1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tại Việt Nam, theo Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, năm 2010,
diện tích cây ăn quả đã lên đến 380.000 ha, năng suất bình quân đạt 10 tấn/ha và
rau ăn quả có diện tích 50.270 ha, năng suất bình quân đạt 21 tấn/ha (Cục trồng
trọt, 2010). Nhìn chung, năng suất bình quân của các loại cây và rau ăn quả tại Việt
Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng còn rất thấp.
Cũng như nhiều nước trong khu vực, sản xuất cây và rau ăn quả tại Việt Nam
thường xuyên bị đe dọa bởi nhiều loài dịch hại, trong đó quan trọng nhất là nhóm
ruồi đục quả (Diptera: Tephritidae). Sự thất thu năng suất do ruồi đục quả (RĐQ)
gây ra ước tính biến động từ 30-100% (Dhillon và ctv., 2005). Khảo sát của Viện
Cây Ăn Quả miền Nam (2001) trên bốn loại quả xoài, ổi, mận và khổ qua tại vùng
ĐBSCL ghi nhận tỷ lệ quả bị thiệt hại do nhiễm RĐQ rất cao, với tỷ lệ nhiễm trên
xoài, ổi, mận và khổ qua lần lượt là 12%, 94%, 76,33% và 30%. Drew và ctv.,
(2001) đã phát hiện được 29 loài RĐQ tại Việt Nam, trong đó có 7 loài gây hại
quan trọng, bao gồm Bactrocera dorsalis, B.correcta, B.latifrons, B.pyrifoliae, B.
cucurbitae, B.tau và B.carambolae. Riêng hai loài B. latifrons, B. pyrifoliae không
hiện diện ở miền Nam. Mặc dù đã được ghi nhận hiện diện tại Việt Nam và cũng
được ghi nhận gây hại quan trọng trên nhiều loại cây và rau ăn quả trên thế giới
(Hasyim và ctv., 2008), nhưng tại Việt Nam, các nghiên cứu và khảo sát về 2 loài
B. carambolae và B. tau rất giới hạn, gần như không có. Hầu hết các công trình
nghiên cứu về RĐQ ở Việt Nam chỉ tập trung trên các loài như B. dorsalis, B.
cucurbitae và B. correcta, đặc biệt là trên B. dorsalis.Vì vậy, đề tài nghiên
cứu:‘‘Đặc điểm sinh học của hai loài ruồi đục quả Bactrocera carambolae Drew
& Hancock và Bactrocera tau Walker (Diptera: Tephritidae) vùng đồng bằng
sông Cửu Long và biện pháp phòng trừ ruồi đục quả trước và sau thu hoạch’’
đã được thực hiện.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu sự phân bố, gây hại của RĐQ (Diptera:Tephritidae), đặc điểm hình
thái, sinh học của B. carambolae và B. tau cũng như sự liên hệ di truyền của loài
Luận án gồm 185 trang, được chia thành 3 chương và 2 phần (Mở đầu và
kết luận - đề nghị) với 55 bảng, 44 hình, 42 phụ lục. Có 203 tài liệu tham khảo
được sử dụng.
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Ruồi đục quả (Diptera: Tephritidae) là nhóm đối tượng gây hại rất quan trọng
tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Có khoảng 70 loài ruồi đục quả
đã được ghi nhận là gây hại quan trọng trong nông nghiệp (White và Elson-Harris,
1992). Sự thất thu năng suất do RĐQ gây ra ước tính biến động từ 30-100%
(Dhillon và ctv., 2005). RĐQ không chỉ làm thất thu năng suất trên đồng ruộng, gia
tăng chi phí phòng trừ, mà còn làm gia tăng chi phí cho xuất khẩu do phải xử lý quả
sau khi thu hoạch. Các kết quả đánh giá của Viện Cây Ăn Quả miền Nam về thiệt
hại do ruồi đục quả gây ra cho 4 loại quả ở Tiền Giang năm 2001 ghi nhận tỷ lệ
nhiễm RĐQ trên xoài, ổi, mận và khổ qua lần lượt là 12%, 94%, 76,33% và 30%
(Huỳnh Trí Đức và ctv., 2001). Nghiên cứu của Drew và ctv. (2001) cho thấy có 29
loài thực vật ở miền Bắc và 26 loài ở miền Nam Việt Nam bị RĐQ gây hại. Theo
Nguyễn Hữu Đạt (2011), trái cây muốn xuất sang thị trường nhiều nước phải qua
các hệ thống xử lý như chiếu xạ, nhiệt lạnh, hoá chất và phải được kiểm tra chặt
chẽ bởi hệ thống kiểm dịch thực vật.
