ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN DUY PHƯƠNG
TRUYỀN THUYẾT VŨ THÀNH VÀ LỄ HỘI
ĐỀN HẢ LỤC NGẠN - BẮC GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ ANH TUẤN
THÁI NGUYÊN - 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC ẢNH
Ảnh 1. Sơ đồ khu di tích Đền Hả .................................................................. 111
Ảnh 2. Cổng Đền Hả ..................................................................................... 111
Ảnh 3. Toàn cảnh khu di tích Đền Hả ........................................................... 112
Ảnh 4. Đền Hả ............................................................................................... 112
Ảnh 5. Ban thờ trong đền Hả ........................................................................ 113
Ảnh 6. Ban thờ Vũ Thành (Thân Cảnh Phúc) ............................................... 113
Ảnh 7. Một trong 21 Sắc phong còn lưu giữ ............................................... 114
Ảnh 8. Bằng công nhân di tích lịch sử văn hoá Đền thờ Thân Cảnh Phúc... 114
Ảnh 9. GS. Phan Huy Lê và Đảng uỷ, UBND xã Hồng Giang, đại biểu hội
đồng thân tộc Việt Nam tại Đền Hả .................................................. 115
Ảnh 10. Nhân dân đến với lễ hội Đền Hả ..................................................... 115
Ảnh 11,12,13,14. Công tác chuẩn bị cho đoàn rước ............................ 116 - 117
Ảnh 15,16,17. Trên đường rước ra bãi Dược....................................... 118 - 119
Ảnh 18. Tế lễ tại bãi Dược ............................................................................ 119
Ảnh 19. Trò chơi dân gian ............................................................................ 120
Ảnh 20. Cây đa quán Hả ............................................................................... 120
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử của mỗi dân tộc luôn gắn liền với quá trình dựng nƣớc và
giữ nƣớc. Dân tộc Việt Nam trong dòng chảy 4000 năm đã từng đƣơng đầu
với bao thác ghềnh, chông gai bởi giặc ngoại xâm, bởi thiên tai địch hoạ để
rồi từ đó kết đọng lớp phù sa văn hoá với những nét tiêu biểu nhất đó là:
Truyền thống yêu nƣớc, tinh thần bất khuất với các tên tuổi còn lƣu danh và
trở thành bất tử. Để ghi nhớ công ơn của những vị anh hùng đã có công dựng
nƣớc và giữ nƣớc nhân dân ta không chỉ thêu dệt nên những truyền thuyết
mang nhiều yếu tố huyền thoại mà còn phong thần để thờ phụng, hàng năm
còn tổ chức lễ hội thể hiện lòng biết ơn đồng thời ôn lại truyền thống. Điều
này làm cho hình ảnh những anh hùng luôn toả sáng và sống mãi trong lòng
nhân dân qua bao thế hệ.
Do vậy, nghiên cứu truyền thuyết về ngƣời anh hùng chống giặc ngoại
xâm kết hợp với việc tìm hiểu lễ hội để tƣởng niệm họ là công việc vừa có ý
nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong việc làm sáng tỏ hơn bản chất
của thể loại truyền thuyết trong văn học dân gian Việt Nam.
1.2. Vũ Thành - sinh ra và lớn lên trên quê hƣơng Lục Ngạn- Bắc
Giang. Giặc phƣơng Bắc xâm lƣợc, vốn có lòng yêu nƣớc, căm thù giặc sâu
sắc, Vũ Thành đã góp sức mình cùng dân tộc đánh giặc, lập lên những chiến
công vang dậy. Công lao và đức độ của ông đƣợc nhân dân ghi nhớ, truyền
tụng thể hiện qua việc lập ngôi đền với tên gọi là đền Hả ở xã Hồng Giang-
huyện Lục Ngạn- tỉnh Bắc Giang. Hàng năm, nhân dân tổ chức lễ hội để ghi
nhớ những chiến công cùng đức độ của ông, nhắc nhở các thế hệ con cháu
lòng biết ơn, tiếp nối truyền thống của cha ông. Câu chuyện về con ngƣời này
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Theo đó, từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, có một hƣớng
nghiên cứu mới đƣợc triển khai, bƣớc đầu đã có những thành tựu đáng kể. Đó
là nghiên cứu thể loại truyền thuyết trong mối quan hệ với lễ hội ở nhiều địa
phƣơng, nhiều vùng văn hoá khác nhau trên phạm vi cả nƣớc. Hƣớng nghiên
cứu này vừa phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn, vừa phù hợp với đặc điểm của
văn học dân gian dân tộc, một nền văn học mà truyền thuyết là thể loại đặc
biệt phong phú nhƣng còn ít đƣợc nghiên cứu.
