của mỗi
quốc gia để phát triển du lịch. Trong đó, yếu tố con người giữ vai trò quan trọng
nhất bởi con người bằng sức lao động của mình tác động đến cơ sở vật chất kỹ thuật


để khai thác các giá trị của tài nguyên du lịch tạo ra dich vụ, hàng hóa cung ứng cho
du khách. Vì vậy, chính phủ mỗi nước luôn đề ra các chương trình phát triển nguồn
nhân lực tại đất nước mình, nhằm đào tạo đội ngũ lao động phục vụ du lịch chuyên
nghiệp, có ý thức trách nhiệm và nhiệt tình.
1.3.4.7. Tuyền truyền và nâng cao ý thức cộng đồng về du lịch
Có thể nói du lịch là công việc của toàn xã hội. Sự phát triển của du lịch
liên quan đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, liên

sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ.
Quảng Nam có hai vùng khí hậu khá rõ rệt là khí hậu của vùng nhiệt đới
ven biển và khí hậu ôn đới vùng cao. Nhiệt độ trung bình năm là 25°C, chia thành
hai mùa: mùa khô từ tháng 2 đến tháng 4 là khí hậu nóng và khô, từ tháng 9 đến
tháng 12 là mùa mưa. Lượng mưa trung bình năm ở Quảng Nam khoảng 2.000mm.
Trong tiến trình lịch sử, vùng đất Quảng Nam và Đà Nẵng được tạo lập trên
con đường phát triển về phía Nam của nhiều thế hệ người Việt. Các nhà khảo cổ
học đã tìm thấy dấu tích văn hóa Sa Huỳnh, sau đó được người Chămpa kế thừa và
sáng tạo ra nền văn hóa Chămpa. Vương quốc Chămpa đã có hai thời kỳ cực thịnh
với những cung điện, đền đài, thành quách uy nghi tráng lệ được xây dựng từ thế kỷ
I đến thế kỷ IX. Năm 1306, vùng đất Quảng Nam trở thành đất của Đại Việt. Đây là
đất sính lễ của vua Chế Mân dâng lên vua Trần Anh Tông khi cưới công chúa
Huyền Trân về làm hoàng hậu vương quốc Chămpa. Năm 1471 dưới thời vua Lê
Thánh Tông, Quảng Nam là thừa tuyên thứ 13 của Đại Việt.
Năm 1570 – 1606 Nguyễn Hoàng (một chúa Nguyễn sau này) khi làm lãnh
trấn Quảng Nam đã coi Đà Nẵng là cửa ngõ yết hầu miền Thuận Quảng, biến nó
thành đất dung nạp những người từ phía Bắc vào khai canh, với bên ngoài…Năm
1832 được vua Minh Mạng đổi thành Quảng Nam dinh. Tỉnh Quảng Nam đã được


lập từ năm 1831, là một tỉnh nông nghiệp. Hai dòng sông Thu Bồn và Tam Kỳ vừa
tô điểm cho Quảng Nam vừa là đường giao thông thuận tiện.
Phố cổ Hội An (trước đây là cảng Đại Chiêm), một trong những đô thị cổ
nhất Đông Nam Á, đến nay vẫn giữ được gần như nguyên vẹn. Cùng với Hội An,
quần thể đền tháp ở Mỹ Sơn là hai di sản của Quảng Nam được UNESCO (United
Nations Educational Scientific and Cultural Organization - Tổ chức Giáo dục, Khoa
học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc) công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Về văn hóa – lễ hội, Quảng Nam là vùng đất giàu truyền thống văn hóa.
Cùng với Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế, Quảng Nam được mệnh danh là vùng “đất
học”, “vùng văn hóa” đất sản sinh của nhân tài, các vị khoa bảng, những nhà hoạt

