ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN DUY PHƯƠNG
TRUYỀN THUYẾT VŨ THÀNH VÀ LỄ HỘI
ĐỀN HẢ LỤC NGẠN - BẮC GIANG
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN DUY PHƯƠNG
TRUYỀN THUYẾT VŨ THÀNH VÀ LỄ HỘI
ĐỀN HẢ LỤC NGẠN - BẮC GIANG
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ ANH TUẤN
THÁI NGUYÊN - 2008
THÁI NGUYÊN - 2008
DANH MỤC CÁC ẢNH
Ảnh 9. GS. Phan Huy Lê và Đảng uỷ, UBND xã Hồng Giang, đại biểu hội
đồng thân tộc Việt Nam tại Đền Hả.................................................. 115
Trần Duy Phương
Ảnh 10. Nhân dân đến với lễ hội Đền Hả ..................................................... 115
Ảnh 11,12,13,14. Công tác chuẩn bị cho đoàn rước ............................ 116 - 117
Ảnh 15,16,17. Trên đường rước ra bãi Dược....................................... 118 - 119
Ảnh 18. Tế lễ tại bãi Dược ............................................................................ 119
Ảnh 19. Trò chơi dân gian ............................................................................ 120
Ảnh 20. Cây đa quán Hả ............................................................................... 120
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
LỜI CẢM ƠN
PHẦN MỞ ĐẦU
Để thực hiện luận văn, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi luôn
nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Vũ
Anh Tuấn.
này làm cho hình ảnh những anh hùng luôn toả sáng và sống mãi trong lòng
và các bạn đồng nghiệp, người thân đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành
nhân dân qua bao thế hệ.
luận văn này.
Do vậy, nghiên cứu truyền thuyết về ngƣời anh hùng chống giặc ngoại
xâm kết hợp với việc tìm hiểu lễ hội để tƣởng niệm họ là công việc vừa có ý
Tác giả luận văn
nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong việc làm sáng tỏ hơn bản chất
của thể loại truyền thuyết trong văn học dân gian Việt Nam.
Trần Duy Phương
1.2. Vũ Thành - sinh ra và lớn lên trên quê hƣơng Lục Ngạn- Bắc
Giang. Giặc phƣơng Bắc xâm lƣợc, vốn có lòng yêu nƣớc, căm thù giặc sâu
sắc, Vũ Thành đã góp sức mình cùng dân tộc đánh giặc, lập lên những chiến
công vang dậy. Công lao và đức độ của ông đƣợc nhân dân ghi nhớ, truyền
tụng thể hiện qua việc lập ngôi đền với tên gọi là đền Hả ở xã Hồng Gianghuyện Lục Ngạn- tỉnh Bắc Giang. Hàng năm, nhân dân tổ chức lễ hội để ghi
nhớ những chiến công cùng đức độ của ông, nhắc nhở các thế hệ con cháu
lòng biết ơn, tiếp nối truyền thống của cha ông. Câu chuyện về con ngƣời này
trong tiềm thức của nhân dân trở thành ngƣời anh hùng có công trong việc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
văn học dân gian dân tộc, một nền văn học mà truyền thuyết là thể loại đặc
giúp ta thấy đƣợc ảnh hƣởng của con ngƣời này trong tiềm thức dân gian,
biệt phong phú nhƣng còn ít đƣợc nghiên cứu.
lòng ngƣỡng mộ của nhân dân với anh hùng dân tộc. Qua đó, góp thêm những
Vì những điều trên, ngƣời viết với đề tài về truyền thuyết Vũ Thành và
lý giải về nguồn cội của các yếu tố tạo nên cốt cách ngƣời anh hùng lịch sử
lễ hội đền Hả mong muốn đƣợc góp sức mình vào việc bảo tồn và lƣu giữ bản
trong quan niệm theo kiểu tƣ duy dân gian.
sắc dân tộc. Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay khi lễ hội cổ truyền Việt Nam
1.3. Cơ cấu của xã hội Việt Nam cổ truyền là: Nhà - Làng - Nƣớc đã
đang ngày càng lôi cuốn nhiều tầng lớp nhân dân tham gia thì một vấn đề đặt
kéo theo vai trò của địa phƣơng, dòng họ trong chiến tranh giữ nƣớc. Do vậy,
ra là: Cần tổ chức và tham gia lễ hội nhƣ thế nào cho đúng với ý nghĩa của
tầm quan trọng của truyền thuyết địa phƣơng là không thể phủ nhận. Tính đến
loại hình sinh hoạt văn hoá truyền thống này? Ta cần phải có một cái nhìn học
Thành cùng với lễ hội đền Hả là cơ hội để ngƣời viết tích luỹ kiến thức về kho
tộc bị phá bỏ, nhiều công trình văn hoá bị đánh mất. Những năm gần đây Đảng
tàng truyền thuyết từ đó bồi đắp cho học sinh lòng tự hào về truyền thống quý
và Nhà nƣớc ta đã chú trọng khôi phục, phát triển những giá trị văn hoá ấy. Đặc
báu của dân tộc, khơi dạy trong các em ý thức về việc gìn giữ, bảo tồn và
biệt, từ Đại hội Đảng VI ( từ 1986 đến nay) với tinh thần đổi mới, văn hoá đƣợc
phát huy văn hoá dân tộc .
nhìn nhận lại, nhiều đền đài, miếu mạo, chùa chiền...đƣợc phục chế, hội hè đƣợc
khôi phục và trong đó phải kể đến lễ hội đền Hả ở Lục Ngạn - Bắc Giang.
Trên đây là tất cả những lý do khiến ngƣời viết chọn đề tài "Truyền
thuyết Vũ Thành và lễ hội đền Hả - Lục Ngạn-Bắc Giang".
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Đầu những năm 90, khi cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam
tự sự dân gian Việt Nam Tập trung những bài nghiên cứu về truyền thuyết đã
của Đại học Tổng hợp đƣợc viết lại, tác giả Lê Chí Quế đã dành một chƣơng
xuất bản. Các tác giả Nguyễn Ngọc Côn, Tầm Vu, Phan Trần, Đinh Gia
viết về truyền thuyết. Trong đó, tác giả đã vẽ lên bộ mặt của thể loại truyền
Khánh và Kiều Thu Hoạch đã có những đóng góp lớn trong đó đáng chú ý là
thuyết trên cái khung là định nghĩa, phân loại, phân tích dẫn chứng.
Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến của tác giả Kiều Thu
Năm1991, trong bài Bàn thêm về thể loại truyền thuyết tác giả
Hoạch. Ông đƣa ra định nghĩa và phân loại truyền thuyết, đồng thời đƣa ra
Chiêng Xom An điểm một loạt các định nghĩa trong sự phân tích có phê
những cái nhìn tổng quát và những kiến giải sâu sắc về bản chất thể loại. Ông
phán, từ đó đƣa ra một quan niệm mới về truyền thuyết, coi truyền thuyết là
nhận xét có thể nói lễ hội là một bộ phận hữu cơ không thể thiếu được của
một tập hợp những truyện tích ngắn gọn để bổ sung , hỗ trợ cho thần thoại,
triệt để hơn nhƣ mối quan hệ giữa lịch sử và truyền thuyết, một vài vấn đề
tầm, biên soạn, giới thiệu nghiên cứu nó thì chƣa đƣợc tiến hành trên phạm vi
thi pháp truyền thuyết, thẩm định lại tƣ liệu truyền thuyết [Tạp chí văn học,
rộng. Có thể điểm qua một số tác phẩm tiêu biểu:
Năm 2005, trong cuốn "Văn nghệ Bắc Giang" tập I, tác giả Nguyễn
7/1997, 1, tr 34].
Năm 1996, tác giả Lê Văn Kỳ trong Mối quan hệ giữa truyền thuyết
Đình Bƣu đã chỉ ra một cách cụ thể, chân thực về số lƣợng các di tích gắn liền
người Việt và lễ hội các anh hùng đã nêu lên định nghĩa hội, lễ, mối quan hệ
với tên tuổi nhân vật lịch sử đƣợc tái tạo qua truyền thuyết. Đồng thời tác giả
giữa hội lễ nhƣ hội lễ về Hai Bà Trƣng, Thánh Gióng...trong mối quan hệ với
cũng đi vào trình bày một cách chi tiết nội dung, giá trị của một số truyền
truyền thuyết xung quanh những mặt này [48].
thuyết lịch sử tiêu biểu trên địa bàn tỉnh. Có thể nói, bài viết của tác giả
Trong cuốn giáo trình Văn học dân gian của trƣờng Đại học sƣ phạm
Hà Nội dùng cho Đại học từ xa, các tác giả cũng dành một chƣơng viết về
Nguyễn Đình Bƣu hết sức có giá trị với việc lƣu truyền, bảo tồn vốn truyền
trai của tả bộc xạ Vũ Tỉnh và Thái trƣởng công chúa triều Lý Huệ Tông - Lý
Thị Cảnh. Bƣớc vào tuổi 17, 18 đất nƣớc ta bị quân Nguyên Mông xâm lƣợc
lần thứ nhất. Vũ Thành xin vua Trần đi đầu quân dẹp giặc, trải qua 10 trận
đánh, ông đã lập lên nhiều chiến công vang dội, nhất là những trận phía sau
lƣng địch. Nhƣ vậy, theo cuốn sách, nhân vật lịch sử Vũ Thành sống vào thời
Lý - Trần. Cùng với thần tích Vũ Thành, cuốn sách đã trình bày khá chi tiết
và kỹ lƣỡng về di tích lịch sử đền Hả, nơi thờ Đức Thánh Vũ Thành và những
nguyên hợp của văn học dân gian.
Truyền thuyết lịch sử về ngƣời anh hùng chống giặc ngoại xâm, anh
đặc điểm về lễ hội Đền Hả.
hùng văn hoá trên địa bàn tỉnh Bắc Giang rất phong phú. Tuy nhiên, việc sƣu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
9
Cuốn Lý lịch di tích đền Hả - Bảo tàng Hà Bắc-1990 tập trung đề cập
Cuốn Di tích Bắc Giang - Nguyễn Xuân Cần- ĐH SPHN, 2001 giới
đề cập đến tinh thần dân tộc " truyền thống nêu cao tinh thần chiến đấu và
thiệu khái quát về di tích đền Hả từ địa lý, lịch sử, ngƣời đƣợc thờ... theo tác
chiến công của Vũ Thành bằng cách lý giải vì sao Vũ Thành thua trận và chỉ
giả, di tích đƣợc xây dựng từ thời Lý - Trần, ngôi đền thờ tƣớng công Vũ
khi nào mới chịu chết. Dường như các tác giả dân gian muốn lý giải mối
Thành cùng 6 nhân vật.
quan hệ giữa việc nhà, việc nước " [9, tr20]. Nhƣ vậy, trong bài viết, tác giả
+ Thành phụ: Thần thân tƣớng quốc vƣơng thái truyền tả bộc xạ Vũ
Tỉnh.
Nguyễn Đình Bƣu cũng đã tiếp cận vấn đề trên góc độ soi chiếu của văn học
dân gian.
+ Thánh mẫu: Quốc mẫu Thiên Thành, Thái Đƣờng, Thái trƣởng Lý
Thị Cảnh.
Nhƣ vậy vấn đề nghiên cứu truyền thuyết Vũ Thành (tức Thân Cảnh
Phúc) và mối quan hệ giữa các truyền thuyết với lễ hội đền Hả là chƣa từng
+ Thánh di: Thuỵ thiên công chúa, Bình Dƣơng công chúa, Yên Hoa
công chúa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Khảo tả lễ hội từ điểm nhìn truyền thuyết để làm sáng tỏ mối quan hệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
11
Luận văn đƣa ra cái nhìn toàn diện về nhân vật từ góc độ văn học dân
4.2. Phạm vi nghiên cứu
gian, đồng thời chỉ ra mối liên hệ giữa truyền thuyết Vũ Thành và lễ hội này.
Luận văn tìm hiểu, phân tích, đánh giá các giá trị tƣ tƣởng thẩm mỹ của
Qua đó, đƣa ra một căn cứ bổ sung để cho chính quyền cũng nhƣ nhân dân
những truyền thuyết về Vũ Thành dƣới góc độ khoa học văn học dân gian trên
trong vùng thấy đƣợc giá trị của di tích từ đó có biện pháp bảo tồn và phát
hai phƣơng diện: Giá trị tƣ tƣởng qua nội dung phản ánh và ý thức nghệ thuật
5.2. Phƣơng pháp điền dã
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Là các truyền thuyết xoay quanh cuộc đời, sự nghiệp và thân thế của
nhân vật lịch sử Vũ Thành, do đặc điểm của truyền thuyết về ngƣời anh hùng
chống xâm lƣợc là thƣờng gắn liền với các mùa và nghi lễ tế thần ở đình,
đền, miếu... Nên ngƣời viết đồng thời khảo tả lễ hội ở đền Hả (Hồng Giang Lục Ngạn - Bắc Giang) trong mối quan hệ với thần tích Vũ Thành. Cụ thể là
khảo sát một hệ thống tƣ liệu nhƣ sau:
+ Trực tiếp gặp gỡ và trao đổi với các cụ già thƣờng xuyên đến lễ ở đền.
+ Đến xóm làng, khu phố để tìm hiểu qua các cụ cao niên
+ Trực tiếp dự lễ hội để có thể tƣờng trình, mô tả diễn biến, những nét
riêng của lễ hội Vũ Thành ở đền Hả.