Vì những điều trên, ngƣời viết với đề tài về truyền thuyết Vũ Thành và
lễ hội đền Hả mong muốn đƣợc góp sức mình vào việc bảo tồn và lƣu giữ bản
sắc dân tộc. Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay khi lễ hội cổ truyền Việt Nam
đang ngày càng lôi cuốn nhiều tầng lớp nhân dân tham gia thì một vấn đề đặt
ra là: Cần tổ chức và tham gia lễ hội nhƣ thế nào cho đúng với ý nghĩa của
loại hình sinh hoạt văn hoá truyền thống này? Ta cần phải có một cái nhìn học
thuật để sao cho vừa có sự kế thừa, vừa phát triển mà vẫn giữ đƣợc bản sắc
văn hoá truyền thống của dân tộc. Tìm hiểu truyền thuyết và lễ hội về ngƣời
anh hùng Vũ Thành giúp chúng ta thêm một lần nữa hiểu sâu về văn học dân
gian nói chung và truyền thuyết nói riêng của dân tộc, vừa là một hiện tƣợng
văn học vừa là một hiện tƣợng văn hoá.
Là một giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy bộ môn văn học nói
chung trong đó có văn học dân gian, việc nghiên cứu về truyền thuyết Vũ
Thành cùng với lễ hội đền Hả là cơ hội để ngƣời viết tích luỹ kiến thức về kho
tàng truyền thuyết từ đó bồi đắp cho học sinh lòng tự hào về truyền thống quý
báu của dân tộc, khơi dạy trong các em ý thức về việc gìn giữ, bảo tồn và
phát huy văn hoá dân tộc .
Trên đây là tất cả những lý do khiến ngƣời viết chọn đề tài "Truyền
thuyết Vũ Thành và lễ hội đền Hả - Lục Ngạn-Bắc Giang".
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
mối quan hệ giữa thần thoại, truyền thuyết và lễ hội. “thần thoại, truyền
thuyết lưu truyền bằng miệng trong dân gian đã được tái hiện cụ thể và sinh
động trước nhân dân qua nghệ thuật diễn xướng hỗn hợp [83, tr98].
Năm 1974 trong Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, tác
giả Cao Huy Đỉnh có chƣơng “ Dòng tự sự lịch sử với nền độc lập nước nhà
và những gương công đức tài tử An Dương Vương đến đầu Lê" [20] viết về
truyền thuyết. Mặc dù ông mới đi vào phân tích những tác phẩm cụ thể
nhƣng ngƣời đọc cũng tiếp thu đƣợc nhiều kiến thức quý báu về lý luận;
những gợi ý về diện mạo chung của thể loại này.
Trong bài viết Truyền thuyết dân gian với tâm lý cộng đồng người
Việt đăng trên tạp chí văn học số 2/1982, tác giả Bùi Quang Thanh cho rằng:
"Cũng từ miếng đất hội làng, tác giả góp phần thiết thực thức tỉnh niềm đam
mê mất nước, nỗi nhục nô lệ, ý thức về sự thống nhất như một lẽ sống còn, ý
thức thà chết chứ không cam chịu sống quì cho người Việt Nam trên các
chặng đường lịch sử" [61, tr68].
Đầu những năm 90, khi cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam
của Đại học Tổng hợp đƣợc viết lại, tác giả Lê Chí Quế đã dành một chƣơng
viết về truyền thuyết. Trong đó, tác giả đã vẽ lên bộ mặt của thể loại truyền
thuyết trên cái khung là định nghĩa, phân loại, phân tích dẫn chứng.
Năm1991, trong bài Bàn thêm về thể loại truyền thuyết tác giả
Chiêng Xom An điểm một loạt các định nghĩa trong sự phân tích có phê
phán, từ đó đƣa ra một quan niệm mới về truyền thuyết, coi truyền thuyết là
một tập hợp những truyện tích ngắn gọn để bổ sung , hỗ trợ cho thần thoại,
cổ tích nào đó [2].