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1 Bactrocera carambolae và B.tau: B. tau được ghi nhận không những gây hại
trên các loại rau quả thuộc họ Cucurbitacae mà loài này còn gây hại trên một số
loại thực vật khác tại Đông Nam Châu Á (Allwood và ctv.,1999). Một số đặc điểm
hình thái, sinh học của B. carambola và B. tau đã được mô tả bởi Singh và ctv.
(2010) và CABI, 2011 và Singh và ctv. (2010).
1.2.2 Nghiên cứu về di truyền RĐQ (Diptera: Tephritidae): Một số nghiên cứu
về di truyền của RĐQ đã được khảo sát bởi Han và ctv. (2002); Muraji & Nakahara
quả. Theo thống kê của FAO (1986)[76], việc sử dụng các biện pháp hoá học để
phòng trừ ruồi hại quả là biện pháp khá phổ biến ở nhiều nước châu Á; e. Dẫn dụ
bằng các chất protein: Biện pháp dẫn dụ RĐQ bằng protein đã được nghiên cứu
bởi nhiều tác giả như Steiner (1952); Vickers (1996), Leweniquila và ctv. (1997) và
Allwood (1996).
1.2.5 Mô hình IPM quản lý RĐQ: Vargas và ctv.(2007) đã đưa ra chương trình
phòng trừ ruồi đục quả (C. capitata, B. dorsalis, B. cucurbitae và B. latifrons) trên
diện rộng ở Hawaii. Theo MacGregor (2005) mô hình IPM đã làm tăng thu nhập từ
rau quả lên 2,6 triệu USD và năm 2007 là 3,5 triệu USD tại Hawaii.
1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1 Sự phân bố, thành phần loài và sự gây hại của RĐQ: Đã được khảo sát
trong các năm 1967 - 1968 và 1977 - 1978 bởi Viện Bảo vệ thực vật và bởi dự án
FAO “Quản lý ruồi hại quả ở Việt Nam” TCP/VIE/8823 (A), dự án ACIAR “Quản
lý ruồi hại quả nhằm tăng cường sản xuất quả và rau ở Việt Nam” CS/1998/005 và
các nghiên cứu của Drew, Hà Minh Trung, Lê Đức Khánh và ctv. (2000), hầu hết
các kết quả nghiên cứu này được thực hiện tại miền Bắc.
5
1.3.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học: Một số đặc điểm sinh học của 3 loài
B.dorsalis B.cucurbitae và B. correcta đã được khảo sát bởi Nguyễn Hữu Đạt và
ctv. (2000 và 2004); Huỳnh Trí Đức và ctv. (2001) và Nguyễn Như Cường (2002).
1.3.3 Nghiên cứu về phòng trừ: Phòng trừ RĐQ tại miền Bắc bằng bả Protein đã
được thực hiện bởi Nguyễn Như Cường (2002) và Lê Đức Khánh và ctv. (2005).
1.3.4 Xử lý nhiệt RĐQ sau thu hoạch: Xử lý nhiệt để phòng trừ RĐQ sau thu
hoạch đã được khảo sát trên xoài bởi các tác giả như Sharp (1986); Sharp và ctv.
(1989); Martinez (990) và Spalding và ctv. (1988) trên các giống xoài như Tommy
Atkins, Keitt, Oro, Kentt, Francis, Haden, Ataulfo.
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
2.1 Nội dung nghiên cứu
thái: mô tả hình thái dưới kính lúp MBC1, độ phóng đại 7 x 8, kết hợp khoá phân
loài của Drew và Hancock (1994). (b) Sử dụng sinh học phân tử để phân tích trình
tự vùng gen cytochrome oxydase II (COII) của DNA ty thể (mitochondria DNA)
của RĐQ.
2.4.2 Sự phân bố, gây hại của B. carambolae và B. tau
2.4.2.1 Sự phân bố của Bactrocera carambolae và B. tau: Sử dụng chất dẫn dụ
methyl eugenol để khảo sát sự phân bố của B. carambolae và bẫy có chất dẫn dụ
cue-lure để khảo sát sự phân bố của B. tau. Đối với mỗi loài RĐQ khảo sát, bẫy
được đặt trên 8 điểm trồng cây ăn quả các loại thuộc 4 tỉnh và tp. với 10 bẫy/tỉnh.
Khảo sát từ 1/2008-12/2008. Ghi nhận số lượng loài RĐQ vào bẫy dẫn dụ.
2.4.2.2 Biến động mật số trong năm của B. carambolae và B. tau: Sử dụng các
chất dẫn dụ methyl eugenol và cue-lure để theo dõi về biến động số lượng RĐQ
trên các vườn xoài và khổ qua.