5.3. Phƣơng pháp tiếp cận hệ thống
Xem xét truyền thuyết Vũ Thành là một hệ thống các bản kể.
+ Đặt các bản kể trong sự đối sánh với nhau và cả hệ thống văn hoá dân
+ Hội Từ Hả
gian Lục Ngạn, giải quyết vấn đề theo một cái nhìn lịch sử (từ Vũ Thành đến
+ Lý lịch di tích đền Hả
Thân Cảnh Phúc).
+ Lễ hội Bắc Giang
+ Những tài liệu ghi chép về văn hoá, văn học và lịch sử qua điền dã.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Do văn hoá dân gian nói chung truyền thuyết nói riêng có đặc trƣng là
tính nguyên hợp, tính chất sinh hoạt thực hành nên khi tiến hành đề tài này
chúng tôi phải vận dụng các phƣơng pháp thuộc các lĩnh vực lịch sử, dân tộc,
tôn giáo, tín ngƣỡng để có thể lý giải một số vấn đề liên quan đến đề tài.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu các vấn
đề chính của truyền thuyết Vũ Thành và lễ hội đền Hả một cách khá toàn diện
trên phƣơng diện một thể loại văn học dân gian.
Đặc điểm nội dung và mô típ kết cấu của truyền thuyết Vũ Thành đƣợc
kiến giải và đánh giá trên cơ sở những tiến bộ khoa học nghiên cứu văn học
dân gian hiện nay.
Lễ hội tƣởng niệm thƣợng tƣớng công Vũ Thành ở đền Hả đƣợc khảo
tả chi tiết, cụ thể: phần lễ, phần hội, qua đó thấy đƣợc mối quan hệ giữa
truyền thuyết và lễ hội.
Trên cơ sở kế thừa các tài liệu đã nghiên cứu về nhân vật lịch sử Vũ
Thành và lễ hội đền Hả, luận văn đóng góp một phần nhỏ vào việc bảo lƣu và
phát triển vốn văn học dân gian của quê hƣơng nói riêng và dân tộc nói
chung.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc trình
bày trong 3 chƣơng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
hợp thành bởi các vùng văn hoá với những đặc trƣng, sắc thái riêng làm thành
tính thống nhất và đa dạng của các nền văn hoá.
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và đa vùng miền, Kết quả nghiên cứu
của các nhà lịch sử và văn hoá học Việt Nam đã phân chia nƣớc ta có khoảng
từ 6 đến 9 vùng văn hoá, với những đặc trƣng và sắc thái riêng, làm thành tính
thống nhất, đa dạng và phong phú của văn hoá Việt Nam. Trong các vùng văn
hoá lại phân chia thành các tiểu vùng. Nhƣ vậy, việc phân vùng văn hoá
không căn cứ và tuỳ thuộc vào đơn vị hành chính hiện tại, mà căn cứ vào quá
trình hình thành các vùng không gian văn hoá do những đặc điểm địa lý và
điều kiện lịch sử xã hội cụ thể của mỗi vùng đã hình thành nên các vùng văn
hoá với những đặc trƣng và sắc thái riêng đƣợc phản ánh ở các lĩnh vực văn
hoá vật thể và phi vật thể. Hay nói nhƣ phó giáo sƣ - tiến sĩ Hoàng Nam; "Tự
nhiên và con người hoà đồng, kết thành một thể thống nhất, dù là thống nhất
tương đối, tạo thành các vùng văn hoá" [28, tr 59].
Cùng với Bắc Ninh, Bắc Giang thuộc vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ.
Đây là vùng văn hoá đặc sắc và độc đáo của Việt Nam. Tiếp đến, hai vùng đất
này, hợp thành một tiểu vùng văn hoá đƣợc gọi bằng các khái niệm văn hoá
nhân ái và tình nghĩa trong ứng xử "tứ hải giao tình"; "tình chung một khắc,
nghĩa dài trăm năm”.
Trong không gian văn hoá vùng Kinh Bắc, Bắc Giang có những đặc
trƣng riêng độc đáo, quyến rũ. Tìm hiểu về truyền thuyết Vũ Thành và lễ
hội đền Hả không thể bỏ qua sự so sánh, đối chiếu với những đặc điểm của
văn hoá Bắc Giang. Bởi một lẽ, truyền thuyết Vũ Thành vừa là sản phẩm
của quá trình sáng tạo văn hoá vùng Kinh Bắc, vừa là sự kết tinh cho nét
đẹp về đời sống tâm hồn của nhân dân Lục Ngạn nói riêng, nhân dân tỉnh
Bắc Giang nói chung.
1.2. Lục Ngạn - Bắc Giang - vùng văn hoá dân gian đặc sắc, cái nôi của
truyền thuyết Vũ Thành
Là ngƣời con của mảnh đất Lục Ngạn - Bắc Giang, Vũ Thành đã hội tụ
Và khi Nguyễn Trãi ghi "Kinh Bắc là Trấn thứ tư trong bốn kinh trấn
dài về quân sự.
và là đứng đầu phên dậu phía Bắc" [18, tr44] thì thực chất là đánh giá vai trò
Trong các ngọn núi, tuỳ theo sơn phận mà có núi, có rừng nhiều tầng
phên dậu trƣớc hết thuộc địa phận Bắc Giang hiện nay, nơi diễn ra các trận
hoặc rừng hoang sơ, cây chịu cạn. Tại sơn phận xã Nam Dƣơng chủ yếu là
đánh của nhân dân ta trƣớc các thế lực xâm lƣợc phƣơng Bắc và thổ phỉ thời
rừng hoang cỏ cây chịu hạn. Đất đá lẫn lộn, lô xô chen lẫn nhau. Đá ở núi Am
cận hiện đại.
Ni đa số là đá cát kết khối lớn. Trên đỉnh núi Am Ni có một ngôi chùa mang
Lục Ngạn là một huyện miền núi của Bắc Giang vì thế điều kiện tự
tên chùa Am Vãi, ở phía Bắc núi trên độ cao chừng 600-700m kề bên ngọn
Am Vãi có núi Bàn thờ tiên. Cạnh đó là khu núi mang tên Hang Tiền, Hang
nhiên ở đây mang những đặc điểm của địa lý cảnh quan Bắc Giang.