Trong bài viết Nghiên cứu truyền thuyết- những vấn đề đặt ra , tác
giả Trần Thị An đã đƣa ra quan điểm lịch sử nghiên cứu truyền thuyết và
đƣa ra một số vấn đề cơ bản của thể loại đang đƣợc đặt ra và cần giải quyết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
tầm, biên soạn, giới thiệu nghiên cứu nó thì chƣa đƣợc tiến hành trên phạm vi
rộng. Có thể điểm qua một số tác phẩm tiêu biểu:
Năm 2005, trong cuốn "Văn nghệ Bắc Giang" tập I, tác giả Nguyễn
Đình Bƣu đã chỉ ra một cách cụ thể, chân thực về số lƣợng các di tích gắn liền
với tên tuổi nhân vật lịch sử đƣợc tái tạo qua truyền thuyết. Đồng thời tác giả
cũng đi vào trình bày một cách chi tiết nội dung, giá trị của một số truyền
thuyết lịch sử tiêu biểu trên địa bàn tỉnh. Có thể nói, bài viết của tác giả
Nguyễn Đình Bƣu hết sức có giá trị với việc lƣu truyền, bảo tồn vốn truyền
thuyết Bắc Giang.
Ngoài ra, trong cuốn "Địa chí - Bắc Giang" (2005), các tác giả đã sƣu
tầm đƣợc 10 truyền thuyết điển hình của quê hƣơng nhƣ: Truyền thuyết Cao
Sơn- Quý Minh, truyền thuyết Hùng Linh, truyền thuyết Thân Cảnh Phúc.
2.2. Lịch sử sƣu tầm, nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội về Vũ Thành
Trong cuốn Hội Từ Hả do UBND huyện Lục Ngạn biên soạn và xuất
bản (1985) các tác giả đã trình bày ba nội dung chính: Thần tích Vũ Thành, đền
Hả và một số di tích về Vũ Thành, Hội đền Hả. Về nhân vật Vũ Thành, cuốn
sách đã chỉ rõ. “Ông sinh ra và lớn lên ở mảnh đất Lục Ngạn” [64, tr13] là con
trai của tả bộc xạ Vũ Tỉnh và Thái trƣởng công chúa triều Lý Huệ Tông - Lý
Thị Cảnh. Bƣớc vào tuổi 17, 18 đất nƣớc ta bị quân Nguyên Mông xâm lƣợc
lần thứ nhất. Vũ Thành xin vua Trần đi đầu quân dẹp giặc, trải qua 10 trận
đánh, ông đã lập lên nhiều chiến công vang dội, nhất là những trận phía sau
lƣng địch. Nhƣ vậy, theo cuốn sách, nhân vật lịch sử Vũ Thành sống vào thời
Lý - Trần. Cùng với thần tích Vũ Thành, cuốn sách đã trình bày khá chi tiết
và kỹ lƣỡng về di tích lịch sử đền Hả, nơi thờ Đức Thánh Vũ Thành và những
đặc điểm về lễ hội Đền Hả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tác giả đã trình bày khá chi tiết về lễ hội đền Hả, từ thời gian tổ chức đến các
thành phần tham gia [73].
Trong cuốn Văn nghệ dân gian Bắc Giang - Hội VHNT Bắc Giang (2005)
có bài viết Truyền thuyết lịch sử của tác giả Nguyễn Đình Bƣu. Tác giả giới
thiệu khái quát về mối liên hệ giữa nhân vật lịch sử Vũ Thành và lễ hội Đền
Hả. Theo tác giả, Vũ Thành là một vị tƣớng nhà Lý đã có công dẹp giặc
Phƣơng Bắc (giặc Tống). Ngoài ra, qua sự thất trận của Vũ Thành, tác giả đã
đề cập đến tinh thần dân tộc " truyền thống nêu cao tinh thần chiến đấu và
chiến công của Vũ Thành bằng cách lý giải vì sao Vũ Thành thua trận và chỉ
khi nào mới chịu chết. Dường như các tác giả dân gian muốn lý giải mối
quan hệ giữa việc nhà, việc nước " [9, tr20]. Nhƣ vậy, trong bài viết, tác giả
Nguyễn Đình Bƣu cũng đã tiếp cận vấn đề trên góc độ soi chiếu của văn học
dân gian.
Nhƣ vậy vấn đề nghiên cứu truyền thuyết Vũ Thành (tức Thân Cảnh
Phúc) và mối quan hệ giữa các truyền thuyết với lễ hội đền Hả là chƣa từng
đƣợc nghiên cứu một cách hệ thống. Đề tài này sẽ phát triển kết quả của các
công trình nghiên cứu trƣớc đó và mở rộng thêm tầm giá trị của truyền thuyết.
