Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong chiến đấu của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động Việt Nam, là ngời lãnh đạo và tổ chức đa nhân dân
Việt Nam vợt qua bao khó khăn thử thách và giành đợc những thắng lợi hết
sức to lớn, vẻ vang qua các giai đoạn cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ đất nớc. Từng bớc đa nớc ta vững bớc đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tuy vậy, trong quá trình hoạt động của Đảng ta vẫn còn bộc lộ không ít
những khuyết điểm, yếu kém nhất là trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đặc
biệt là trớc sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trờng, một số tổ chức
Đảng còn lúng túng trong việc đổi mới phơng thức lãnh đạo, công tác tổ chức
có nơi còn lỏng lẻo, việc duy trì kỷ luật của Đảng cha nghiêm minh. Một số
cán bộ Đảng viên năng lực còn hạn chế không đáp ứng đợc yêu cầu, nhiệm vụ
của Đảng trong tình hình mới. Một bộ phận không nhỏ cán bộ Đảng viên
thoái hoá biến chất vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của nhà nớc. Hiện tợng
mất đoàn kết ở một số tổ chức đảng diễn ra khá nghiêm trọng. Tệ nạn tham
nhũng, buôn lậu, hối lộ, tiêu phí tài sản của nhà nớc và nhân dân đang diễn ra
ngày một phức tạp và có chiều hớng gia tăng. Những hiện tợng đó đã gây tác
hại to lớn làm ảnh hởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, làm suy
giảm uy tín của Đảng. Vì vậy, nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng đang là
vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiện nay.
Thực tế cho thấy, có tăng cờng công tác kiểm tra, giữ vững kỷ luật, kỷ
cơng, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng thì mới đáp ứng đợc yêu cầu
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nớc nói chung và nhiệm vụ chính trị của
từng đơn vị, địa phơng nói riêng. Giữ vững kỷ luật Đảng và tăng cờng kỷ cơng
của Đảng là nhiệm vụ cực kì quan trọng . Nó vừa mang tính thời sự cấp bách,
vừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài trong công tác xây dựng đảng. Kỷ luật của
Đảng đợc giữ vững thì việc chấp hành mọi đờng lối, chủ trơng, của đảng, pháp
luật của nhà nớc sẽ đợc thực hiện nghiêm túc. Hoạt động của Đảng, nhà nớc,
các đoàn thể, tổ chức xã hội sẽ càng có hiệu quả. Bản chất giai cấp công nhân
1
2
Mục đích:
- Nghiên cứu thực trạng tình hình công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng ở
Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay
- Bớc đầu rút ra một số kinh nghiệm, đề xuất nhằm nâng cao chất lợng
của công tác kiểm tra, kỷ luật trong Đảng ở Đảng bộ tỉnh Phú Thọ.
Nhiệm vụ:
- Bớc đầu làm rõ cơ sở hình thành cũng nh những quan điểm của Hồ
Chí Minh về công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng và qúa trình Đảng bộ tỉnh Phú
Thọ vận dụng những quan điểm đó trong công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng ở
Đảng bộ tỉnh
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tợng: Vận dụng những quan điểm của Hồ Chí Minh vào công tác
kiểm tra, kỷ luật Đảng ở tỉnh Phú thọ.
Phạm vi nghiên cứu: Công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng ở Đảng bộ tỉnh
Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay
5. Cơ sở lí luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở lý luận của đề tài là những quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin,
t tởng Hồ Chí Minh, thực tiễn hoạt động của Đảng ta và những quan điểm chỉ
đạo của đảng về vấn đề kiểm tra, kỷ luật Đảng.
V phng phỏp lun: ti s dng phng phỏp lun Ch ngha duy
vt bin chng v ch ngha duy vt lch s của Chủ nghĩa Mác- Lênin
Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phơng pháp lịch sử, lôgic, tổng hợp,
thống kê, so sánh, khảo sát thực tiễn, nhằm đạt đợc những mục đích đặt ra của
đề tài.