Lục Ngạn là một huyện miền núi có diện tích tự nhiên là 1.011km , dân
gạo và có nhiều truyền thuyết về những hang này. Núi Am Ni là một núi lớn,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Ải Nội Bàng còn có tên là Bàng Quan, thành nhà Mạc. Đây là chiến ải
lớn nhất nằm ở khu vực giữa thung lũng sông Lục Nam. Địa thế nơi này bằng
miền núi. Chặn ngang thung lũng ở khu vực xã Phƣơng Sơn, Đông Hƣng là
ngọn núi ải đồ sộ, tạo nên hai cửa ra vào thung lũng, một cửa giáp núi Bảo
Đài. Từ cửa ải đƣờng núi phía tây kéo sang cửa ải đƣờng núi phía đông có
dãy thành luỹ đất chắn ngang. Thành này đƣợc nhà Mạc bồi đắp cao to đồ sộ
nên dân địa phƣơng vẫn gọi đó là thành Nhà Mạc. Dƣới chân thành có con
suối từ Bảo Đài chảy về Sông Lục Nam mang tên suối ải. Khu vực ải giáp bờ
sông, có làng Ải, làng Bòng của xã Phƣợng Sơn. Làng Bòng lại có cánh đồng
kề quan ải vì thế mà ải có tên là Nội Bàng hay Nội Bòng. Đây là nơi ngƣời
dân trong các làng xã thờ các vị phò mã nhƣ Giáp Thừa Quý, Thân Thiệu
Thái, Thân Cảnh Phúc và các công chúa nhà Lý. Ở địa điểm này đã phát hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
19
ra gạch ngói có hoa văn dây cúc từ thời Lý - Trần. Khi khai quật đã phát hiện
Khuôn Thần đƣợc xây dựng từ 1960, với dung tích 1.000.000m3 để tƣới
tộc ta, mảnh đất nơi đây đã sản sinh ra bao anh hùng dân tộc, đóng góp một
Sông này chảy quanh co qua Cooc Nhi, Cooc Vặn, rồi nhập vào sông Lục
phần không nhỏ trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lƣợc từ ngàn
Nam ở khu vực bản động. Đỉnh đèo là cửa ải Xa Lý. Đứng ở đây có thể quan
xƣa.
sát đƣợc đất Lộc Bình và cả vùng đất Lục Ngạn. ở khu vực đỉnh đèo Ải có
Nơi đây từng ghi dấu chiến công của những ngƣời anh hùng đã chiến
đắp luỹ đất. Lũy cao chừng 4 m chân rộng tới hơn 20 m. Luỹ ăn sát vào vách
đấu vì độc lập, tự do cho đất nƣớc. Đó là Cao Sơn - Quý Minh - những vị
núi, ở giữa có lối ra vào do đèo cao, lối đứng, đƣờng xá đi lại khó khăn, lại
tƣớng tài giỏi thời các vua Hùng đến Thân Cảnh Phúc, Vi Hùng Thắng, Trần
mắc luỹ chắn nên việc ra vào ải càng khó. Con sông xa Lý đƣợc khởi nguồn
từ các suối nhỏ trong dãy núi Thái Hoà, tạo ra nguồn chính bắt đầu từ Bản
Đồn, núi Ải từ đó chảy qua làng Mòng, làng Xé, Cooc Nhi, Cooc Vặn rồi đổ
vào đất Khuôn vi và rộng dần ra, sau chảy vào đất Động bản (Biển động) rồi
đổ vào sông Lục Nam ở khu vực Cẩm Đàn, Phú Nhuận. Lòng sông này có
nhiều loại cuội đá kết màu sắc vân rất đẹp. Dọc theo đôi bờ sông có nhiều
dấu tích cƣ trú của ngƣời xƣa. Thế kỷ XIII, quân dân nhà Trần đã tổ chức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
21
Thành vẫn mang những nét chung từ đặc điểm truyền thuyết và lễ hội Bắc
Hạ, Đông Lâm (Hiệp Hoà) và trống đồng Bắc Lý, chứng tỏ vùng đất Bắc
Giang, mở rộng ra là ảnh hƣởng của văn hoá Kinh Bắc. Vì vậy, khi nghiên
Giang là địa bàn cƣ trú quan trọng của tộc ngƣời Việt thời Hùng Vƣơng -
cứu về điều kiện lịch sử tác động đến đối tƣợng nghiên cứu của luận văn,
An Dƣơng Vƣơng.
chúng tôi nhận thấy, trƣớc hết cần khảo sát từ lịch sử quê hƣơng Bắc Giang,
Trong thời kỳ Văn Lang Âu Lạc, miền đất Bắc Giang phần lớn thuộc
thứ đến là lịch sử của mảnh đất Lục Ngạn, cái nôi của truyền thuyết Vũ
tới và phát huy truyền thống sử dụng đá cuội vào các thời đại sau này.
Thời tiền sử tiếp theo ở Bắc Giang là văn hoá Hạ Long. Ở xã Trƣờng
xuyên nhƣ vị trí địa lý, khí hậu, núi rừng, sông ngòi, bão lụt, chiến tranh khắc
nghiệt. Chính từ đó đã cố kết ngƣời Việt cổ Bắc Giang thành những cộng
đồng làng bản vững chắc. Có làng, có bản là có ý thức cộng đồng.
Đến năm 179 TCN, Triệu Đà đem quân xâm chiếm Âu Lạc. Vì mất
cảnh giác, An Dƣơng Vƣơng thua chạy. Nƣớc Âu lạc bị diệt vong, Bắc Giang
khi đó cùng cả nƣớc rơi vào ách thống trị của nhà Triệu. Bắt đầu từ đây, nhân
dân Bắc Giang cùng với nhân dân cả nƣớc chịu sự đô hộ và đồng hoá của kẻ
thù phƣơng Bắc và trong suốt hơn 10 thế kỷ ấy nhân dân Bắc Giang cũng
nhƣ mảnh đất thiêng này đã chứng kiến những lần đánh Tống, diệt NguyênMông, đuổi Minh, Thanh. Những con ngƣời từ Thạch Linh, Thánh Thiên đến
Thân Cảnh Phúc - Vũ Thành, Lê Thị Ngọc Khanh, Giáp Hải, Hoàng Công
Phụ cho đến những địa danh Tiên Lát, Ngọc Lâm, Tam Tàng, Xa Lý, Nội
Sơn (Mai Sƣu - Lục Nam) đã tìm thấy chiếc rìu đá có vai lệch. Rìu mầu vàng
Bàng. Nối dài truyền thống ấy, từ cuối thế kỷ XI, nhân dân Bắc Giang với hệ
dài 7,4cm, eo vai rộng 4cm, lƣỡi rộng 4,3 cm có hình vòng cung cân xứng.
thống làng phòng thủ, làng chiến đấu sẵn sàng bƣớc vào một thử thách mới.
Rìu đƣợc mài nhẵn toàn bộ, hai mặt lƣỡi mài vát hơi lệch về một bên.