3. MỤC ĐÍCH NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích
Mục đích chính là thực hành khoa học, vận dụng lý thuyết chuyên
ngành vào nghiên cứu một trƣờng hợp cụ thể, củng cố, nâng cao kiến thức và
phƣơng pháp nghiên cứu.
Khảo tả lễ hội từ điểm nhìn truyền thuyết để làm sáng tỏ mối quan hệ
truyền thuyết và lễ hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Luận văn đƣa ra cái nhìn toàn diện về nhân vật từ góc độ văn học dân
gian, đồng thời chỉ ra mối liên hệ giữa truyền thuyết Vũ Thành và lễ hội này.
Qua đó, đƣa ra một căn cứ bổ sung để cho chính quyền cũng nhƣ nhân dân
qua các mô típ cơ bản. Đồng thời, để làm đƣợc điều này, theo đặc trƣng thể
loại truyền thuyết luận văn khảo tả chi tiết lễ hội tƣởng niệm Vũ Thành ở đền
Hả xã Hồng Giang - Lục Ngạn - Bắc Giang.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng một số phƣơng
pháp để triển khai các vấn đề nhƣ sau.
5.1. Phƣơng pháp thống kê
+ Dùng để tập hợp các bản kể Truyền thuyết Vũ Thành.
+ Xác định số lƣợng các mô típ, các tình tiết của cốt truyện để rút ra
nhận xét thông qua những con số cụ thể.
5.2. Phƣơng pháp điền dã
+ Trực tiếp gặp gỡ và trao đổi với các cụ già thƣờng xuyên đến lễ ở đền.
+ Đến xóm làng, khu phố để tìm hiểu qua các cụ cao niên
+ Trực tiếp dự lễ hội để có thể tƣờng trình, mô tả diễn biến, những nét
riêng của lễ hội Vũ Thành ở đền Hả.
5.3. Phƣơng pháp tiếp cận hệ thống
Xem xét truyền thuyết Vũ Thành là một hệ thống các bản kể.
+ Đặt các bản kể trong sự đối sánh với nhau và cả hệ thống văn hoá dân
gian Lục Ngạn, giải quyết vấn đề theo một cái nhìn lịch sử (từ Vũ Thành đến
Thân Cảnh Phúc).
5.4. Phƣơng pháp so sánh loại hình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
+ Thông qua sự phân tích cấu trúc của các bản kể, chúng tôi so sánh từng
đơn vị bản kể để tìm ra các mô tip khác nhau. Từ đó chúng tôi sẽ tìm hiểu ý
nghĩa từng mô típ.
5.5. Phƣơng pháp liên ngành
Do văn hoá dân gian nói chung truyền thuyết nói riêng có đặc trƣng là
tính nguyên hợp, tính chất sinh hoạt thực hành nên khi tiến hành đề tài này
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng I
VĂN HOÁ DÂN GIAN LỤC NGẠN - CÁI NÔI CỦA TRUYỀN
THUYẾT VŨ THÀNH VÀ LỄ HỘI ĐỀN HẢ
1. KHÁI QUÁT VỀ VĂN HOÁ LỤC NGẠN - BẮC GIANG
1.1. Quan niệm về vùng văn hoá
Vùng văn hoá là hiện tƣợng xã hội - lịch sử đƣợc các nhà văn hoá học
nghiên cứu và phân định. Trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của
mỗi nền văn hoá của một quốc gia hay một cộng đồng dân tộc, thƣờng đƣợc
hợp thành bởi các vùng văn hoá với những đặc trƣng, sắc thái riêng làm thành
tính thống nhất và đa dạng của các nền văn hoá.
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và đa vùng miền, Kết quả nghiên cứu
của các nhà lịch sử và văn hoá học Việt Nam đã phân chia nƣớc ta có khoảng
từ 6 đến 9 vùng văn hoá, với những đặc trƣng và sắc thái riêng, làm thành tính
thống nhất, đa dạng và phong phú của văn hoá Việt Nam. Trong các vùng văn
hoá lại phân chia thành các tiểu vùng. Nhƣ vậy, việc phân vùng văn hoá
không căn cứ và tuỳ thuộc vào đơn vị hành chính hiện tại, mà căn cứ vào quá
trình hình thành các vùng không gian văn hoá do những đặc điểm địa lý và
điều kiện lịch sử xã hội cụ thể của mỗi vùng đã hình thành nên các vùng văn
hoá với những đặc trƣng và sắc thái riêng đƣợc phản ánh ở các lĩnh vực văn
dân tộc cũng chính là sự thăng hoa của văn hoá vùng Bắc Giang. Làm nên nét
đặc trƣng cho văn hoá nơi đây trƣớc hết phải kể đến yếu tố tạo nên điều kiện
tự nhiên.
