TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Thu hoạch tác phẩm
SỰ ĐỐI LẬP
GIỮA CHỦ NGHĨA DUY VẬT VỚI CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ
PHÁN VỀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC TRONG “CHỦ NGHĨA
DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN”
LỜI MỞ ĐẦU
V.I. Lênin, nhà lý luận, vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản Quốc tế,
tác giả của tác phẩm triết học chủ yếu “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh
nghiêm phê phán”. ý nghĩa lịch sử của tác phẩm này là đã phát triển triết học
Mác-Xít, giải đáp các vấn đề cơ bản của triết học lúc đó, đã khái quát trên
phương diện triết học những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên. Trong
tác phẩm này Lênin đã phê phán toàn diện triết học duy tâm tư sản phản động
và chủ nghĩa xét lại trong triết học. Đây là tác phẩm kiểu mẫu về tính Đảng
Bôn-Sê-Vích trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù, kết hợp một cách hữu cơ tinh
thần cách mạng nồng nhiệt và tính khoa học sâu sắc.
CẤU TRÚC NỘI DUNG
I. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
II. Nội dung của tác phẩm
1. Kết cấu tác phẩm
2. Một số nội dung chủ yếu của tác phẩm
III. Ý nghĩa của tác phẩm
I. Hoàn cảnh ra đời
Đây là tác phẩm Lênin viết từ tháng 02 đến tháng 9 năm 1908, được
Bac-Cơ-Ren đã tìm ra hiện tượng phóng xạ vào năm 1896, Tom-Son đã phát
hiện ra điện tử năm 1897 và đã chứng minh điện tử cấu thành nguyên tử,
Anhxtanh đã đưa ra thuyết tương đối. Các nhà triết học duy tâm rêu rao rằng
nguyên tử đã tiêu tan, vật chất không còn nữa, đây là giai đoạn chủ nghĩa duy
vật rơi vào khủng hoảng.
Vì vậy nhiệm vụ của các nhà triết học duy vật là đưa chủ nghĩa duy vật
và khoa học tự nhiên thoát khỏi cuộc khủng hoảng này đồng thời chống lại ảnh
hưởng của chủ nghĩa Ma-Khơ. Tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán” có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc vũ trang tư
tưởng cho đảng Bôn-Sê-Vích trong cuộc đấu tranh chống lại triết học phản
động, nhấn mạnh tính cân đối lôgíc triệt để của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
II. Nội dung của tác phẩm
I. Kết cấu tác phẩm
Tác phẩm được kết cấu với hai lời tựa (viết cho hai lần xuất bản) có
phần thay lời mở đầu, 6 chương và kết luận.
Lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất, Lênin đặt ra nhiệm vụ: Chỉ ra sự
sai lầm của những kẻ giả danh khoa học đã dùng chủ nghĩa Mác một cách lầm
đường lạc lôí ở chỗ nào.
Lời tựa cho lần xuất bản thứ hai: Lênin mong muốn tác phẩm này trở
thành sách giáo khoa của bộ môn triết học.
Phần thay lời mở đầu Lênin đã khẳng định những sai lầm của Ma-Khơ
và chỉ rõ triết học Ma-Khơ chỉ là sự lặp lại những luận cứ của Bec-cơ-li.
Chưong 1 chủ yếu trình bày mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học:
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
Chương 2 chủ yếu trình bày mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học:
Con người có thể nhận thức được thế giới không?
Chương 3 tập trung giải quyết một số phạm trù cơ bản của triết học:
Không gian, thời gian, vận động...
kết luận chủ nghĩa Ma-Khơ là chủ nghĩa duy tâm chủ quan “Là sự nhại lại lý
luận của Béc-cơ-li”. Vì Ăng-ghen kiên trì với đường lối thứ nhất tức là đường
lối duy vật còn Ma-Khơ thì kiên trì với đường lối thứ hai, tức là đường lối duy
tâm. “Không một lối nói quanh co nào, không một lời nguỵ biện nào (mà
chúng ta còn gặp nhan nhản) là sự che lấp rõ ràng không thể chối cãi được là:
Học thuyết của Ma-Khơ coi vật chất là những phức hợp cảm giác, là chủ nghiã
duy tâm chủ quan, là sự nhai lại lý luận của Béc-cơ-li”. (Tr 39).
Lênin đã phân tích rõ sự khác nhau giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
Ma-Khơ trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Ma-Khơ cho rằng: “Cảm
giác phát sinh một cách đột nhiên trong cái lâu đài do vật chất cấu thành, hay
là nó phải tồn tại trong chính ngay nền móng của lâu đài đó. Theo chúng tôi thì
vấn đề ấy là sai lầm cơ bản, đối với chúng tôi vật chất không phải là cái có
trước. Nói cho đúng ra, cái có trước ấy chính là những yếu tố (mà người ta
thường gọi là cảm giác theo ý nghiã xác định nào đó)...” Vậy là sự khác nhau
giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa Ma-Khơ trong vấn đề này chung quy là
như sau: “Chủ nghĩa duy vật, hoàn toàn nhất trí với khoa học tự nhiên, coi vật
chất là cái có trước, coi ý thức, tư duy, cảm giác là cái có sau, vì cảm giác
trong hình thái rõ rệt của nó chỉ gắn liền với những hình thái cao nhất của vật
chất (vật chất hữu cơ) và người ta có thể giả định là (Trên nền móng của bản
thân lâu đài vật chất, có sự tồn tại của một năng lực giống như cảm giác” (Tr
39). Từ những quan điểm, những vấn đề Ma-Khơ đưa ra chứng tỏ Ma-Khơ đã
đi lầm đường vì không hiểu hoặc không biết mối quan hệ giữa thuyết tương
đối và phép biện chứng.
Nhằm phê phán quan điểm của Ma-Khơ, Lênin nêu 2 vấn đề: Giới tự
nhiên có trước loài người không và con người có suy nghĩ bằng óc không?
“Như chúng ta đã thấy vấn đề này đặc biệt là hiểm hóc đối vối triết học của
Ma-Khơ và A-Vê-Na-Ri-út. Các khoa học tự nhiên khẳng định một cách tích
cực rằng trái đất đã từng tồn tại trong trạng thái chưa có và cũng không thể có
và vật tự nó. Chỉ có sự khác nhau giữa cái đã được nhận thức và cái chưa được
nhận thức... Trong lý luận nhận thức cũng như trong tất cả những lĩnh vực
khác của khoa học, cần suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định
nhận thức của chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn và phải phân tích xem sự
hiểu biết nảy sinh ra từ sự không hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy
đủ và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn thế nào”. (Tr
117)
Lênin đã chỉ ra trong lý luận về nhận thức: cần phải suy luận một cách
biện chứng, nhận thức là một quá trình biện chứng, qua đó khẳng định quan
điểm biện chứng về nhận thức, chống quan điểm siêu hình về nhận thức,
khẳng định nhận thức không phải là cái gì có sẵn bất di bất dịch, mà nó vận
động phát triển, đi từ không biết đến biết, từ biết chưa đầy đủ đến biết đầy đủ...
Lênin vạch ra bản chất của thuyết không thể biết, không thể vượt quá được
cảm giác, ông cho rằng học thuyết này muốn dung hoà giữa duy tâm với duy
vật. Những người theo Ma-Khơ có xu hướng quan điểm của thuyết không thể
biết.
Lý luận phản ánh
Lý luận phản ánh biện chứng duy vật thừa nhận sự vật tồn tại khách
quan ngoài ý thức con người. Theo Lênin đây là tiền đề để phân biệt giữa chủ
nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm. Lênin viết: “Như vậy ở đây lý luận duy
vật, lý luận cho rằng tư tưởng là phản ánh của đối tượng đã được trình bày hết
sức rõ ràng, sự tồn tại ở ngoài chúng ta. Tri giác và biểu tượng của chúng ta là
hình ảnh của các sự vật đó...” Lênin trình bày lý luận phản ánh với tư cách là
cơ sở của lý luận nhận thức. Nếu không hiểu được lý luận phản ánh thì không
hiểu được lý luận nhận thức. Lênin đưa ra hai khái niệm: cái được phản ánh và
cái phản ánh. Trong đó cái được phản ánh tồn tại độc lập với cái phản ánh.
“Đây là một điều hoàn toàn có thể thừa nhận được theo quan điểm của lý luận
duy vật về nhận thức, cái được phản ánh thì khác không phụ thuộc vào cái
người quy định mà do thực tại khách quan mà chân lý đó phản ánh quy định
nên nội dung của chân lý không phụ thuộc vào bất kỳ cái gì của con người, nó
chỉ phụ thuộc vào sự vật khách quan mà nó phản ánh (mặc dù chân lý nằm
trong nhận thức của con người).
- Quan hệ giữa chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối
Lênin thừa nhận chân tuyệt đối “Đã thừa nhận chân lý khách quan có
nghĩa là thừa nhận chân lý tuyệt đối” (Tr155). “Chân lý tuyệt đối được cấu
thành từ tổng số những chân lý tương đối đang phát trển, chân lý tương đối là
những phản ánh tương đối đúng của khách thể tồn tại độc lập đối với nhân
loại” (Tr 183). Theo Lênin, sự phân biệt chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối
là xác định (tức là đủ để phân biệt đâu là chân lý đâu là sai lầm giữa quan
điểm duy vật với quan điểm duy tâm và thuyết không thể biết).Theo Lênin,
nguyên nhân sinh ra chủ nghĩa tương đối do sự phát triển của khoa học làm đổ
vỡ quan điểm cũ, do không hiểu biết phép biện chứng duy vật mà rơi vào chủ
nghĩa tương đối. Chủ nghĩa tương đối không chỉ phủ nhận tri thức mà còn phủ
nhận tính khách quan của tri thức. Theo Lênin, phép biện chứng duy vật của
Mác-Ăngghen có bao hàm chủ nghĩa tương đối nhưng không quy về chủ nghĩa
tương đối. Phép biện chứng bao hàm chủ nghĩa tương đối, nó thừa nhận tính
tương đối của tri thức của chúng ta chứ không phải là phủ nhận chân lý khách
quan (nên không thể quy phép biện chứng duy vật thành chủ nghĩa tương đối
vì nó không phủ nhận chân lý khách quan). Đó là sự khác nhau giữa phép biện
chứng duy vật và chủ nghĩa tương đối (Mặc dù chủ nghĩa tương đối có tính
hợp lý ở chỗ thừa nhận tính tương đối của tri thức nhưng lại cường điệu tính
tương đối đó nên đi đến sai lầm).
+ Phải phê phán chủ nghĩa giáo điều tuyệt đối hoá chân lý tuyệt đối, biến nhận
thức của con người thành cái chết giáo điều.
Về phạm trù vật chất
Lênin đã đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về phạm trù vật chất “Vật chất là
học phát triển.
2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê
phán” giúp chúng ta nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác-Lênin
khẳng định giá trị và tính cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Lý luận nhận thức trong tác phẩm là vũ khí sắc bén phê phán chủ nghĩa
Ma-Khơ trong cuộc đấu tranh trên mặt trận lý luận giữa chủ nghĩa duy vật với
chủ nghĩa duy tâm. Lênin đã chứng minh một cách khoa học rằng vật chất có
trước, ý thức có sau... rằng con người có thể nhận thức được thế giới; và từ đó
vạch ra bản chất của thuyết không thể biết, không thể vượt qua được cảm giác
của Ma-Khơ. Lý luận nhận thức của Lênin hoàn toàn đúng đắn và khoa học,
gắn liền với khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Tức là từ vấn đề con người
nhận thức được thế giới đến cải tạo thế giới (Tự nhiên, xã hội, tư duy) để thúc
đẩy thế giới phát triển.
Tác phẩm đã khẳng định sự vật tồn tại khách quan ngoài ý thức
của con ngưòi vì vậy trong cuộc sống, công tác phải luôn luôn tôn trọng khách
quan, nắm vững và thực hiện đúng quy luật vận động phát triển của sự vật,
không nôn nóng đốt cháy giai đoạn, đồng thời phát huy tính năng động chủ
quan nhận thức đúng quy luật để phân biệt đúng sai, không chủ quan duy ý
chí.
Mặt khác chống giáo điều tuyệt đối hoá chân lý tuyệt đối, biến nhận
thức con người trở thành xơ cứng, giáo điều. Trong công cuộc đổi mới ngày
nay có hai khuynh hướng có thể dẫn đến sai lầm mà Đảng và Nhà nước ta phải
chống; đó là bảo thủ giáo điều, coi nhận thức cũ về chủ nghĩa xã hội là bất di
bất dịch; điều đó ngược với quy luật vận động và phát triển, Đảng ta đã xác
định phải kế thừa và phát triển đất nước đúng quy luật, nhờ vậy những năm
gần đây nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng. Khuynh hướng thứ
hai: Phủ nhận sạch trơn: Đây là khuynh hướng không có tính kế thừa, không