Không phải kẻ thù phƣơng Bắc mà là lũ ngoại xâm đến từ phƣơng Tây,
Nhƣ vậy, từ thời sơ sử, Bắc Giang đƣợc nhận biết qua hàng loạt các
trƣớc sau đã thể hiện là những ngƣời gắn bó “bƣớng bỉnh”. Với lịch sử, thể
cƣờng đấu tranh, sản xuất xứng đáng là một huyện anh hùng, làm giàu thêm
thù. Tiêu biểu trong đó là Đề Thám cùng với khởi nghĩa Yên Thế. Cho dù
cho trang sử vẻ vang-Bắc Giang. Điều đó cũng giải thích vì sao, chống áp
cuộc khởi nghĩa thất bại. Đề Thám đã hy sinh, nhƣng sự nghiệp của ông còn
bức, chống ngoại xâm, đề cao cảnh giác đã trở thành truyền thống quý báu
mãi với non sông, và tên tuổi ông trở thành biểu tƣợng cho tinh thần kháng
của nhân dân nơi đây. Rất nhiều tên tuổi các vị anh hùng chiến sỹ yêu nƣớc
pháp của quê hƣơng Bắc Giang.
đã đƣợc lƣu giữ trong những trang sử vàng của dân tộc và hơn thế nữa, trong
tâm thức của ngƣời dân mọi thế hệ. Cũng chính vì vậy mà ngƣời dân Lục
"Ba mươi năm khắp núi rừng
Ngạn cho đến nay vẫn kể cho con cháu mình nghe những câu chuyện về
Danh ông Đề Thám vang lừng nước Nam"
ngƣời anh hùng chống giặc ngoại xâm và hàng năm nhân dân còn tổ chức
Tiếp đó, trong suốt những năm dài trƣờng kỳ kháng Pháp rồi kháng
nhiều lễ hội để tƣởng niệm những anh hùng dân tộc, trong đó có lễ hội về Vũ
đƣợc khẳng định bởi các dân tộc cùng chung sống, tạo dựng trong quá trình
tỉnh Bắc Giang. Cụ thể là ở khu vực Chũ đã tìm thấy công cụ đá thuộc văn
đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc, trong lao động sáng tạo xây dựng quê
hoá Sơn Vi ở các địa điểm: Non Trúc, Minh Khai, Cầu Cát và Giếng Xẻ có
hƣơng và trong quá trình giao lƣu, tiếp nhận và tiếp bƣớc của nhiều luồng
độ cao trung bình 15-20m nằm kề nhau trong 1 dãy đồi kéo dài dọc theo 2 bờ
văn hoá khác nhau. Ví dụ từ thời Lý văn hoá ngƣời Việt (văn hoá cung đình)
sông Lục Nam.
đã có sự giao thoa với văn hoá miền núi (các dân tộc ít ngƣời) đƣợc lịch sử
Qua đó để thấy rằng, ngày từ thời tiền sử, mảnh đất Lục Ngạn đã có
khẳng định bằng một thực tế, vƣơng triều Lý gả công chúa cho các tộc
sự xuất hiện sự sống con ngƣời và đây cũng là nơi lƣu giữ trầm tích văn
trƣởng vùng Sơn cƣớc Lục Ngạn. Rồi do nhiều nguyên cơ khác nhau mà các
hoá Bắc Giang nói chung, văn hoá Lục Ngạn nói riêng làm cơ sở cho sự
cƣ dân từ Thái Bình, Hà Nam, Phủ Lý, Hải Dƣơng, Hƣng Yên..lên vùng đất
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc
sông, thần núi, thần đất, thần đá, thần mặt trời... mỗi thần cai quản một vùng
ngƣời Bắc Giang đã đúc kết và tạo cho quê hƣơng mình những giá trị văn hoá
đất và phù hộ cho con ngƣời, cƣ dân một làng xã. Trong các vị thần ấy thì
vô cùng quý báu. Đó là truyền thống yêu nƣớc, anh dũng chiến đấu, bảo vệ
thần sông, thần núi, thần đất là phổ biến hơn cả.
quê hƣơng, cần cù lao động sáng tạo, truyền thống hiếu học, khoa cử và
truyền thống văn hoá.
Từ thế kỷ X tín ngƣỡng thờ thần sông chính thức đƣợc sách “Việt điện
U Linh” của Lý tế Xuyên thời Trần ghi chép đó là hai vị thần sông đã đƣợc
Trong phạm vi luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến một số vấn đề văn
nhân hoá làm Trƣơng Hống, Trƣơng Hát. Hai vị thần này có thần hiệu là
hoá tinh thần của nhân dân Bắc Giang có liên quan trực tiếp đến đề tài
"Long quan phó sứ" tuần hành hai chi sông Vũ Giang, Lạng Giang. Ngoài ra
nghiên cứu.
các con sông, con ngòi ở Bắc Giang về sau đều có thần quản lãnh: Sông
Thƣơng có thần hiệu là Nam Bình Giang sứ cai quản. Còn sông Cầu thảo có
26
27
nhà nƣớc ấy thấy rõ vai trò của các thần trong đời sống xã hội nên đã lần lƣợt
thì rất ít. Bên cạnh đó, hầu hết các đối tƣợng đƣợc thờ cúng mà không đƣợc
phong thần cho các vị thần ở làng xã.
xếp là thành hoàng. Điển hình nhƣ trƣờng hợp các công chúa nhà lý : Bình
Việc phong thần đại trà từ thế kỷ XVI trở đi đã làm cho các vị thần
thƣờng lên một bậc cao hơn tức là bậc thành hoàng của làng xã. Đây là vị
thần bảo hộ cho đời sống tâm linh của làng xã trong mọi trƣờng hợp.
Cùng với sự phồn thịnh về tín ngƣỡng thờ thành hoàng làng thì từ thế
Dƣơng, Thiên Thành, Thuỷ Thiên, nhƣ Trần Thủ Độ, Trần Thị Ngọc Dung,
Trần Minh tông...
Tuy nhiên, đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Bắc Giang không
chỉ đƣợc phản ảnh ở tín ngƣỡng phong tục mà còn đƣợc bộc lộ đậm nét trong
kỷ XIII trở đi, tín ngƣỡng thờ mẫu cũng phát triển. Thờ Mẫu ở Bắc Giang có
văn học dân gian.
thể là một hiện tƣợng tín ngƣỡng sớm và cổ. Đó là việc thờ mẹ bên cạnh thờ
trong chỉnh thể văn học dân gian của vùng đất này.