2.4.2.3 Ký chủ và mức độ gây hại của B. carambolae và B. tau: Khảo sát trên 21
loại cây và rau quả thuộc 4 tỉnh và tp như Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng
Tháp và tp. Cần Thơ (mục 2.2.2). Phân tích ngẫu nhiên 100 quả / loại cây / tỉnh để
đánh giá mức độ nhiễm ruồi, mùa vụ thu hoạch của hầu hết các loại cây ăn quả và
rau ăn quả ở ĐBSCL. Chỉ tiêu ghi nhận: Sự hiện diện B. carambolae và B. tau trên
quả; tỷ lệ quả nhiễm ruồi trên mỗi chủng loại cây ăn quả và rau ăn quả.
2.4.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của B. carambolae và B. tau: Nuôi trong
điều kiện tự động (T0C= 26± 1; H%=70± 10) trên thức ăn nhân tạo (phương pháp
7
của Waddell, 2005). Qua nuôi ruồi, khảo sát các đặc điểm hình thái và sinh học có
liên quan đến vòng đời, sự sinh sản và đẻ trứng.
2.4.4 Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng trừ RĐQ trước
thu hoạch
* Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp phòng trừ RĐQ theo nông dân và bố trí
thí nghiệm ngoài đồng. Các kiểu bố trí, số nghiệm thức và số lần lặp lại được lựa
xoài: Ở cả bốn thời điểm thu hoạch (tháng 1,3, 6 và 11 dl), xoài đều bị nhiễm RĐQ
với tỷ lệ nhiễm biến động từ 1,5% đến 25,8%. Thời điểm thu hoạch tháng 6 dl có tỷ
lệ quả nhiễm ruồi cao nhất (25,8%); Tỷ lệ nhiễm ruồi trên Thanh Long: Kết quả
cho thấy ở các thời điểm thu hoạch, thanh long đều bị nhiễm ruồi, tỷ lệ nhiễm trung
bình biến động từ 2% đến 23,5%. Thu hoạch vào tháng 6 dl có tỷ lệ quả nhiễm ruồi
cao nhất, đạt 21,60 % (năm 2005); Tỷ lệ nhiễm ruồi trên khổ qua: Ở cả 3 thời điểm
thu hoạch (tháng 1 dl, 3 dl và tháng 10 dl), khổ qua đều bị nhiễm ruồi nhiễm đục
quả. Thu hoạch ở tháng 10 dl có tỷ lệ quả nhiễm ruồi cao nhất (13,80 %)(năm
2005).
3.1.2 Thành phần ruồi đục quả và sự khác biệt về hình thái
3.1.2.1 Thành phần loài RĐQ và ký chủ: Kết quả khảo sát trên 9000 mẫu quả ghi
nhận có 5 loài ruồi đục quả hiện diện, bao gồm: B.dorsalis, B.correcta, B.
carambolae, B. cucurbitae và B. tau. B. dorsalis là loài có phổ ký chủ rộng, với 17
loại quả, B. correcta gây hại trên 12 loại quả, B. cucucurbitae gây hại trên 8 loại
quả, B. carambolae gây hại trên 6 loại quả và B. tau gây hại trên 5 loại quả.
3.1.2.2 Sự khác biệt về hình thái giữa các loài RĐQ: Kết quả khảo sát về hình
thái của 5 loài RĐQ ghi nhận các loài này có hình thái khá giống nhau nhưng giữa
các loài cũng có một số khác biệt về kích thước cơ thể và cấu trúc gân cánh. Loài
có kích thước nhỏ nhất là loài B. correcta (6,27±0,15mm) và loài có kích thước lớn
nhất là B. cucurbitae (9,62 ± 0,22mm). Ngoài kích thước và sự khác biệt về cấu tạo
cánh thì một số đặc điểm hình thái khác cũng được sử dụng bổ sung để phân biệt 5
loài RĐQ như màu sắc cơ thể, sự hiện diện của đốm đen ở chân râu và sự hiện diện
của đốm màu nâu đen đậm, đốt ở đốt chày chân giữa của con cái và màu sắc của cơ
thể.
1mm
9
Bảng 3.1. Một số đặc điểm về hình thái của RĐQ ở ĐBSCL
7,56 ±0,14
(7,0-8,30)
6,14 ±0,05
(6,0-6,20)
6,27 ±0,15
5,12 ±0,03
(6,20-6,80)
(5,0-5,20)
9,62 ±0,22
(8,40-10,0)
Cấu tạo cánh
Dọc mạch gân phụ mép
trước có vệt mờ kéo dài
đến mạch R2+3 và lan
rộng qua đỉnh mạch
R4+5.