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Bắc Giang là vùng đất phía Đông Bắc của Kinh Bắc, tiếp giáp với xứ
Lạng, vừa có đồng bằng, đồi gò và núi rừng xen lẫn, khe động hiểm trở. Nhƣ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
học giả Phan Huy Chú từng đánh giá" Phong cảnh thì phủ Bắc Hà, phủ Lạng
Giang đẹp hơn"[18, tr44].
Và khi Nguyễn Trãi ghi "Kinh Bắc là Trấn thứ tư trong bốn kinh trấn
và là đứng đầu phên dậu phía Bắc" [18, tr44] thì thực chất là đánh giá vai trò
phên dậu trƣớc hết thuộc địa phận Bắc Giang hiện nay, nơi diễn ra các trận
đánh của nhân dân ta trƣớc các thế lực xâm lƣợc phƣơng Bắc và thổ phỉ thời
cận hiện đại.
Lục Ngạn là một huyện miền núi của Bắc Giang vì thế điều kiện tự
nhiên ở đây mang những đặc điểm của địa lý cảnh quan Bắc Giang.
Lục Ngạn là một huyện miền núi có diện tích tự nhiên là 1.011km
2
, dân
số hơn 20 vạn ngƣời, với 8 thành phần dân tộc chủ yếu là: Kinh, Nùng, Tày,
Cao Lan, Sán Chí, Sán Dìu, Hoa và Dao sinh sống đan xen trong các làng
bản, tạo nên sự giao thoa văn hóa đặc sắc mà ít nơi nào có đƣợc.
Vùng đất Lục Ngạn xƣa có con đƣờng chiến lƣợc từ đệ tứ chiến khu
chạy qua xã Quý Sơn đến Đồng Giao, sang Mịn Con, Sây To, Hồ Sen đi qua
Kiên Lao đến Đông Triều - Quảng Ninh nơi có dòng sông Lục chạy qua tạo
điều kiện cho việc phát triển kinh tế văn hoá của cả vùng.
Huyện Lục Ngạn cũng là vùng đất có nhiều danh lam thắng cảnh có
thể tạo nên những điểm tham quan du lịch hấp dẫn cho những ai muốn tìm
dãy thành luỹ đất chắn ngang. Thành này đƣợc nhà Mạc bồi đắp cao to đồ sộ
nên dân địa phƣơng vẫn gọi đó là thành Nhà Mạc. Dƣới chân thành có con
suối từ Bảo Đài chảy về Sông Lục Nam mang tên suối ải. Khu vực ải giáp bờ
sông, có làng Ải, làng Bòng của xã Phƣợng Sơn. Làng Bòng lại có cánh đồng
kề quan ải vì thế mà ải có tên là Nội Bàng hay Nội Bòng. Đây là nơi ngƣời
dân trong các làng xã thờ các vị phò mã nhƣ Giáp Thừa Quý, Thân Thiệu
Thái, Thân Cảnh Phúc và các công chúa nhà Lý. Ở địa điểm này đã phát hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
ra gạch ngói có hoa văn dây cúc từ thời Lý - Trần. Khi khai quật đã phát hiện
dấu tích nhƣ Hoàng Thành Thăng Long. Trong cuộc kháng chiến chống xâm
lƣợc Nguyên Mông Trần Hƣng Đạo đã cho xây dựng phòng Tuyến xa Lý -
Nội Hoàng và đặt đại bản doanh ở Nội Bàng.
Ải Xa Lý còn có tên là ải Khả Lý nằm trên con đƣờng mòn từ Xa Lý
sang đất Lộc Bình- Lạng Sơn. Từ đây có thể xuống thung lũng sông Lục Nam
để về Kinh Bắc xƣa theo con đƣờng Xa Lý- Kim Sơn-Biển Động- Chũ. Ải
này nằm trên eo của núi Ải, đoạn thắt lại rất hiểm trở nên thƣờng gọi là đèo
Ải. Đèo có độ cao khoảng 500m. Trong khe Ải có suối chảy vào sông Xa Lý.
Sông này chảy quanh co qua Cooc Nhi, Cooc Vặn, rồi nhập vào sông Lục
Nam ở khu vực bản động. Đỉnh đèo là cửa ải Xa Lý. Đứng ở đây có thể quan
sát đƣợc đất Lộc Bình và cả vùng đất Lục Ngạn. ở khu vực đỉnh đèo Ải có
đắp luỹ đất. Lũy cao chừng 4 m chân rộng tới hơn 20 m. Luỹ ăn sát vào vách
núi, ở giữa có lối ra vào do đèo cao, lối đứng, đƣờng xá đi lại khó khăn, lại
mắc luỹ chắn nên việc ra vào ải càng khó. Con sông xa Lý đƣợc khởi nguồn
từ các suối nhỏ trong dãy núi Thái Hoà, tạo ra nguồn chính bắt đầu từ Bản
Đồn, núi Ải từ đó chảy qua làng Mòng, làng Xé, Cooc Nhi, Cooc Vặn rồi đổ
vào đất Khuôn vi và rộng dần ra, sau chảy vào đất Động bản (Biển động) rồi
đổ vào sông Lục Nam ở khu vực Cẩm Đàn, Phú Nhuận. Lòng sông này có
nhiều loại cuội đá kết màu sắc vân rất đẹp. Dọc theo đôi bờ sông có nhiều
Nhƣ vậy, có thể nói, điều kiện tự nhiên đã góp phần vào sự ra đời của
hệ thống truyền thuyết dân gian ở vùng đất phía Đông Bắc tổ quốc.
1.2.2. Điều kiện lịch sử
Vũ Thành là ngƣời anh hùng địa phƣơng. Trong quá trình lƣu truyền
tên tuổi ông đã mở rộng nhƣ anh hùng dân tộc. Đƣợc sinh thành bảo lƣu và
phát triển chủ yếu là ở quê hƣơng Lục Ngạn nhƣng truyền thuyết và lễ hội Vũ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
Thành vẫn mang những nét chung từ đặc điểm truyền thuyết và lễ hội Bắc
Giang, mở rộng ra là ảnh hƣởng của văn hoá Kinh Bắc. Vì vậy, khi nghiên
cứu về điều kiện lịch sử tác động đến đối tƣợng nghiên cứu của luận văn,
chúng tôi nhận thấy, trƣớc hết cần khảo sát từ lịch sử quê hƣơng Bắc Giang,
thứ đến là lịch sử của mảnh đất Lục Ngạn, cái nôi của truyền thuyết Vũ
Thành.
Nằm ở vị trí phía Bắc của tổ quốc, Bắc Giang là một miền đất cổ , ngay
từ buổi bình minh của lịch sử, đã có nhiều gắn bó với các miền đất khác trong
cả nƣớc.
Các di chỉ khảo cổ học nổi tiếng nhƣ di tích văn hoá Sơn Vi (đồ đá cũ)
phát hiện đƣợc ở Bố Hạ, Chũ, An Châu, Khe Tám (có niên đại cách ngày nay
khoảng 20 nghìn năm), các di chỉ văn hoá Phùng Nguyên (Sơ kỳ đồ đồng)
phát hiện ở Xuân Lƣơng Bố Hạ (Yên Thế), Tiên Sơn (Việt Yên)... đã chứng
minh sự có mặt của con ngƣời từ thời tiền sử sơ sử trên mảnh đất Bắc Giang.
Cho đến nay, tiền sử Bắc Giang đƣợc biết sớm nhất là ở các địa điểm
thuộc văn hoá Sơn Vi (Cách ngày nay khoảng 1-2 vạn năm). Con ngƣời xuất
hiện thời kỳ này, chủ yếu sinh sống ở miền đồi gò thấp ven Sông Thƣơng,
sông Lục Nam thuộc Yên thế, Lục Nam, Lục Ngạn. Công cụ của họ là những
cành cây mũi nhọn dùng để săn bắn thú rừng và làm nơi cƣ trú. Tuy nhiên, nó
sẽ biết chế tạo công cụ cuội, biết chọn công cụ cuội là một sáng tạo, nó sẽ tiến
tới và phát huy truyền thống sử dụng đá cuội vào các thời đại sau này.