Trƣớc hết là truyền thuyết lịch sử. Do điều kiện địa lý, lịch sử, Bắc
Giang xƣa kia là một trong những vùng giao tranh chủ yếu các đời vua Hùng
với các thế lực xâm lấn từ phƣơng Bắc và cuối cùng với quân Thục dẫn đến
kết thúc nƣớc Văn Lang, lập ra nƣớc Âu Lạc nên hệ thống truyền thuyết về
Thứ hai, có thể thấy rõ hiện tƣợng ghi đậm dấu ấn lịch sử và hiện
ngƣời anh hùng chống giặc ngoại xâm ở Bắc Giang rất phong phú. Vào thời
tƣợng đấu tranh dung hoà các dòng phái tín ngƣỡng ở Bắc Giang. Trong số
Hùng Vƣơng, phải kể đến hai truyền thuyết lịch sử Thạch Tƣớng và Hùng
các vị thần đƣợc thờ ở Bắc Giang, những ngƣời đƣợc phong là thành hoàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
28
29
Linh. Hai truyền thuyết này bổ sung cho nhau phản ánh thời kỳ khai sáng lƣu
tuổi cao lớn hơn ngƣời và đặt tên là Thạch Tƣớng. Lúc đó có giặc xâm lấn bờ
Giang còn lƣu truyền hệ thống truyền thuyết lịch sử nhƣ truyền thuyết Hùng
cõi nguy cấp. Sứ giả nhà vua đi rao cần ngƣời dẹp giặc. Thạch Tƣớng báo sứ
Vƣơng, Trƣơng Hát, truyền thuyết Vũ Thành, Dƣơng Tự Minh, Vi Hùng
giả về tâu vua cấp cho một con voi đá và cơ lệnh để đi đánh giặc, nhất định lũ
Thắng, Hoàng Hoa Thám..
giặc sẽ thua. Quả nhiên đứa trẻ vụt lớn lên cao 10 trƣợng mắt đỏ nhƣ mặt trời
Có thể nói rằng Bắc Giang cũng nhƣ mọi miền quê khác ở phía bắc
mọc, cƣỡi voi, cầm cờ lệnh chỉ đánh một trận mà giặc đã tan tành. Dẹp giặc
nƣớc ta đều có chung một đặc điểm về lịch sử. Đó là sự nghiệp chống ngoại
xong, Thạch Tƣớng quy trở về quê, phóng voi lên núi Lát, trút bỏ lại mũ áo
xâm phƣơng Bắc để bảo vệ bờ cõi, bảo vệ nền văn hoá, văn hiến dân tộc.
vua ban, bay lên trời giữa mây khói mù mịt, bách thú kêu gào, cỏ cây lay
Phản ánh chặng đƣờng lịch sử ấy không gì hấp dẫn, sinh động, sâu sắc hơn
động. Có thể thấy rõ đây là truyền thuyết lịch sử nhƣng lại mang tính khái
núi, cổ rồng, râu hổ, Vua Hùng Vƣơng thứ 6 mời chàng vào triều thử tài và
đều được xếp vào hàng các vị thần có phép thần thông biến hoá trừ hoạ cho
phong chức tƣớc tƣớng công cho về chủ trị vùng quê. Hùng Linh đã có công
dân lành” [76, 347].
diệt thú dữ, bảo vệ cuộc sống yên bình cho dân, ông còn có công dẹp giặc Ân
giữ yên bờ cõi đất nƣớc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Cùng với thần thoại và truyền thuyết, trong kho tàng văn hoá dân gian
Bắc Giang còn lƣu giữ truyện cƣời. Truyện cƣời ở Bắc Giang rất đa dạng và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
30
31
phong phú, phản ánh mọi mặt sinh hoạt xã hội của ngƣời dân Bắc Giang, góp
phần làm cho cuộc sống con ngƣời vui tƣơng lành mạnh và tham gia đấu
Ngoài ra ca dao cũng là thể loại văn học dân gian Bắc Giang có giá trị
đặc sắc về đê tài, chủ đề, nội dung và phƣơng thức biểu hiện. Kho tàng ca dao
nơi đây. Đặc biệt, truyền thuyết lịch sử về ngƣời anh hùng chống giặc ngoại
xâm phát triển rất phong phú, đa dạng trên mảnh đất này.
đƣợc xem nhƣ tấm gƣơng phản chiếu đời sống tâm hồn của ngƣời dân Bắc
* Lễ hội cổ truyền
Giang từ xƣa đến nay. ở đó ta cảm nhận đƣợc tình yêu quê hƣơng, đất nƣớc
Lễ hội là một hiện tƣợng xã hội - lịch sử thuộc hình thái ý thức xã hội.
sâu nặng qua việc phản ánh nét độc đáo về văn hoá của mỗi vùng quê.
- Lạng Thương, phủ Lạng quê nhà
Ngoài thì thành thị, trong là dân quê
-Nhã Nam có gốc bồ đề
Có nghiệp đánh dậm, có nghề đốt than.
-Mồng bốn phiên chợ Na Sành
Mồng năm chợ tỉnh dành dành mình ơi
Mồng 6 chợ Kép tới nơi
Mồng 7 mới thực là nơi chợ nhà
Mồng 8 chợ Phỏng đường xa
Cơm nắm, cơm gói cả nhà cùng đi.
Nó là sản phẩm của một cơ sở kinh tế xã hội nhất định và chịu sự chi phối của
quy luật kinh tế xã hội. Lễ hội là một sinh hoạt văn hoá có từ lâu đời, có sức
lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội và nó đã trở thành một nhu cầu
trên đất Lục Ngạn để quan quân nhà Trần do Trần Hƣng Đạo chỉ huy lên
thuyền rút lui về kiếp bạc an toàn.
+ Thờ đƣơng Cảnh Thành Hoàng Vũ Thành (Thân Cảnh Phúc) và thân
tộc họ Lý ở Châu Long xƣa.
+ Đặc điểm: Sau phần lễ, nhân dân có tổ chức rƣớc kiệu dƣơng thần và
âm thần, diễn tích trên sông Lục Nam.
+ Đặc điểm: Ngoài nghi lễ tế Vũ Thành còn có diễn tích trận mạc
tƣợng trƣng cho chiến thắng do Vũ Thành chỉ huy. Sau lễ tế là cai trò hội:
Múa Sƣ Tử, Hát song dao, Sli, lƣợn... của các dân tốc ít ngƣời.
+ Trò chơi: chọi gà, Tam cúc, cờ tƣớng...
5. Ngày 15, 16, 17 tháng giêng âm lịch lễ hội Yên Sơn (xã Hoà Sơn Hiệp Hoà)
2. Ngày 16-3 dương lịch hội Yên Thế (huyện Yên Thế-Bắc Giang)
+Thờ: Đức Thánh Hùng Linh ngƣời có công giúp vua Hùng dẹp giặc Ân.