Dọc mép trước mạch
gân phụ có vệt vàng
ngang qua đỉnh R2+3 lan
rộng và tạo đốm lớn qua
trong phản ứng PCR với hai cặp mồi mtD13 và mtD20.
* Phân tích khác biệt trình tự DNA trên gien đích COII giữa các giống và loài:
Trong 15 mẫu phân tích, có tới 12 mẫu thu trên ký chủ ổi thuộc giống Bactrocera
hoặc phức hợp B. dorsalis; trong khi chỉ có 3 mẫu thuộc giống Dacus nhiễm trên
khổ qua.
Hình 3.1. Cây chủng loại của 15 mẫu ruồi và 6 trình tự đã được công bố, số
trên các nhánh cây là giá trị Bootstrap được phân tích với 1000 lần nhắc lại.
(Ghi chú: Thứ tự 22, 24, 27, 29, 30, 31, 33, 35, 36, 37, 38, 39 các mẫu RĐQ thu trên trái ổi;
thứ tự 3,7,8 các mẫu thu trên trái khổ qua); Tên các loài RĐQ hiện diện hình trên ngân
hàng gien)
Các mẫu 3, 7, 8 thuộc giống Dacus, trong đó mẫu 8 gần với loài B. tau; hai
mẫu 3 và 7 cùng nhánh với loài B.cucubitae. Hai loài B.tau và B.cucurbitae có
11
khoảng cách di truyền tin cậy (99-100%). 12 mẫu trong nghiên cứu này với 3 mẫu
đã được công bố công bố B.dorsalis, B.carambolae và B.correcta thuộc giống
Bactrocera với haplotype có các nucleotit đặc trưng ATCTCATTACT tại 11 điểm
đột biến trên gien đích.
A
B
Hình 3.2. (A): Mười một điểm đột biến đặc trưng dọc trình tự đoạn ADN 488bp trên gien
COII để phân biệt 2 giống ruồi đục quả Bactrocera và Dacus. Các dấu (.): là các nucleotit
giống với các đột biến điểm của B. dorsalis. Các số 128-396 là vị trí các đột biến điểm.(B):
Điểm đột biến đặc trưng dọc trình tự đoạn ADN 488bp trên gien COII để phân biệt 2 loài
Kết quả ghi nhận sự hiện diện của 3 loài RĐQ trên bẫy methyl eugenol, bao gồm
B. dorsalis, B.correcta và B. carambolae. Trong đó B. dorsalis chiếm tỷ lệ hiện
diện cao nhất (78,09%), kế đến B.correcta (18,44%)và thấp nhất B.carambolae
(3,45%). Kết quả khảo sát cũng cho thấy mặc dù mật số hiện diện khá thấp so với
B. dorsalis và B. correcta, nhưng loài B. carambola cũng được ghi nhận hiện diện
trên khắp các địa bàn khảo sát tương tự như B. dorsalis và B. correcta. Kết quả
khảo sát cho thấy B. carambolae hiện diện khắp địa bàn khảo sát từ tỉnh Tiền
Giang, Bền Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp đến tp. Cần Thơ. Mật số ruồi vào bẫy rất
cao ở Bến Tre, Tiền Giang, Đồng Tháp trong khi Vĩnh Long mật số ruồi vào bẫy
thấp có thể do vùng này chủ yếu trồng độc canh các loại cây ăn quả như xoài, bưởi,
cam sành, nhãn... .Trong khi đó thì 3 địa bàn khảo sát Tiền Giang, Bền Tre, Đồng
Tháp và tp. Cần Thơ, hầu hết các vườn khảo sát có trồng xen nhiều loại cây ăn quả
khác nhau đặc biệt xen khế, ổi, mận.
3.2.1.2 Ruồi B. tau: Để khảo sát về sự phân bố của B. tau, luận án sử dụng bẫy có
parapheromon cue-lure. Bẫy được đặt trên 10 điểm trồng rau ăn quả chuyên canh
thuộc Tiền Giang và tp. Cần Thơ với 10 bẫy/tỉnh. Kết quả ghi nhận trên vùng trồng
rau ăn quả có 2 loài ruồi hiện diện, B. cucurbitae hiện diện với tỷ lệ rất cao
(97,97%), loài B. tau chỉ chiếm tỷ lệ hiện diện 2,03%. Kết quả khảo sát cũng cho
thấy B.tau mật số vào bẫy thấp so với B. cucurbitae, nhưng loài B. tau cũng đã
được ghi nhận thường xuyên hiện diện trên các địa bàn trồng khổ qua khảo sát tại
Tiền Giang và tp. Cần Thơ.