phòng sẵn sàng phục vụ trên năm nghìn khách/ngày. Mạng lưới kinh tế du lịch phát
triển nhanh với 150 doanh nghiệp và hơn 3.500 hộ kinh doanh với gần 11 nghìn
người trực tiếp lao động trong nghành du lịch.Tuy nhiên, phát triển du lịch trên địa
bàn tỉnh chưa đều; nhận thức về phát triển du lịch ở các cấp, các ngành du lịch còn
hạn chế, nhiều địa phương chưa có định hướng phát triển, chưa đa dạng hóa các loại
hình du lịch; kết cấu hạ tầng và các dịch vụ phụ trợ du lịch còn nhiều mặt yếu kém;
việc chuẩn bị nguồn nhân lực còn hạn chế, chưa đồng bộ chưa khai thác hết lợi thế
đẩy mạnh phát triển.
Trong những năm qua, số lượng khách đến tham quan và lưu trú trên địa
bàn tỉnh tăng lên qua các năm. Theo báo cáo của Sở VHTT-DL Quảng Nam, trong
năm 2010, tổng lượt khách tham quan và lưu trú là 2.391.677 lượt khách thì đến
năm 2013 tổng lượt khách tham quan lưu trú ước đạt 3,4 triệu lượt khách (tăng
20,64 % so với cùng kỳ năm 2012;) trong đó khách quốc tế ước đạt 1,65 triệu lượt
khách (tăng 19,19 % so với cùng kỳ năm 2012), khách nội địa ước đạt 1,75 triệu
lượt khách (tăng 22,04 % so với năm 2012). Đây là một con số đáng khích lệ cho
ngành du lịch tỉnh nhà và cần đầu tư phát triển hơn nữa để số lượng khách đến
Quảng Nam sẽ tăng hơn nữa từ nay cho đến năm 2020.


Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch năm 2010 - 2013

Ước
Chỉ tiêu

2010

2012 2013

2011



541,190

592,000

* Khách nội địa

259,315

289,359

330,844

358,000

2. Ngày khách

1,509,922 1,736,358 1,805,124 2,100,000

* Quốc tế

1,081,431 1,250,195 1,323,605 1,500,000

* Nội địa

428,491

486,163

481,519


2

( Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam )
2.2.2. Tình hình khách du lịch quốc tế đến tỉnh Quảng Nam
Theo bảng thống kê của sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam,
trong những năm qua, khách quốc tế đến Quảng Nam chủ yếu là khách châu Âu và
cơ cấu khách du lịch không thay đổi đáng kể từ năm 2010 đến nay. Theo thống kê,
trong 8 tháng đầu năm 2013, Quảng Nam đón 516.086 lượt khách quốc tế trong đó
số lượt khách châu Âu chiếm số lượng lớn. Năm 2010, khách Pháp có 54.808 lượt
khách, khách Úc chiếm 64.630, khách Anh gần 37.309 lượt, khách Đức gần 36.679
lượt và khách Mỹ gần 36.137 lượt. Đến năm 2011, trong giai đoạn đầu lượng khách
từ thị trường châu Âu có giảm đôi chút nhưng không đáng kể. Trong đó cơ cấu
khách theo quốc tịch đến Việt Nam đa số là các nước châu Á, đặc biệt là các nước:


Trung Quc, Nht Bn, Hn Quc, i Loan, Thỏi Lan, Malaysia. S lt khỏch
quc t n Qung Nam luụn nm v trớ túp 5 ca c nc ( Bỏo Qung Nam,
2006).
Bng 2.2: C cu khỏch quc t n Vit Nam theo quc tch t nm 2010
2013

Quc tch

2012 8t/2013

2010

2011


2764

4112

3415

Anh

37309

34103

50582

50887

Bỉ

5317

4932

5861

4368

Đức

36679


7780

Nauy

2813

2760

4510

4592

Pháp

54808

52984

64897

58713

T.Ban Nha

14510

11598

17581


6695

úc

64630

65809

90625

82627

Canada

11795

11336

13758

11850

Tng khỏch
quc t

áo

Đan Mạch
Hà Lan



7474

7158

4123

TrungQuèc

7991

8898

13343

22026

PhÇnLan

1421

1489

1825

2126

AiLen

2481


215

114

3

1374

946

7605

7274

Laos

50

108

0

0

Campuchia

41

71

(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam)


Biểu đồ 2.1: Biểu đồ số lượt khách quốc tế đến Quảng Nam năm 2010 – 2012
Đơn vị : Lượt khách

( Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam )
Qua quan sát biểu đồ, có thể thấy số lượng khách quốc tế đến Quảng Nam
có xu hướng tăng dần qua các năm. Với số lượt khách quốc tế đến tham quan cụ thể
là năm 2010, Quảng Nam đón được 472362 lượt khách đến, năm 2011 con số đã
tăng lên 512617 lượt, và đến năm 2012 đạt 541190 lượt khách quốc tế. Với kết quả
trên, đây là tín hiệu đáng mừng cho thấy du lịch Quảng Nam đã vững vàng hơn với
lượng khách tăng ổn định, ít chịu ảnh hưởng của những biến động về kinh tế.
2.2.3. Tình hình doanh thu từ khách du lịch quốc tế tại tỉnh Quảng Nam
Trong những năm qua, cơ cấu khách lưu trú chuyển biến theo hướng tích
cực với ưu thế vượt trội thuộc về các cơ sở lưu trú có chất lượng cao, các khách sạn
được xếp hạn sao. Các loại hình du lịch có tiềm năng như sinh thái, biển đảo, nghỉ
dưởng, hội nghị… tiếp tục được chú trọng và có bước phát triển. Cũng như số
lượng khách, doanh thu du lich Quảng Nam tăng qua các năm. Trong 9 tháng đầu
năm 2013, con số doanh thu đạt gần 1,5 tỷ đồng.


Biểu đồ 2.2: Biểu đồ doanh thu của du lịch quốc tế vào Quảng Nam 2010 2012
Đơn vị : Tỷ đồng

Doanh thu
4000

3.359


Quảng Nam
2.3.1. Tài nguyên du lịch
Quảng Nam là vùng đất có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch.
Nơi đây có biển và trên 125 km bờ biển với nhiều bãi tắm sạch đẹp ở khu vực Điện
Bàn, Hội An, Tam Kỳ, Núi Thành... Ngoài ra còn có 15 hòn đảo lớn nhỏ ngoài
khơi, 10 hồ nước (với 6000 ha mặt nước, khoảng 11000 ha rừng xung quanh khu
vực hồ và 40 đảo trong các hồ) là một trong những tiềm năng lớn để phát triển du
lịch Quảng Nam. Môi trường không bị ô nhiễm, độ dốc ít, cát mịn và độ mặn vừa
phải, nước biển xanh và đặc biệt khí hậu biển rất lý tưởng cho phát triển các loại
hình du lịch nghỉ biển và nghỉ cuối tuần. Ngoài ra hai di sản văn hoá thế giới là
Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và nhiều địa điểm di tích lịch sử và văn hoá


(theo thống kê Quảng Nam có khoảng 61 điểm du lịch) cùng với nhiều loại hình
hoạt động văn hoá (như hát tuồng, hát đối) và các quần thể kiến trúc khác như
chứng tích Núi Thành, địa đạo Kỳ Anh... tạo nên những điểm thu hút khách du lịch
đến thăm quan, tìm hiểu. Bên cạnh đó các làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống
độc đáo và những vùng ruộng, đồng, sông nước giữ nguyên nét điển hình của làng
quê Việt Nam, hội đủ các yếu tố phát triển du lịch đồng quê, du lịch vườn, làm đa
dạng các loại hình du lịch, tạo thêm sức hấp dẫn đối với du khách.
2.3.2. Cơ sở hạ tầng
Các tuyến đường giao thông đến các điểm du lịch được tỉnh đầu tư xây
dựng. Theo thống kê của Sở Văn hóa thể thao và du lịch, trong vòng 6 năm qua
(2007 - 2013), Quảng Nam đã đầu tư 6 dự án cơ sở hạ tầng du lịch. Đó là đường
vào khu du lịch sinh thái Khe Lim (Đại Lộc), đường vào khu du lịch thác Grăng
(Nam Giang), đường du lịch ven sông Tam Kỳ, hạ tầng du lịch cộng đồng Trà Nhiêu
(Duy Xuyên), đường vào nhà cụ Phan Châu Trinh (Tam Lộc) và đường vào điểm

du lịch thác Trắng – mỏ vàng Bồng Miêu (Phú Ninh).
Hiện nay, về cơ sở lưu trú, Quảng Nam có đến 160 cơ sở lưu trú với số

hướng dẫn tiếng Anh, 11 hướng dẫn viên tiếng Pháp, 2 hướng dẫn viên tiếng Trung,
2 hướng dẫn viên tiếng Đức, 1 hướng dẫn viên tiếng Nhật ) so với nhu cầu hướng
dẫn viên các ngoại ngữ hiếm như Tây Ban Nha, Thái, Nhật…vẫn còn thiếu, nhất là
vào mùa cao điểm.
2.3.5. Các chính sách phát triển du lịch của tỉnh Quảng Nam
Các chính sách phát triển du lịch để thu hút khách du lịch nói chung và
khách quốc tế nói riêng luôn được tỉnh Quảng Nam quan tâm. Trong những năm
qua, tỉnh đã chủ trương đưa ra các chính thu hút khách du lịch mang lại hiệu quả
cho hoạt động du lịch tỉnh nhà.
Tổ chức không gian phát triển du lịch được lồng ghép trong không gian kinh
tế – xã hội của vùng nghiên cứu và mối quan hệ về du lịch với các lãnh thổ lân cận
cũng như phụ thuộc vào sự phân bổ của các nguồn tài nguyên du lịch nổi trội, của
hệ thống kết cấu hạ tầng và phù hợp các nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch
trong nước và quốc tế.
Đảm bảo việc khai thác có hiệu quả tiềm năng tài nguyên du lịch nổi trội và
lợi thế về vị trí địa lý: Quảng Nam là nơi hội tụ hai di sản thế giới và nhiều tài


nguyên du lịch có giá trị khác cần tận dụng hiệu quả những thế mạnh tài nguyên du
lịch đặc thù cũng như mối liên hệ toàn vùng đề xây dựng các sản phẩm du lịch có
chất lượng và thương hiệu du lịch Quảng Nam nổi tiếng cả trong và ngoài nước.
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng điển hình như đường Hồ Chi Minh được
xây dựng, đưa vào sử dụng sẽ đánh thức tiềm năng du lịch vùng rừng núi phía tây
của tỉnh. Với các địa danh và thắng cảnh nổi tiếng như: khu bảo tồn sông Thanh,
A Sờ, các di tích lịch sử, các làng văn hoá của các dân tộc thiểu số, di tích lịch sử
Thượng Đức, làng Rô, thác Grăng... hướng phát triển các loại hình dịch vụ du lịch
ở đây là: tham quan di tích lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng núi, tham quan các hang
động tự nhiên, rừng nguyên sinh. Đặc biệt thu hút du khách tham quan làng văn
hoá các dân tộc thiểu số... Gắn du lịch đường Hồ Chí Minh với tuyến du lịch
đường bộ qua cửa khẩu Đắc ốc khai thác thị trường khách từ Thái Lan đến Lào và

quan trọng để thu hút khách du lịch. Chính lòng người nơi đây đã để lại cho du
khách những cảm giác khó quên.
2.3.7. Đánh giá chung thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế của Quảng
Nam giai đoạn 2010 – 2013
Qua việc phân tích thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế của Quảng Nam
giai đoạn 2010 – 2013, có thể đưa ra một số nhận xét sau :
Thứ nhất, mặc dù số lượng khách cũng như doanh thu trong những năm qua
tăng nhưng chưa thực sự xứng tầm và phù hợp với những tiềm năng vốn có của
vùng. Quảng Nam chưa thật sự khai thác tốt thị trường khu vực trong khi theo báo
cáo tổ chức du lịch thế giới về nguồn khách du lịch, có hai đặc điểm đáng lưu ý:
đầu tiên, có đến 80% du khách đến từ các nước trong khu vực; thứ hai, trong những
năm gần đây, lượng du khách đến từ các nước đang phát triển tăng mạnh hơn, đặc
biệt các vùng Đông Bắc và Đông Nam Á, Đông và Trung Âu, Trung Đông, Nam
Phi và Nam Mỹ (Tổ chức du lịch thế giới). Quảng Nam hoàn toàn có thể thu hút
lượng khách Trung Quốc và Nhật Bản dồi dào đến du lịch và có mối liên kết lịch
sử, văn hóa đặc biệt (du lich Hội An). Với tiềm năng phát triển du lịch đa dạng và
phong phú, tỉnh Quảng Nam có thể thu hút được số lượng khách du lịch lớn hơn và
đa dạng hơn, đặc biêt có thể khai thác ở các thị trường rộng lớn và có tiềm năng
như châu Âu, châu Úc.
Thứ 2, thị trường truyền thống của du lịch Quảng Nam là Pháp, Australia,
Đức, Mỹ, Anh, Canada cần tiếp tục duy trì lượng khách này vì chỉ tiêu cho du lịch
của những du khách mang quốc tịch này là lớn nhất trên thế giới. Bên cạnh đó, thị



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status