+ Thờ ngƣời anh hùng Đề Thám và những nghĩa sĩ của ông
+ Đặc điểm: Trong nghi thức tế lễ không thể thiếu màn rƣớc ngựa thần,
+ Đặc điểm: Là lễ hội mang tính chất kỷ niệm lịch sử đƣợc tổ chức với
nhiều nội dung phong phú và hấp dẫn. Trong phần lễ, sau màn dâng hƣơng
tƣởng niệm, ngƣời dự lễ hội đƣợc chứng kiến lễ diễu hành thể hiện khí phách
bất khuất, quật cƣờng và lòng quả cảm của dân tộc.
lễ "cuốn cờ đập đất", lễ xếp chữ (thƣờng là xếp chữ "Nhân", "Tâm", "Đức"
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
34
35
nhiên cho đến nay các nhà sử học đã dày công tra cứu nhƣng trong các sách
2.1. Vũ Thành - con ngƣời và truyền thuyết
Nhƣ luận văn đã khẳng định ở phần đầu, Vũ Thành là một nhân vật
Đăng Khoa lục không có tên tuổi Vũ Thành. Vậy Vũ Thành thực chất là ai?
truyền thuyết tên tuổi và công đức của ngƣời anh hùng dân tộc cũng là từ
Đến năm 1994, khi bảo tàng tỉnh Bắc Giang cho tiến hành nghiên cứu
những lời kể của dân gian đan cài cùng những chi tiết lịch sử. Soi chiếu vào
xác lập hồ sơ cho di tích đền Hả thì tên tuổi Vũ Thành đƣợc xác lập theo một
sử sách, ta tiếp nhận đƣợc lòng ngƣỡng vọng, sự đánh giá của nhân dân đối
gìn giữ biên cƣờng cho triều Lý.
Công lao của Vũ Thành đối với quê hƣơng và dân tộc đƣợc truyền
Giáp Thừa Quý có con là Thiệu Thái. Năm 1029 Triệu Thái lấy công
thuyết ghi lại là ông đã từng cầm quân ra trận dẹp giặc Nguyên - Mông vào
chúa Bình Dƣơng và tiếp tục cha làm phò mã cho triều Lý. Theo sách "Việt
tháng 2 năm Giáp Thân (1284). Ông đã với đạo quân của mình chiến đấu 9
sử lƣợc" thì "Con trai công chúa Bình Dƣơng là Thân Đạo Nguyên lấy công
trận toàn thắng trƣớc kẻ thù và đến trận thứ 10 thì hy sinh, ông đã thác hoá tại
chúa Thiên Thành. Thân Đạo Nguyên còn đƣợc gọi là Thân Cảnh Phúc”.
đền Hả - xã Hồng Giang - Lục Ngạn - Bắc Giang. Khi nghe tin Vũ Thành bị
Qua những tƣ liệu trên đây, ta nhận thấy, Vũ Thành (Thân Cảnh Phúc)
bại, vua Trần lấy làm thƣơng tiếc cho dân xã lập đền miếu để thờ. Từ đó, ngôi
xuất thân trong gia đình có ba đời làm phò mã nhà Lý, từ ông nội đến cha và
đền Hả đƣợc dựng lên và gắn liền với tên tuổi ngƣời anh hùng Vũ Thành. Tuy
bản thân ông. Mặt khác, phải nhấn mạnh rằng, trong sự nghiệp đấu tranh bảo
ngời cho kế sách giữ nƣớc đúng đắn của các đời vua Lý, khắc ghi vào truyền
thống dân tộc tinh thần kiên trung gìn giữ non sông.
Trên đây là những nét sơ yếu về cuộc đời cũng nhƣ những đóng góp
của phò mã Thân Cảnh Phúc đƣợc ngòi bút của các sử gia ghi chép lại. Song
Là ngƣời con của dòng họ, Thân Cảnh Phúc đã đƣợc đón nhận những
những thăng trầm dâu bể trong lịch sử đã tác động đến công tác lƣu truyền và
nét tinh hoa ấy để rồi toả sáng và lƣu danh trong kháng chiến chống quân
bảo lƣu tên tuổi chứng tích của các yếu nhân trong lịch sử dân tộc không là
Tống về công lao của Vũ Thành (Thân Cảnh Phúc) đối với quê hƣơng và dân
ngoại lệ trong dòng chảy ấy, những ngƣời của họ Thân ở Châu Lạng đã không
tộc, các tài liệu đã khẳng định trong cuộc kháng chiến chống Tống. Dƣới
trƣớng Lý Thƣờng Kiệt (1075-1077) phò mã Thân Cảnh Phúc đã tham gia
tích cực và lập đƣợc nhiều chiến công. Thân Cảnh Phúc cùng các tƣớng Lƣu
Tông Đản, Hoàng Kim Mãn, Vi Thủ An cho quân bộ tiến sang đất Tống uy
hiếp Hoàng Sơn, Thái Bình, Vĩnh Bình, Cổ Vạn, Thiên Long để triệt hạ các
căn cứ quân sự tiền phƣơng của địch và cũng là kế nghị binh nhằm thu hút sự
chú ý của địch để cho quân thuỷ của Lý Thƣờng Kiệt tấn công Châu Khâm,
Châu Liêm và Châu Ung.
Cuối năm 1076, quân Tống xâm lƣợc nƣớc ta, Thân Cảnh Phúc đóng
quân ở Động Giáp để khống chế hai ải hiểm là Quyết Lý và Giáp Khẩu.Trên
đƣờng phục binh từ Lạng Sơn về kinh, Thân Cảnh Phúc giao cho các thủ lĩnh
ngƣời dân tộc và các thỏ binh trực tiếp chỉ huy.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
38
39
nhân dân bày tỏ lòng yêu mến, sự thành kính đối với một con ngƣời đóng
Hơn nữa chiến công và đức độ của Vũ Thành không chỉ bó hẹp trong một địa
góp công lao trong việc đánh giặc ngoại xâm, đem lại thái bình cho quê
phƣơng mà nó còn mang ý nghĩa lớn lao đối với nhân dân cả vùng. Đây cũng
hƣơng.
là lý do để chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu truyền thuyết Vũ Thành và lễ hội
2.2. Truyền thuyết Vũ Thành và lễ hội Đền Hả
đền Hả trong môi trƣờng văn hoá Bắc Giang.
lớn hơn cả và mang nhiều bản sắc văn hoá Bắc Giang.
cũng để đƣợc vui chơi, giải trí chuẩn bị bƣớc vào những ngày tháng làm ăn
bận rộn.
Tìm hiểu truyền thuyết Vũ Thành, chúng tôi đặt nó trong không gian,
thời gian của vùng đất Bắc Giang và cụ thể là quê hƣơng Lục Ngạn.
Đặt truyền thuyết Vũ Thành và lễ hội đền Hả vào đời sống dân gian
Bắc Giang - Kinh Bắc xƣa mới thấy hết đƣợc nét đặc sắc văn hoá của lễ hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
40
41
- Truyện về bà hàng nƣớc quán Hả
Chƣơng II
TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN
VỀ NGƢỜI ANH HÙNG VŨ THÀNH
- Sự tích về thánh Vũ Thành (Vũ Công tôn thần sự tích)
yếu cho đặc trƣng truyền miệng của văn học dân gian, kéo theo đó là các dị
bản trong mỗi câu truyện. Xin đƣợc dẫn ra đây một số minh chứng tiêu biểu.