6. Đóng góp của đề tài:
Bớc đầu khái quát những quan điểm cơ bản của các nhà kinh điển MácLênin, t tởng Hồ Chí Minh về sự cần thiết của công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng
chiến tranh xâm lợc, xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp
giải phóng dân tộc, thống nhất đất nớc, tiến hành công cuộc đổi mới xây dựng
CNXH và bảo vệ vững chắc độc lập của tổ quốc. Sự nghiệp cách mạng lâu dài,
gian khổ, phức tạp đó đòi hỏi Đảng phải có đờng lối, chính sách đúng, có năng lực
tổ chức thực hiện cao, đòi hỏi phải tiến hành kiểm tra, kỷ luật chặt chẽ, thờng
xuyên, kịp thời. Chính vì vậy, ngay từ khi mới thành lập và trong suốt quá trình
lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng và tiến hành thờng xuyên công tác
kiểm tra, kỷ luật. Văn kiện Đại hội VIII khẳng định: Công tác kiểm tra có vị trí
cực kì quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng. Vậy theo khái
niệm chung nhất, kiểm tra, kỷ luật Đảng là gì?
1.1.1.1.Khái niệm kiểm tra Đảng
Kiểm tra Đảng là quá trình xem xét, tác động sâu sắc, có hệ thống và có
định hớng vào quá trình giải quyết các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội và
các hoạt động khác nói chung, công tác xây dựng Đảng nói riêng. Khái niệm
công tác kiểm tra của Đảng đợc xem xét và phân tích từ ba khía cạnh chủ yếu
sau:
Một là, công tác kiểm tra Đảng nh là một công cụ quan trọng, nh một
nguyên tắc chính của sự lãnh đạo, của công tác xây dựng Đảng.
5
Hai là, công tác kiểm tra Đảng nh là một phơng tiện nhằm đảm bảo vai
trò lãnh đạo, vai trò tiên phong của Đảng.
Ba là, công tác kiểm tra của Đảng nh là một phơng tiện có hiệu quả để
giải quyết những vấn đề trong quan hệ nội bộ Đảng.
Từ việc xem xét, phân tích trên, có thể rút ra: Công tác kiểm tra của
Đảng- đó là hoạt động của các cấp uỷ, các ban chức năng của Đảng, các tổ
chức cơ sở Đảng và Đảng viên, hớng vào việc xây dựng, thực hiện các nghị
quyết, chỉ thị, giải quyết các vấn đề trong sinh hoạt và nội bộ Đảng; hoàn
thiện qui trình lãnh đạo; giữ gìn kỉ luật của Đảng với mục đích thực hiện thắng
Đảng, những qui định cụ thể trong Đảng, có tính chất bắt buộc đối với mọi
hoạt động của mọi tổ chức Đảng và Đảng viên nhằm đảm bảo sự thống nhất
về chính trị, t tởng, tổ chức trong toàn Đảng.
Nghĩa thứ hai, kỷ luật là hình thức phạt đối với ngời và tổ chức vi
phạm kỷ luật Đảng
Trong một tổ chức, khi có đối tợng vi phạm những điều đã đợc qui định
thì tuỳ theo nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, và nguyên nhân của vi phạm,
tổ chức có thẩm quyền đợc dùng hình thức phạt đối với đối tợng đó.
Trong Đảng cũng có các hình thức kỷ luật, các hình thức kỷ luật đó đợc
qui định tại điều 35 Điều lệ Đảng ( khoá X).
Theo nghĩa thứ hai, thì việc thi hành kỷ luật trong Đảng đợc hiểu là: các
tổ chức đảng có thẩm quyền đợc thi hành kỷ luật đối với tổ chức Đảng và
Đảng viên có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật bằng một trong những
hình thức kỷ luật đợc qui định tại điều 35 Điều lệ Đảng (khoá X).
1.1.2.Cơ sở lí luận:
1.1.2.1.Chủ nghĩa Mác- Lênin
Trớc hết cần phải khẳng định rằng chủ nghĩa Mác- Lênin là nguồn gốc
lý luận quan trọng nhất quyết định sự hình thành quan điểm của Hồ Chí Minh
về kiểm tra, kỷ luật Đảng.
Lênin đã khẳng định rằng: Bằng bất cứ giá nào cần có kỷ luật nghiêm
khắc nhất và cần thực hiện một cách tự giác những điều mà đội tiên phong
của giai cấp vô sản đã chỉ dẫn, những điều đã đợc xây dựng nên trong qua
trình kinh nghiệm của họ1
Ngay từ khi ra đời một chính đảng của giai cấp vô sản thì Lênin đã
giành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề xây dựng một Đảng Cộng sản trong
1
Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ Matxcơva, 1977, t41, tr.178
7
của giai cấp vô sản là giai cấp vẫn thờng đa vào Đảng của mình những phần tử
1
2
Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ Matxcơva, 1978, t36, tr.298
Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ Matxcơva, 1977, t36, tr.423
8
hay trào lu cá biệt, không hoàn toàn triệt để, không hoàn toàn Mácxit thuần
nhất, không hoàn toàn đúng đắn, nhng cũng là giai cấp thờng vẫn tiến hành
từng kì gột rửa Đảng mình. Để xây dựng một chính Đảng vững mạnh của
giai cấp công nhân và nhân dân cả về vật chất và tinh thần thì nhất định phải
xây dựng một kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh giữ gìn sự trong sạch của nội bộ
Đảng, có nh thế Đảng mới có thể làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo của mình, làm
tròn sứ mệnh lịch sử mà dân tộc trao cho bởi không có kỷ luật sắt của giai
cấp vô sản thì không thể nào thoát khỏi mối uy hiếp của các thế lực phản
cách mạng cũng nh của nạn đói đợc1.
1.1.3. Cơ sở thực tiễn:
1.1.3.1. Thực tiễn hoạt động của Đảng từ khi ra đời
Ngày 3.2.1930, sau một thời gian chuẩn bị về chính trị, t tởng, và tổ
chức, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã đứng ra hợp nhất các tổ chức cộng sản
trong nớc để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Là một chính đảng tiền
phong cách mạng, ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo
cách mạng, nhất là khi trở thành Đảng cầm quyền, Đảng ta đặc biệt coi trọng
vấn đề giữ gìn kỷ cơng, kỷ luật của Đảng, xác định có đảng là có kiểm tra,
muốn lãnh đạo thì phải kiểm tra, không kiểm tra coi nh không lãnh đạo. Điều
lệ Đảng tháng 10.1930 ghi rõ: trách nhiệm của các Đảng viên và đảng bộ là
giữ theo kỷ luật của đảng một cách rất nghiêm khắc2. Từ khi thành lập đến
Phủ, có trách nhiệm kiểm tra cả trong quân đội2. Vì vậy, Ban Kiểm tra Trung
ơng Đảng và Ban thanh tra Chính phủ hợp nhất làm một. Hội nghị Ban chấp
hành Trung ơng lần thứ Mời (tháng 3/1957) chủ trơng tách Ban Kiểm tra
Trung ơng Đảng và Ban Thanh tra Chính phủ làm hai. Từ Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ III (tháng 9/1960), Ban Kiểm tra đợc đổi tên thành Uỷ ban Kiểm
tra, Uỷ ban Kiểm tra đợc thành lập đến cấp quận uỷ, huyện uỷ và tơng đơng.
Trớc yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, ngày
14/8/1969 tại Tây Ninh, Trung ơng Cục Miền Nam ra nghị quyết số 13NQTWC về việc thành lập Ban Kiểm tra Trung ơng cục miền Nam. Nghị
quyết nêu rõ: Việc thành lập ban kiểm tra các cấp nhằm phát huy dân chủ,
nâng cao tinh thần tự phê bình và phê bình, giữ gìn sự lãnh đạo, đề cao kỷ
luật của Đảng, đề cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ và Đảng viên, bảo vệ
sự đoàn kết thống nhất, tăng cờng tính giai cấp, tính tiền phong, làm cho tổ
chức Đảng trong sạch và vững mạnh để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình3.
Sau ngày 30/4/1975, Ban Kiểm tra Trung ơng cục miền Nam hợp nhất vào Uỷ ban
Kiểm tra Trung ơng, dới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng, Bộ
Chính trị, Ban Bí th đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
1
2
3
Đảng Cộng sản việt Nam: văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.9, tr.369
55 năm truyền thống ngành Kiểm tra Đảng, Uỷ ban Kiểm tra Trung ơng, tr.46
Tài liệu lu tại Cục Lu trữ trung ơng Đảng.
10
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3/1982), Điều lệ Đảng quy
định Đảng uỷ cơ sở đợc cử uỷ ban kiểm tra. Nh vậy, từ Đại hội V, uỷ ban
kiểm tra đợc thành lập thành một hệ thống hoàn chỉnh từ Trung ơng đến cơ sở
Đúng nh Hồ Chí Minh nói: kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về
nhiệm vụ của họ đối với Đảng1.
Đối với một tổ chức chính trị, đặc biệt là đối với một chính Đảng tiền
phong lãnh đạo, việc xác định rõ ràng, dứt khoát nguyên tắc tổ chức và kỷ luật
của nó là tuyệt đối cần thiết. Đó không chỉ là một bảo đảm cho hoạt động của
Đảng có hiệu quả mà còn chứng tỏ sức mạnh và bản chất cách mạng và khoa
học của Đảng. Vì thế, sinh thời Hồ Chí Minh thờng xuyên chăm lo rèn luyện
và củng cố kỷ luật Đảng, coi đó là một trong những nội dung thiết yếu nhằm
không ngừng xây dựng chỉnh đốn Đảng vững mạnh.
1.2.1. Vai trò của công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng
Tại điều 30, chơng VII, Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng
định: kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Tổ chức
đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát. Tổ chức đảng và đảng viên
chịu sự kiểm tra, giám sát của đảng2
Là một chính đảng cách mạng và khoa học, đơng nhiên Đảng phải có
một lý luận tiền phong hớng dẫn. Đó là lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin. Hồ
Chí Minh đòi hỏi: trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa
ấy3. Đó là dấu hiệu đầu tiên, cũng là một yêu cầu cơ bản của kỷ luật Đảng.
Đảng mà không có chủ nghĩa làm cốt, lộn xộn về mặt lý luận, t tởng thì
không thể là một Đảng mạnh và có kỷ luật. Do đó cũng không thể có khả
năng lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi. Kỷ luật của Đảng, nh Hồ Chí Minh
nhấn mạnh, trớc hết là t tởng nhất trí, hành động phải nhất trí. T tởng và hành
động trong Đảng luôn luôn có quan hệ mật thiết với nhau, nhng t tởng có
thống nhất, hành động mới thống nhất. T tởng, lý luận không thống nhất sẽ
phát sinh nhiều căn bệnh trong Đảng khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung
tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ4.
Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở mọi cán bộ Đảng viên rằng, Đảng ta
là một Đảng cách mạng, một Đảng vì nớc vì dân; rằng, Đảng không phải là
1
làm sao cho tổ chức, sinh hoạt và trong lãnh đạo Đảng phải có kỷ luật sắt,
đồng thời là kỷ luật tự giác.
Có thể khẳng định rằng, ngay từ rất sớm Hồ Chí Minh đã giành sự quan
tâm đặc biệt đến vấn đề kiểm tra và kỷ luật trong Đảng bởi vì nó có vai trò vô
cùng to lớn đối với toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng ta. Trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần, có rất nhiều vấn đề mới phát sinh, đòi hỏi Đảng ta phải
thờng xuyên tiếp cận, nắm bắt và xử lý. Đối tợng, nội dung và nhiệm vụ lãnh
đạo của Đảng ngày càng đa dạng, phong phú, sinh động; phạm vi hoạt động
rộng khắp tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh
Để có chủ trơng, quyết định đúng, giải pháp thực hiện tối u, kịp thời phát hiện
sai sót, hoàn chỉnh các quyết định, phát huy những mặt tích cực, hạn chế tiêu
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, t 4, tr.464
13
cực của đội ngũ Đảng viên, thì công tác kiểm tra cần phải đợc tiến hành thờng
xuyên. Do đó, kiểm tra là một vấn đề không thể thiếu trong hoạt động của mỗi
tổ chức Đảng và từng Đảng viên.
Quy trình lãnh đạo của Đảng gồm ba khâu chủ yếu: ra quyết định, tổ
chức thực hiện quyết định và kiểm tra sự thực hiện. Khi đánh giá sự lãnh đạo
của Đảng, nhất thiết phải căn cứ vào kết quả đánh giá ở cả ba khâu đó. Thấy
đợc tầm quan trọng của công tác kiểm tra kỷ luật, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nói: lãnh đạo đúng có nghĩa là phải quyết định mọi vấn đề cho đúng, phải
tổ chức sự thi hành cho đúng và phải tổ chức sự kiểm soát. Kiểm tra không chỉ
là khâu cuối cùng trong quy trình lãnh đạo, mà nó đan xen vào tất cả các
khâu, góp phần tạo nên sự hoàn thiện của cả quy trình. Vì vậy, sự lãnh đạo của
chấp hành triệt để, thực sự gắn liền với cuộc sống. Nó góp phần nâng cao chất
lợng lãnh đạo của Đảng, làm cho sự lãnh đạo gắn liền với thực tiễn hơn, vừa
đảm bảo sự thống nhất tuyệt đối giữa nghị quyết và sự chấp hành, giữa lời nói
và việc làm, giúp cho các cấp lãnh đạo của Đảng khắc phục đợc tình trạng chủ
quan duy ý chí, mơ hồ trong lãnh đạo. Kiểm tra trở thành công cụ rất hiệu
nghiệm trong việc chống quan liêu, chia rẽ, bè phái, vô kỷ luật đảm bảo cho
nguyên tắc tập trung dân chủ đợc tuân thủ nghiêm túc.
Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến nay là một chặng đờng có
nhiều thử thách lớn đối với Đảng ta. Nhiều khó khăn và vấn đề mới phát sinh,
đòi hỏi Đảng ta phải tập trung giải quyết nhằm tiếp tục đa công cuộc đổi mới
do Đảng khởi xớng tiến tới thắng lợi hoàn toàn, nhằm thực hiện trọn vẹn mục
tiêu Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh Để hoàn
thành đợc sứ mệnh cao cả đó, nhất thiết Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn,
kiểm tra nghiêm ngặt công tác lãnh đạo và tiến hành kỷ luật những vi phạm
nghiêm trọng.
Kiểm tra là nhu cầu không thể thiếu đối với mỗi tổ chức đảng và đảng
viên. Trong công cuộc đổi mới sôi động hiện nay, Đảng ta đang đứng trớc
những thời cơ và thách thức mới; bốn nguy cơ đã và đang đe doạ tới sự tồn
vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Không có con đờng nào khác,
Đảng phải tự đổi mới, chỉnh đốn, vơn lên ngang tầm của một Đảng cầm
quyền, xây dựng đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đó,
công tác kiểm tra càng có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nói: công việc của Đảng và Nhà nớc ngày càng nhiều. Muốn hoàn
thành tốt mọi công việc, thì toàn thể Đảng viên và cán bộ phải chấp hành
nghiêm chỉnh đờng lối và chính sách của Đảng. Và muốn nh vậy, thì các cấp
uỷ Đảng phải tăng cờng công tác kiểm tra1
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội 1989, t 9, tr.763
điểm và tìm cách vợt qua mọi khó khăn. Nh vậy, Hồ Chí Minh chú trọng tới
tính kịp thời của công tác kiểm tra. Điều này là hoàn toàn cần thiết bởi vì sự
1
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội 1985, t 5, tr.156
Hồ Chí Minh: Về Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t2, tr.53
16
chậm chễ trong công tác kiểm tra sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho công việc,
dễ bỏ sót hoặc là kiểm tra thiếu công minh, thiếu khách quan. Chúng ta biết
rằng, mỗi một sự việc xảy ra đều có nguyên nhân, có hoàn cảnh và có mối
quan hệ của nhiều ngời, nhiều tổ chức, để lâu sẽ không có lợi và càng làm sự
việc hoặc con ngời kiểm tra bị rắc rối thêm, thậm chí sẽ làm nảy sinh rất nhiều
những vấn đề phức tạp khác.
Cũng trong công tác kiểm tra, Hồ Chí Minh chú trọng đến tính chính
xác, công minh, khách quan và sâu sát. Những nguồn căn cứ để kiểm tra, xác
minh có nhiều, ngời kiểm tra tuyệt đối không đợc mắc bệnh quan liêu, đại
khái. Ngời nghiêm khắc chỉ rõ: ai đi kiểm tra việc gì, nơi nào, nếu có sơ
suất thì ngời ấy phải chịu trách nhiệm1. Do đó, ngời nhắc nhở các cấp uỷ
Đảng phải tăng cờng công tác kiểm tra, nghiêm khắc phê bình một số cấp uỷ
Đảng coi nhẹ và và không chú ý lãnh đạo công tác kiểm tra. Ngời căn dặn các
uỷ ban và cán bộ kiểm tra phải học tập và thấm nhuần đờng lối, quan điểm
của Đảng, phải chú ý nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, trau dồi đạo đức cách
mạng. Đặc biệt là phải nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, thật thà tự phê bình để
làm gơng trong việc chấp hành kỷ luật Đảng. Hồ Chí Minh cho rằng, kiểm tra
không nên chỉ bằng việc căn cứ vào các bản báo cáo mà phải đi đến tận nơi. ở
đây, cần nêu cao trách nhiệm của những ngời cán bộ làm công tác kiểm tra,
hành vô cùng thuận lợi và khách quan. Kết quả của công tác kiểm tra là phải
làm cho mỗi cán bộ Đảng viên đợc kiểm tra xong càng tốt lên, tổ chức Đảng
nơi ấy trong sạch, vững mạnh thêm, nội bộ đoàn kết hơn, chứ không phải là
sau mỗi đợt kiểm tra thì nội bộ tổ chức Đảng càng lủng củng mất đoàn kết,
cán bộ thoái hoá, biến chất, phong trào cách mạng đi vào thoái trào.
*Về kỷ luật: Công tác kiểm tra phải gắn liền với kỷ luật Đảng, sức mạnh
của Đảng Cộng sản Việt Nam bắt nguồn từ nhiều yếu tố nhng trớc hết là ở cơng lĩnh, đờng lối chiến lợc và những chủ trơng đúng đắn mang đầy đủ tính
chất cách mạng và khoa học. Nhng chỉ có vậy thì cha đủ. Vấn đề sức mạnh
của Đảng còn là ở tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật tự giác. Vấn đề kỷ luật trong
Đảng trở thành một trong những nhân tố quyết định sức chiến đấu của Đảng
ta. Kỷ luật Đảng là khâu tiếp theo của công tác kiểm tra. Và nó nhất thiết phải
đợc thực thi một cách nghiêm túc để giữ gìn sự trong sạch của Đảng, cũng nh
đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội.
Hồ Chí Minh từng nói: muốn mọi chính sách của Đảng thực hiện đợc
thì phải có kỷ luật. Nh vậy, ngay từ đầu Ngời đã khẳng định tính chất kỷ luật
của Đảng ta là kỷ luật tự giác, nghiêm minh và nghiêm túc. Tự giác là thuộc
về mỗi cá nhân cán bộ, Đảng viên đối với Đảng, một tổ chức của những ngời
tự nguyện đứng trong một hàng ngũ để cùng chiến đấu cho độc lập dân tộc và
18
chủ nghĩa xã hội. Nếu việc vào Đảng không phải là việc ép buộc đối với bất cứ
Đảng viên nào, thì việc tuân thủ kỷ luật của Đảng cũng nh vậy. Yêu cầu cao
nhất của kỷ luật Đảng là chấp hành các chủ trơng, nghị quyết của Đảng và
tuân thủ các nguyên tắc tổ chức, lãnh đạo và sinh hoạt đảng, các nguyên tắc
xây dựng Đảng. Có nh vậy, Đảng mới là một khối thống nhất về t tởng và
hành động. Nếu không có kỷ luật sẽ không thể thống nhất về t tởng và hành
động đợc. Từ việc phải tuân thủ kỷ luật Đảng, mỗi Đảng viên dù ở cơng vị
nào, mỗi cấp uỷ dù ở cấp bộ nào cũng cần phải thật sự nghiêm túc chấp hành
kỷ luật của các đoàn thể và pháp luật của nhà nớc, tuyệt đối không đợc cho
kỷ luật kỷ luật của Đảng là tự nguyện, tự giác; đã tự nguyện tự giác là kỷ
luật sắt, rất nghiêm, tất cả Đảng viên già trẻ, trên dới đều phải tuân theo.
Nếu không giữ gìn nghiêm túc kỷ luật là giảm bớt lực lợng của Đảng, khó thực
hiện đợc nhiệm vụ. Đảng có tổ chức, có kỷ luật, dù Đảng giao việc gì khó mấy
cũng làm đợc1
Kỷ luật tự giác của ngời Đảng viên hoàn toàn xuất phát từ tính chất của
Đảng ta- Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng Mácxit- Lêninnít chân chính.
Bởi vì Đảng Cộng sản Việt Nam bao gồm những ngời hăng hái, trung thành, u
tú trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động tự nguyện tự giác đứng vào
hàng ngũ của Đảng, nguyện suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của
Đảng. Chính vì vậy mà Hồ Chí Minh khuyên mọi ngời rằng: nếu sợ không
phục vụ đợc nhân dân, phục vụ đợc cách mạng, sợ kỷ luật sắt của Đảng thì
đừng vào Đảng hoặc hãy khoan vào Đảng
Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định sức mạnh vô địch của Đảng là ở
tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm minh của cán bộ và Đảng
viên. Đảng viên phải tuyệt đối không đợc độc đoán cá nhân, tự đặt mình cao
hơn tổ chức, tự cho phép mình ngoài kỷ luật.
Kỷ luật của Đảng, trớc hết là buộc mọi cán bộ Đảng và tổ chức Đảng
phải trung thành với chủ nghĩa Mác- Lênin cũng nh thực hiện, chấp hành vô
điều kiện cơng lĩnh, chủ trơng, đờng lối của Đảng. Chính nh vậy, Hồ Chí
Minh đã xác định ngay từ đầu rằng, Đảng ta phải lấy chủ nghĩa Mác- Lênin
làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Nếu
không có sự thống nhất về t tởng, lý luận thì hành động của cán bộ Đảng viên
cũng sẽ không thống nhất, ý thức tổ chức kỷ luật lỏng lẻo. Một Đảng mà
không trung thành với lý luận Mác- Lênin thì không thể đợc coi là một Đảng
mạnh và kỷ luật chặt chẽ. T tởng và hành động phải luôn luôn đợc nhất trí, đó
là yêu cầu đầu tiên của vấn đề tăng cờng kỷ luật sắt, kỷ luật tự giác, nghiêm
minh của bất cứ một chính đảng nào.
1
tự nguyện, tự giác. Thực tế lịch sử phong trào cộng sản trên thế giới thời gian
qua cho chúng ta thấy rằng, xa dời những nguyên lý Mác- Lênin tất yếu sẽ
dẫn đến sự sai lầm về đờng lối của Đảng, làm mất niềm tin vào lý tởng, tất yếu
sẽ dẫn đến tình trạng vô tổ chức, vô kỷ luật trong Đảng. Kết qủa là xã hội bị
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, t7, tr.18-19
21
rối loạn, mất ổn định chính trị, kỷ cơng phép nớc bị coi thờng và điều đó tác
động trở lại vào Đảng làm cho Đảng bị suy yếu, nhân dân mất lòng tin vào sự
lãnh đạo của Đảng.
Sức mạnh kỷ luật tự giác của cán bộ Đảng viên là chấp hành vô điều
kiện nghị quyết, đờng lối, chủ trơng của Đảng. Nhng nh thế có nghĩa là đờng
lối, chủ trơng của Đảng phải đảm bảo đợc tính chất đúng đắn của nó. Khi đờng lối, chủ trơng của Đảng không sai lầm thì sự thống nhất, kỷ luật của toàn
Đảng càng đợc chặt chẽ và nâng cao hơn, nghị quyết của Đảng sẽ nhanh
chóng đi vào cuộc sống, đợc cán bộ, đảng viên biến thành hành động cách
mạng. Do vậy, kỷ luật trong Đảng, kỷ cơng phép nớc có đợc đảm bảo hay
không còn phụ thuộc vào sự đúng đắn ở đờng lối của Đảng, tránh những sai
lầm về chính trị. Để có đợc đờng lối đúng đắn, Đảng phải có lý luận, nắm
vững các quy luật khách quan; phải dựa vào đặc điểm và điều kiện thực tiễn,
phải phát huy đợc trí tuệ của mọi ngời trên cơ sở thực hiện dân chủ trong
Đảng và toàn xã hội
1.2.3. Đội ngũ tiến hành công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng:
Trong thời kỳ xây dựng chế độ mới ở nớc Nga, Lênin chỉ rõ: Trong
lịch sử, cha hề có một giai cấp nào giành đợc quyền thống trị, nếu nó không
đào tạo ra đợc trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại
biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào1. Theo Lênin,
cán bộ tốt sẽ góp phần hoạch định, cụ thể hoá và tổ chức thực hiện thắng lợi đờng lôí chính trị. Đồng thời, cán bộ luôn gắn với tổ chức, là lực lợng nòng cốt
của tổ chức. Có cán bộ tốt mới xây dựng đợc tổ chức trong sạch, vững mạnh.
Mặt khác, tổ chức trong sạch, vững mạnh, sẽ tạo điều kiện để cán bộ phát
triển. Tổ chức mạnh đảm bảo cho từng ngời mạnh, từng ngời mạnh sẽ góp
phần làm cho tổ chức ngày càng vững mạnh hơn.
Muốn có cán bộ tốt phải hết sức coi trọng và làm tốt công tác cán bộ.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chăm lo xây dựng đội ngũ
cán bộ ngày càng lớn mạnh. Nhờ đó, đội ngũ cán bộ đã góp phần cùng toàn
dân làm cuộc cách mạng tháng Tám thắng lợi, hoàn thành cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân, đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lợc, thống nhất đất nớc và hiện nay đang cùng toàn thể nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới, xây
dựng chế độ mới và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
1
2
3
Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến Bộ Matxcơva,1978, t.44, tr.473
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội 1984, t.4, tr.487
Nghị quyết hội nghị lần thứ 3, BCHTW Đảng (khoá VIII)
23
Trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc, thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh cần phải có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực xây dựng đờng
lối chính trị đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi đờng lối, đó là vấn đề cốt
tử của lãnh đạo, là sinh mệnh của Đảng cầm quyền1
Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra, kỷ luật có vai trò vô cùng quan
trọng. Cán bộ kiểm tra, kỷ luật Đảng là một bộ phận trong đội ngũ cán bộ của
đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ về số lợng, đảm bảo về chất lợng nhằm góp phần
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng.
Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra phải đặt trong tổng thể xây dựng đội
ngũ cán bộ của Đảng. Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ phơng hớng: xây dựng
đội ngũ cán bộ trớc hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp, vững vàng về
chính trị, gơng mẫu về đạo đức trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và
năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân, có cơ chế chính sách phát
hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dỡng cán bộ, trọng dụng ngời có đức, có tài1
.Tiếp theo Đại hội IX, Đại hội X lại khẳng định: xây dựng đội ngũ cán bộ
đồng bộ, có cơ cấu hợp lý, chất lợng tốt, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế
tiếp vững vàngCó cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi d ỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng ngời có đức, có tài, thay thế kịp thời
những ngời có năng lực, kém phẩm chất, có khuyết điểm nghiêm trọng2.
Đối với cán bộ kiểm tra, Đại hội VIII của Đảng chủ trơng: chú trọng
đào tạo, bồi dỡng đội ngũ cán bộ kiểm tra về đờng lối, quan điểm, pháp luật,
kinh tế, về nghiệp vụ và phong cách làm việc. Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm
tra có phẩm chất chính trị tốt, công tâm, trong sạch, đủ năng lực, kể cả năng
lực kiểm tra việc chấp hành đờng lối,chính sách của Đảng3.
Trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta cũng nh trong công
tác xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt tới vấn đề cán bộ. Ngời
đã giải quyết căn bản và toàn diện. Từ quan điểm về cán bộ đến phơng hớng
nội dung, phơng pháp, biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ. Ngời quan tâm xây
dựng dội ngũ cán bộ không những trớc mắt mà cả lâu dài, cả ở trung ơng và
địa phơng, cơ sở, tất cả các vấn đề đó đều đợc Ngời chỉ ra một cách cụ thể.
Hồ Chí Minh ví cán bộ nh cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây truyền
không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, toàn bộ bộ máy cũng bị tê liệt. Cán
Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
2001, tr.141
2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
2006, tr.136- 137