3.2.2 Biến động mật số trong năm của B. carambolae và B. tau
3.2.2.1 Ruồi B. carambolae : Khảo sát được thực hiện tại 2 địa bàn: một địa bàn
trồng xoài thuộc xã Hòa Hưng - huyện Cái Bè và một địa bàn trồng thanh long
13
thuộc xã Long Bình Điền - huyện Chợ Gạo. Vườn xoài được trồng độc canh xoài
trong khi đó vườn thanh long được trồng xen mận và ổi. Bẫy được đặt từ tháng
7/2008 đến tháng 7/2009. Kết quả khảo sát ghi nhận ở cùng một thời điểm khảo sát,
Trứng
Vòng đời
Biến động
( ngày )
1-3
Thời gian
(ngày)
2,0 ± 1,00
Số cá thể
quan sát
Tỷ lệ
chết
(%)
100
18,00
Ấu trùng tuổi 1
Ấu trùng tuổi 2
2-5
2-5
3,5 ± 1,29
4,0 ± 1,00
Trưởng thành – trứng
Vòng đời
Thành trùng
Tuổi thọ thành trùng cái
Tuổi thọ thành trùng đực
7-11
12-21
45-136
56-128
9,0 ± 1,58
16,50 ± 3,03
36,70 ± 4,59
93,33 ± 20,85
99,208 ± 20,29
*Ấu trùng: Ấu trùng có màu trắng hay trắng sữa, sống bên trong quả. Ấu trùng
tuổi 1 có miệng gồm 3 móc có kích thước bằng nhau, trên cơ thể đã có sự hiện
diện của 2 lỗ thở, chiều dài cơ thể trung bình là 1,50 mm. Thời gian trung bình của
tuổi 1 là 3,5 ± 1,29 ngày. Ấu trùng tuổi 2 có miệng gồm có 3 móc, 2 móc bên rộng,
móc ở giữa hẹp. Trên cơ thể của ấu trùng, lỗ khí trước đã xuất hiện (nhưng còn
hẹp), lỗ khí thở sau có 3 cái mở tròn. Ấu trùng tuổi 2 có chiều dài trung bình là
7,92 mm. Thời gian trung bình của tuổi 2 là 4 ± 0,71 ngày. Ấu trùng tuổi 3: Miệng
chỉ còn có 2 móc ở hai bên, móc giữa đã thoái hoá. Trên cơ thể của ấu trùng, lỗ khí
trước đã hiện diện rõ hơn, lỗ khí thở sau có 3 cái móc dài. Ấu trùng tuổi 3 của loài
B. carambolae có chiều dài trung bình là 5,56 mm. Thời gian tuổi 3 trung bình
khoảng 6,0 ± 1,58 ngày. *Nhộng: Màu vàng sáng, dài trung bình là 5,63 mm.Thời
gian nhộng trung bình khoảng 9,0 ± 1,58 ngày.
b.Thời gian tiền đẻ trứng và số lượng trứng đẻ: Thời gian tiền đẻ trứng biến
trước rộng, lỗ khí thở sau có 3 cái mở dài, mốc miệng chỉ còn 2 cái rộng hai bên và
cái ở giữa đã thoái hoá, ấu trùng tuổi 3 có chiều dài trung bình là 5,79mm.Thời
gian tuổi 3 trung bình khoảng 3,0 ± 1,00 ngày..*Nhộng: Có chiều dài trung bình là
5,69 mm.Thời gian hóa nhộng trung bình khoảng 7,5 ± 1,29 ngày ; b. Thời gian
tiền đẻ trứng: Thời gian tiền đẻ trứng trung bình khoảng 14,0 ± 2,73 ngày. Số
lượng thành trùng đẻ trứng đầu tiên sau khi vũ hóa 14 ngày có tỷ lệ cao nhất (30,0
%); 16 ngày chiếm tỷ lệ 15,0 %; 12, 13, 17 ngày và ngày 18 có tỷ lệ là 10,0%, các
thời gian còn lại chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 5,0%. c. Vòng đời: Trong điều kiện
phòng thí nghiệm (T0C= 26±1; H%=70± 10), vòng đời trung bình của B. tau là
28,45 ± 3,61 ngày, với thời gian trứng là 1,5 ± 0,70 ngày, thời gian phát triển của
ấu trùng tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 lần lượt là 1,5 ± 0,70 ngày ; 2,5 ± 0,71 ngày ; 2,5 ±
16
0,71 ngày, thời gian nhộng là 7,5 ± 1,29 ngày. d. Tỷ lệ sống sót: Trong điều kiện
phòng thí nghiệm, nuôi trên thức ăn nhân tạo (khổ qua tươi 947g + 50,5g Torula +
2,5g Nipagin), tỷ lệ trứng nở đạt đến 76,0%; tỷ lệ sống sót của ấu trùng tuổi 1, tuổi
2, tuổi 3 và nhộng lần lượt là 85,53; 92,31; 93,33 và 80,36%.
Hình 3.3 Vòng đời của ruồi B.carambolae
Hình 3.4 Vòng đời của ruồi B.tau
17
Bảng 3.3 Vòng đời và tỷ lệ chết của loài B. tau (T0C= 26± 1; H%=70± 10)
Giai đoạn
Trứng
Ấu trùng tuổi 1
74,61 ± 25,93
75,12 ± 22,54
Số cá
thể
quan sát
Tỷ lệ
chết
(%)
100
76
65
60
56
45
-
24,0
14,47
7,69
6,67
19,64
8,89
-
e. Sự sinh sản: * Số trứng đẻ: Trong điều kiện nuôi trên thức ăn nhân tạo (khổ qua
tươi 947g + 50,5g Torula + 2,5g Nipagin) trung bình 1 trưởng thành ruồi cái đẻ
khoảng 87± 2,33 trứng. * Nhịp điệu đẻ trứng: Kết quả khảo sát ghi nhận ở 10 ngày
Alpha 10 SC) và dầu khoáng SK99 đều có tỷ lệ quả nhiễm RĐQ thấp so với đối
chứng. Nghiệm thức sử dụng thuốc Alpha 10 SC và dầu khoáng SK99 có tỷ lệ quả
nhiễm lần lượt 3,32%, 4,50%, khác biệt rất có ý nghĩa so với nghiệm thức nông dân
và đối chứng .
3.4.2 Kỹ thuật canh tác:
a. Giống và tỷ lệ nhiễm RĐQ: * Xoài: Xoài Cát có tỷ lệ quả nhiễm chiếm cao
nhất (11,20 %), kế đến giống xoài Bưởi (7,40 %), xoài cát Chu (6,170 %), thấp
nhất xoài cát Hòa Lộc (5,00 %).*Khổ qua: Cả hai giống khổ qua khảo sát bị nhiễm
RĐQ, giống khổ qua địa phương nhiễm nặng hơn giống khổ qua xanh F1.
b. Kỹ thuật xen canh và mức độ nhiễm RĐQ: (+) Trên cây xoài: Các vườn xoài
trồng xen với 2 loại cây ký chủ chính của RĐQ như mận, ổi, quả xoài bị nhiễm ruồi
cao nhất (12,05%) và vườn xoài xen với bưởi có tỷ lệ nhiễm ruồi thấp nhất chỉ đạt
8,10%. (+) Trên thanh long: Vườn trồng chuyên canh cây thanh long có tỷ lệ nhiễm
ruồi tương đối thấp hơn vườn xen canh. Các cây trồng xen trong vườn thanh long
có tỷ lệ quả nhiễm RĐQ rất cao như mận (100 %), mận (99,60%).
c. Hiệu quả của biện pháp vệ sinh vườn đối với sự gây hại của RĐQ: + Vườn
xoài: Vào năm 2008, tỷ lệ nhiễm ruồi đục quả chỉ đạt 5,5% trên vườn có vệ sinh,
trong khi vườn không vệ sinh, tỷ lệ nhiễm ruồi lên đến 16,70%, gấp 3 lần vườn có
vệ sinh.
19
+ Vườn thanh long: Trên các vườn có áp dụng các biện pháp vệ sinh đồng ruộng,
tỷ lệ nhiễm ruồi rất thấp so với vườn không vệ sinh vườn.
d. Hiệu quả của màng phủ nông nghiệp trong quản lý RĐQ: Tỷ lệ quả nhiễm
trên vườn có màng phủ là 3,7 % (năm 2005) và 4,20 % (năm 2008), còn ở vườn
không sử dụng màng phủ có tỷ lệ quả nhiễm là 14,00 % (năm 2005) và 13,50 %
(năm 2008).
e. Biện pháp bao quả: Trong 4 loại bao khảo sát (bao giấy dầu, bao keo áo, bao
Đài Loan và bao keo vải), quả sử dụng bao Đoài Loan có chỉ số a (biểu thị cho màu
hiệu quả cao nhất, khác biệt rõ nét với các nghiệm thức còn lại và sử dụng protein
thủy phân ở liều lượng 20 ml (dung dịch protein pha / cây) có hiệu quả diệt ruồi
cao và kinh tế nhất.
* Nghiên cứu xây dựng mô hình IPM để quản lý RĐQ
- Hiệu quả mô hình IPM trên xoài, thanh long, khổ qua: Khảo sát liện tục trong 2
năm 2008-2009, ghi nhận tỷ lệ quả nhiễm ruồi trên các lô IPM đều rất thấp so với
đối chứng trên cả 3 nhóm vườn khảo sát. Trên xoài, sản lượng thu hoạch trung bình
trên vườn có áp dụng IPM là 16.609,00kg/ha, các vườn đối chứng của nông dân
chỉ đạt 13.685 kg/ha. Trên cây thanh long, sản lượng thu hoạch trung bình trên
vườn có áp dụng IPM là 25.740,0 kg/ha trong khi năng sất trung bình trên các vườn
của nông dân chỉ đạt 19.708,7 kg/ha. Và tương tự trên cây khổ qua, sản lượng thu
hoạch trung bình trên vườn có áp dụng IPM là 8248,4 kg/ha, các vườn đối chứng
của nông dân chỉ đạt 6059,0 kg/ha.
- Hiệu quả của mô hình IPM khi áp dụng trên diện rộng
Mô hình IPM trên diện rộng được thực hiện trên các vườn cây sơ ri tại Gò
Công - Tiền Giang. Kết quả khảo sát ghi nhận vào thời điểm áp lực của Bactrocera
ngoài đồng thấp do đã kết hợp phun Sofri protein với biện pháp vệ sinh, hiệu quả
của mô hình IPM rất cao, trên các mô hình IPM tỷ lệ quả nhiễm ruồi rất thấp, chỉ
chiếm 5%, trong khi đó trên lô đối chứng có tỷ lệ quả nhiễm ruồi rất cao (53%).
21
- Đề xuất mô hình IPM với chế phẩm Sofri protein là biện pháp chủ đạo để quản lý
RĐQ: Mô hình IPM cần được áp dụng trên một diện tích từ 20 ha đến 300 ha, với
các biện pháp như: * Biện pháp canh tác: Xử lý ra hoa đồng loạt xoài và thanh
long và gieo sạ đồng loạt (khổ qua) để có thể thu hoạch cùng thời điểm; * Vệ sinh
vườn: Vệ sinh vườn cần được thực hiện trước và sau thu hoạch; * Trồng xen:
không nên trồng xen mận, ổi, khế trong các vườn xoài và thanh long; * Bẫy methyl
eugenol hoặc cue-lure: Khi mật số ruồi quá cao, có thể sử dụng các loại bẫy
methyl eugenol (xoài, thanh long) hoặc cue-lure (khổ qua) để hạ mật số ruồi, trước
với đối chứng (- 15,58) sau 3 ngày bảo quản. Sự khác biệt này càng được thể hiện
rõ sau 6 ngày bảo ở nhiệt độ xử lý 48,50C và 50,50C (- 8,37 và - 5,56) so với mẫu
đối chứng (- 10,48). Giá trị b cũng biến đổi tương tự như giá trị a trong quá trình
bảo quản. Kết quả cho thấy xử lý quả ở nhiệt độ càng cao càng làm tăng nhanh sự
biến đổi màu của vỏ khi bảo quản.
b. Màu sắc thịt quả: Sau 3 ngày bảo quản ở nhiệt độ 250C, giá trị L của xoài cát
Hòa Lộc xử lý bằng phương pháp hơi nước nóng ở các chế độ nhiệt không khác biệt
so với đối chứng không xử lý. Nhưng sau 6 ngày bảo quản, thì sự khác biệt thể hiện
rõ giữa đối chứng với quả xử lý ở nhiệt độ 48,50C và 50,50C. Sau 9 ngày bảo quản,
giá trị L của mẫu quả xử lý ở nhiệt độ 48,50C và 50,50C (69,15 và 64,32) đều giảm
nhanh so với mẫu đối chứng (70,05). Lúc này màu của thịt quả đã chuyển dần sang
màu tối. Tương tự, xử lý ở nhiệt độ càng cao và thời gian bảo quản càng dài thì giá
trị a, b của quả càng tăng. Tuy nhiên, đến ngày thứ 9 do quả xử lý ở nhiệt độ cao
(48,50C và 50,50C) nên trong quá trình bảo quản quả, thịt của quả đã chuyển dần từ
vàng tươi sang vàng sẫm, vì vậy giá trị b và a của các mẫu này giảm đột ngột so với
mẫu đối chứng. Đồng thời một số quả xử lý ở 2 nhiệt độ này bị hư.
c. Sự hao hụt trọng lượng quả: Đối với xoài cát Hòa Lộc, việc xử lý hơi nóng ở
các chế độ nhiệt làm tăng sự hao hụt trọng lượng quả trong quá trình bảo quản.
Nhiệt độ xử lý càng cao thì phần trăm hao hụt xảy ra càng nhiều. d. Độ chắc của
thịt quả: Nghiệm thức đối chứng có chỉ số độ chắc cao nhất, mặc dù không khác biệt
có ý nghĩa về mặt thống kê ở các thời điểm bảo quản 3 và 6 ngày, nhưng có khác
biệt rõ nét với nghiệm thức bảo quản 9 ngày.
e. Chỉ tiêu sinh hóa: Sau khi xử lý hơi nóng, độ brix của quả xoài cát Hòa Lộc ở
tất cả các nghiệm thức xử lý nhiệt đều cao (20,10 – 21,75%) so với mẫu đối chứng
không xử lý (21,02%) sau 6 ngày tồn trữ ở nhiệt độ 250C. Hàm lượng axit giảm ở
các nghiệm thức xử lý ở nhiệt độ cao. Nhiệt độ cao cũng làm giảm hàm lượng vitamin
23
C. f. Tỷ lệ quả hư : Sau 9 ngày bảo quản, nghiệm thức 46,50C trong 20 phút cho tỷ
24
b. Sự hao hụt trọng lượng quả: Phương pháp xử lý bằng ngâm quả trực tiếp vào
nước nóng có tỷ lệ trọng lượng hao hụt tăng cao so với mẫu đối chứng và xử lý
bằng hơi nóng.
c. Chỉ tiêu sinh hóa: Độ brix của quả xử lý bằng phương pháp ngâm nước nóng
tăng cao hơn so với phương pháp xử lý bằng hơi nóng, nhưng khác biệt không có ý
nghĩa thống kê. Hàm lượng vitamin C của phương pháp xử lý bằng cách ngâm trực
tiếp trong nước nóng giảm nhiều hơn so với phương pháp xử lý bằng hơi nóng và đối
chứng, Đường tổng số của quả có xử lý nhiệt tăng so với đối chứng không xử lý,
điều này cho thấy nhiệt đã thúc đẩy quá trình chuyển hoá các chất bên trong tế bào
làm quả mau chín. Đối với phương pháp xử lý bằng cách ngâm trực tiếp nước nóng
thì đường tổng số tăng nhanh hơn so với phương pháp xử lý hơi nóng ở thời điểm 3
và 6 ngày sau bảo quả.
d. Độ chắc của thịt quả: Độ chắc thịt quả của hai phương pháp xử lý không có sự
khác biệt ý nghĩa so với mẫu đối chứng.
e. Tỷ lệ quả bị hư và dánh giá cảm quan về mùi vị quả: Ở cả hai biện pháp xử
lý, tỷ lệ % quả bị hư đều giảm so với đối chứng. Đánh giá cảm quan về mùi vị của
các quả xoài đã xử lý bằng biện pháp ngâm nước nóng ghi nhận giữa nghiệm thức
có xử lý và đối chứng không xử lý có sự khác biệt rõ nét về mùi vị. Mùi vị của các
quả xoài đã qua xử lý bằng biện pháp ngâm nước nóng ít thơm hơn so với quả
không xử lý để chín tự nhiên. Tuy nhiên mùi vị của quả được xử lý hơi nóng ở
nhiệt độ 46,50C trong thời gian 20 phút không khác biệt so với đối chứng.
KẾT LUẬN
1. Kết quả điều tra trên 21 loại quả được trồng phổ biến của vùng ĐBSCL ghi nhận
tất cả các loại cây khảo sát (chuối, cam, bưởi, đu đủ, khế, mận, ổi, nhãn, sa pô, sơ
ri, xoài, táo, thanh long, bí đao, bầu, mướp, khổ qua, dưa gang, bí đỏ, đậu đũa và cà
chua) đều bị nhiễm RĐQ. Quả nhiễm RĐQ nặng nhất là mận, ổi, táo, bầu, khế,
mướp với tỷ lệ nhiễm ruồi trung bình là 94,0; 92,0; 77,4; 70,0; 63,6 và 60,2%. Quả
nhiễm ruồi thấp nhất là cam, đu đủ, nhãn, đậu đũa, cà chua và bí đỏ.
2. Bằng phương pháp sử dụng bẫy hấp dẫn và phân tích trực tiếp trên quả bị hại, 5
carambolae và B. tau cao nhất. Protein thủy phân từ bả hèm bia khi phối trộn với
fipronil (3ml) cho hiệu quả diệt ruồi cao và kinh tế. Ngoài đồng, sử dụng Sofri
protein (protein thủy phân từ bả hèm bia phối trộn với 3m fipronil(5%) đạt hiệu quả
rất cao khi phun ở vị trí 3/4 chiều cao của tán lá (từ đỉnh ngọn trở xuống).