- Vũ Tỉnh và Từ Hả.
Ngoài ra, ở các cuốn Văn nghệ dân gian Bắc Giang (Tập II) [6], Lễ
hội Bắc Giang [75], Di tích Bắc Giang [8], Họ Thân trong lịch sử Việt
Nam [12] có đề cập đến vị trí của Vũ Thành trong lịch sử chống ngoại xâm
của dân tộc, lý giải mối quan hệ giữa Vũ Thành và Thân Cảnh Phúc, giới thiệu
về tên tuổi của Vũ Thành với đền Hả. Những ghi chép ở các cuốn sách trên là
nguồn tƣ liệu quá giá, cung cấp cho chúng tôi những nhận định bổ sung vào việc
lý giải vị trí của Vũ Thành trong lịch sử cũng nhƣ trong tâm linh ngƣời dân.
Thứ hai, chúng tôi tiến hành điền dã. Đối tƣợng tiếp cận chủ yếu của
chúng tôi là các bậc cao niên ở Hồng Giang, là cán bộ văn hoá của xã, là
những ngƣời trong ban quản lý di tích trên cơ sở điền dã, chúng tôi thu thập
Đầu tiên phải nói tới con ngựa trắng có khả năng chạy ngàn dặm của Vũ
Thành về nguồn gốc của nó đã có hai lời kể khác nhau trong truyện kiếm
thần, lời kể đƣợc thể hiện nhƣ sau: “Bỗng giặc Nguyên lấn cõi, Vũ Thành
đem kiếm về triều dâng vua”, vua mừng rỡ lấy làm đắc ý, trao kiếm lại cho
ông, thăng chức thƣợng tƣớng quân vua lại ban cho ông con ngựa trắng và
bảo rằng: “Con Bạch Mã này thƣờng ngày trong triều không ai cƣỡi đƣợc,
nay Thƣợng hoàng Tƣớng quân ra trận thử cƣỡi xem sao”.
Thƣợng tƣớng Vũ Thành đeo kiếm thần vào, bái mệnh vua khấn rằng:
“Thần vâng lệnh xuất chinh, nếu thần linh có tâm phù trợ xin cho con ngựa
này quỳ xuống tất sự Công thành”.
thêm đƣợc 9 truyện đó là:
- Con ngựa của tƣớng quân Vũ Thành
Cũng về cái chết của Vũ Thành, có bản lại nói thêm rằng khi thất trận
khẳng định đó là con ngựa hoang. Song cả hai lời kể lại có một điểm chung
về đến Lệ Kỳ, ông có gặp một lão ông ở làng Hả liền nói rõ mình sẽ chết, dân
đó là cùng nhấn mạnh tính chất bất kham của con ngựa khi chƣa gặp đƣợc
làng phải lập đền thờ mới tránh đƣợc dịch bệnh. Có bản lại nói sau khi hỏi bà
chủ để rồi làm nổi bật tài năng "Thuần phục" con chiến mã của Vũ Thành.
hàng nƣớc, đầu Vũ Thành tự dƣng bay lên trời rồi rơi xuống núi Lệ Kỳ, con
Với chi tiết này, cả ngƣời, cả ngựa đều đƣợc khắc hoạ dƣới góc nhìn lý tƣởng
ngựa mang xác Vũ Thành đi máu nhỏ ở đâu, sau ở đó lập đền thờ. Tổng cộng
hoá. Từ sự ngƣỡng mộ và biết ơn, nhân dân đã hƣ cấu, tƣởng tƣợng hình ảnh
từ Ải Xa Lý đến Phả Lại có tới 7 đền thờ ông [61, tr19] Trong cuốn địa chí
ngƣời anh hùng của họ có tầm vóc kỳ vĩ, có tài phi thƣờng bởi chỉ có những
Bắc Giang, tác giả Trịnh Nhƣ Tấu ghi lại rằng. Sau khi hỏi bà hàng nƣớc, Vũ
đấng anh hùng mới "thuần phục" đƣợc những con ngựa bất kham nhƣ thế.
Thành nói: “Ta chết, hồn ta vẫn còn mãi với non sông" rồi lên núi Lệ Kỳ mà
thân thuộc với mảnh đất nơi đây. Tƣơng truyền kỳ Lệ xƣa vốn là một nơi có
Thêm nữa, trong bản thần tích ghi rõ ông là tƣớng của triều Trần.
phong cảnh hữu tình đúng nhƣ tên gọi và địa linh sẽ muôn đời chở tre cho anh
Nhƣng có ý kiến cho rằng ông là tƣớng triều Lý. Lại có ý kiến cho rằng Vũ
kiệt và ngƣợc lại tên tuổi của ngƣời đã truyền cho mảnh đất sự linh thiêng.
Thành chính là Thân Cảnh Phúc.
Bởi vậy dù có sự tƣởng tƣợng theo bất kỳ hƣớng nào về cái chết của tƣớng
Bởi vậy xin đƣợc nhấn mạnh rằng. Vũ Thành là một nhân vật truyền
quân Vũ Thành thì hạt nhân tƣ tƣởng của mỗi câu chuyện vẫn là lòng biết ơn
thuyết đã đƣợc hƣ cấu đƣợc kết tinh và phản ánh hào quang của một sự thật
sự thành kính của nhân dân đối với ngƣời anh hùng và thêm một di bản mới,
lịch sử xảy ra ở khoảng thế kỷ XI hoặc XIII ở Lục Ngạn. Truyền thuyết
sự bất từ của đức thánh thêm một lần khẳng định.
không phải là một sự tái hiện lịch sử mà là một "Sự tái tạo lịch sử". Truyền
Thứ hai, khi tìm hiểu nội dung phản ánh của 11 truyện nêu trên, chúng
ghi "Đem cung nhân mua Lý Huệ Tông và các con gái thân thích họ Lý gả
lịch sử trong truyền thuyết tức là đã vô tình tƣớc đi phần hay nhất, đẹp nhất
cho tù trƣởng ngƣời Man" cũng không chính xác. Có lẽ 4 chị em họ Lý là
"Thơ và Mộng" nhất của một tác phẩm truyền thuyết dân gian. Chính trong
phần tƣởng chừng nhƣ phi lý có lúc đi ngƣợc lại quy luật tự nhiên ấy, ta thấy
dòng dõi tôn thất nhà Lý thì đúng hơn.
quan điểm lịch sử của nhân dân trong xã hội.
1.2. Miêu tả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên