TRUYỀN THUYẾT VŨ THÀNH VÀ LỄ HỘI ĐỀN HẢ LỤC NGẠN - BẮC GIANG - Pdf 41

Header Page 1 of 166.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN DUY PHƯƠNG

TRUYỀN THUYẾT VŨ THÀNH VÀ LỄ HỘI
ĐỀN HẢ LỤC NGẠN - BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

THÁI NGUYÊN - 2008

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN DUY PHƯƠNG

TRUYỀN THUYẾT VŨ THÀNH VÀ LỄ HỘI
ĐỀN HẢ LỤC NGẠN - BẮC GIANG
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ ANH TUẤN

Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Header Page 4 of 166.

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực
hiện cùng với sự cộng tác giúp đỡ của PGS. TS. Vũ Anh Tuấn và các đồng
nghiệp. Các số liệu, hình ảnh và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa
từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác. Mọi sự giúp đỡ cho
việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận
văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Trần Duy Phương

Footer Page
166.
Số hóa4
bởiof
Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Header Page 5 of 166.



PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1. Lịch sử của mỗi dân tộc luôn gắn liền với quá trình dựng nƣớc và
giữ nƣớc. Dân tộc Việt Nam trong dòng chảy 4000 năm đã từng đƣơng đầu
với bao thác ghềnh, chông gai bởi giặc ngoại xâm, bởi thiên tai địch hoạ để
rồi từ đó kết đọng lớp phù sa văn hoá với những nét tiêu biểu nhất đó là:
Truyền thống yêu nƣớc, tinh thần bất khuất với các tên tuổi còn lƣu danh và
trở thành bất tử. Để ghi nhớ công ơn của những vị anh hùng đã có công dựng
nƣớc và giữ nƣớc nhân dân ta không chỉ thêu dệt nên những truyền thuyết
mang nhiều yếu tố huyền thoại mà còn phong thần để thờ phụng, hàng năm
còn tổ chức lễ hội thể hiện lòng biết ơn đồng thời ôn lại truyền thống. Điều
này làm cho hình ảnh những anh hùng luôn toả sáng và sống mãi trong lòng
nhân dân qua bao thế hệ.
Do vậy, nghiên cứu truyền thuyết về ngƣời anh hùng chống giặc ngoại
xâm kết hợp với việc tìm hiểu lễ hội để tƣởng niệm họ là công việc vừa có ý
nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong việc làm sáng tỏ hơn bản chất
của thể loại truyền thuyết trong văn học dân gian Việt Nam.
1.2. Vũ Thành - sinh ra và lớn lên trên quê hƣơng Lục Ngạn- Bắc
Giang. Giặc phƣơng Bắc xâm lƣợc, vốn có lòng yêu nƣớc, căm thù giặc sâu
sắc, Vũ Thành đã góp sức mình cùng dân tộc đánh giặc, lập lên những chiến
công vang dậy. Công lao và đức độ của ông đƣợc nhân dân ghi nhớ, truyền
tụng thể hiện qua việc lập ngôi đền với tên gọi là đền Hả ở xã Hồng Gianghuyện Lục Ngạn- tỉnh Bắc Giang. Hàng năm, nhân dân tổ chức lễ hội để ghi
nhớ những chiến công cùng đức độ của ông, nhắc nhở các thế hệ con cháu
lòng biết ơn, tiếp nối truyền thống của cha ông. Câu chuyện về con ngƣời này
trong tiềm thức của nhân dân trở thành ngƣời anh hùng có công trong việc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


có thời kỳ, do những quan điểm lệch lạc, nhiều giá trị văn hoá cổ truyền của dân
tộc bị phá bỏ, nhiều công trình văn hoá bị đánh mất. Những năm gần đây Đảng
và Nhà nƣớc ta đã chú trọng khôi phục, phát triển những giá trị văn hoá ấy. Đặc
biệt, từ Đại hội Đảng VI ( từ 1986 đến nay) với tinh thần đổi mới, văn hoá đƣợc
nhìn nhận lại, nhiều đền đài, miếu mạo, chùa chiền...đƣợc phục chế, hội hè đƣợc
khôi phục và trong đó phải kể đến lễ hội đền Hả ở Lục Ngạn - Bắc Giang.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 7 of 166.




Header Page 8 of 166.

3

Theo đó, từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, có một hƣớng
nghiên cứu mới đƣợc triển khai, bƣớc đầu đã có những thành tựu đáng kể. Đó
là nghiên cứu thể loại truyền thuyết trong mối quan hệ với lễ hội ở nhiều địa
phƣơng, nhiều vùng văn hoá khác nhau trên phạm vi cả nƣớc. Hƣớng nghiên
cứu này vừa phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn, vừa phù hợp với đặc điểm của
văn học dân gian dân tộc, một nền văn học mà truyền thuyết là thể loại đặc
biệt phong phú nhƣng còn ít đƣợc nghiên cứu.
Vì những điều trên, ngƣời viết với đề tài về truyền thuyết Vũ Thành và
lễ hội đền Hả mong muốn đƣợc góp sức mình vào việc bảo tồn và lƣu giữ bản
sắc dân tộc. Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay khi lễ hội cổ truyền Việt Nam
đang ngày càng lôi cuốn nhiều tầng lớp nhân dân tham gia thì một vấn đề đặt
ra là: Cần tổ chức và tham gia lễ hội nhƣ thế nào cho đúng với ý nghĩa của

muộn, vào giữa thế kỷ XX.
Năm 1961, trong bộ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của trƣờng
ĐHSP HN tác giả Đỗ Bình Trị thừa nhận truyền thuyết là một thể loại và đƣa
ra định nghĩa về truyền thuyết. "Truyền thuyết là những truyện có dính líu đến
lịch sử mà lại có sự kỳ diệu - là lịch sử hoang đường" [71].
Trên tạp chí Nghiên cứu văn học từ 1960-1965 có đăng tải cuộc
tranh luận sôi nổi về truyền thuyết Mị Châu-Trọng Thuỷ. Điều mà các tác
giả bàn đến ở đây là những vấn đề mà truyền thuyết này đã đặt ra và còn
nhiều tranh cãi.
Báo nhân dân số 549 ngày 29-4-1969 có đăng bài viết Nhân ngày giỗ
tổ Vua Hùng của cố thủ tƣớng Phạm Văn Đồng. Bài báo đã nêu ra vấn đề
mấu chốt của truyền thuyết là mối quan hệ giữa lịch sử và truyền thuyết.
Năm 1971, công trình Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình
tự sự dân gian Việt Nam Tập trung những bài nghiên cứu về truyền thuyết đã
xuất bản. Các tác giả Nguyễn Ngọc Côn, Tầm Vu, Phan Trần, Đinh Gia
Khánh và Kiều Thu Hoạch đã có những đóng góp lớn trong đó đáng chú ý là
Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến của tác giả Kiều Thu
Hoạch. Ông đƣa ra định nghĩa và phân loại truyền thuyết, đồng thời đƣa ra
những cái nhìn tổng quát và những kiến giải sâu sắc về bản chất thể loại. Ông
nhận xét có thể nói lễ hội là một bộ phận hữu cơ không thể thiếu được của
truyền thuyết anh hùng Việt nam... chính nhờ những lễ hội mà truyền thuyết
anh hùng có dịp được nhắc nhở và đi sâu vào ký ức của nhân dân [25, tr 220].
Năm 1973 trong bài Tìm hiểu quan hệ giữa thần thoại, truyền thuyết
và diễn xướng tín ngưỡng phong tục tác giả Nguyễn Khắc Xƣơng nêu lên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 9 of 166.



- Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều coi truyền thuyết là một thể loại
riêng của văn học dân gian. Trên cơ sở đó, đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề
đặc trƣng nội dung, đặc điểm thi pháp.
- Có hai hƣớng nghiên cứu: Thứ nhất, nghiên cứu trên và bằng văn
bản, thứ hai, nghiên cứu truyền thuyết gắn liền với diễn xƣớng của nó mà
cụ thể là lễ hội. Không thể phủ định những thành tựu của hƣớng nghiên
cứu thứ nhất bởi những đóng góp quan trọng đã đƣợc giới nghiên cứu thừa
nhận. Nhƣng rõ ràng hƣớng nghiên cứu thứ hai ngày càng chiếm ƣu thế
hơn vì ƣu điểm của nó trong tiếp cận truyền thuyết, tiếp cận từ đặc trƣng
nguyên hợp của văn học dân gian.
Truyền thuyết lịch sử về ngƣời anh hùng chống giặc ngoại xâm, anh
hùng văn hoá trên địa bàn tỉnh Bắc Giang rất phong phú. Tuy nhiên, việc sƣu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 11 of 166.




Header Page 12 of 166.

7

tầm, biên soạn, giới thiệu nghiên cứu nó thì chƣa đƣợc tiến hành trên phạm vi
rộng. Có thể điểm qua một số tác phẩm tiêu biểu:
Năm 2005, trong cuốn "Văn nghệ Bắc Giang" tập I, tác giả Nguyễn
Đình Bƣu đã chỉ ra một cách cụ thể, chân thực về số lƣợng các di tích gắn liền
với tên tuổi nhân vật lịch sử đƣợc tái tạo qua truyền thuyết. Đồng thời tác giả
cũng đi vào trình bày một cách chi tiết nội dung, giá trị của một số truyền


Cuốn Lý lịch di tích đền Hả - Bảo tàng Hà Bắc-1990 tập trung đề cập
đến di tích đền Hả, nơi thờ đức thánh Vũ Thành trên các phƣơng diện, tên gọi,
đƣờng đi đến và sự phân bố di tích, sự kiện lịch sử và ngƣời đƣợc thờ ở đền,
loại hình di tích và các nhân vật, tài liệu trong di tích đền Hả. Qua đó tác giả
cuốn sách đề ra phƣơng án bảo vệ và sử dụng di tích. Trong cuốn sách này tác
giả đã đƣa ra một nhận định rất quan trọng: Vũ Thành ngƣời đƣợc thờ trong
di tích thực chất là Thân Cảnh Phúc. Phát hiện trên có ý nghĩa rất lớn trong
việc tìm hiểu về con ngƣời và cuộc đời cũng nhƣ ý nghĩa của di tích.
Cuốn Di tích Bắc Giang - Nguyễn Xuân Cần- ĐH SPHN, 2001 giới
thiệu khái quát về di tích đền Hả từ địa lý, lịch sử, ngƣời đƣợc thờ... theo tác
giả, di tích đƣợc xây dựng từ thời Lý - Trần, ngôi đền thờ tƣớng công Vũ
Thành cùng 6 nhân vật.
+ Thành phụ: Thần thân tƣớng quốc vƣơng thái truyền tả bộc xạ Vũ
Tỉnh.
+ Thánh mẫu: Quốc mẫu Thiên Thành, Thái Đƣờng, Thái trƣởng Lý
Thị Cảnh.
+ Thánh di: Thuỵ thiên công chúa, Bình Dƣơng công chúa, Yên Hoa
công chúa.
+ Thánh phi: Giáp Thị Tuấn [11, tr34].
- Trong bài viết Bảo tồn di sản văn hoá lễ hội ở Bắc Giang của Tiến
sỹ Bùi Văn Thành (Trích trong cuốn văn hoá Bắc Giang, 2002), tác giả mới
chỉ giới thiệu sơ lƣợc về lễ hội đền Hả (Hồng Giang-Lục Ngạn - Bắc Giang)
với những nghi thức trong phần lễ và phần hội. Bài viết thiên về góc độ văn
hoá của di tích nhiều hơn là xét về lịch sử. Qua đó đóng góp tiếng nói vào
việc bảo tồn di sản văn hoá dân tộc [62].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 13 of 166.

ngành vào nghiên cứu một trƣờng hợp cụ thể, củng cố, nâng cao kiến thức và
phƣơng pháp nghiên cứu.
Khảo tả lễ hội từ điểm nhìn truyền thuyết để làm sáng tỏ mối quan hệ
truyền thuyết và lễ hội.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 14 of 166.




Header Page 15 of 166.

10

Luận văn đƣa ra cái nhìn toàn diện về nhân vật từ góc độ văn học dân
gian, đồng thời chỉ ra mối liên hệ giữa truyền thuyết Vũ Thành và lễ hội này.
Qua đó, đƣa ra một căn cứ bổ sung để cho chính quyền cũng nhƣ nhân dân
trong vùng thấy đƣợc giá trị của di tích từ đó có biện pháp bảo tồn và phát
triển những nét đẹp văn hoá của quê hƣơng.
3.2. Nhiệm vụ
Giới thiệu khái quát vùng đất Bắc Giang, truyền thuyết về Vũ Thành
trên quê hƣơng Bắc Giang. Trên cơ sở đó khẳng định Bắc Giang là một vùng
văn hoá lịch sử còn lƣu giữ dấu ấn tên tuổi ngƣời anh hùng Vũ Thành.
Thu thập tƣ liệu, tạo dựng một cách có hệ thống truyền thuyết Vũ
Thành, khảo sát đặc điểm, nội dung và các mô tip cơ bản của hệ thống truyền
thuyết đó.
Mô tả chi tiết, cụ thể lễ hội đền Hả để chỉ ra mối quan hệ giữa truyền
thuyết và lễ hội cũng nhƣ nét riêng của lễ hội này.

Hả xã Hồng Giang - Lục Ngạn - Bắc Giang.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng một số phƣơng
pháp để triển khai các vấn đề nhƣ sau.
5.1. Phƣơng pháp thống kê
+ Dùng để tập hợp các bản kể Truyền thuyết Vũ Thành.
+ Xác định số lƣợng các mô típ, các tình tiết của cốt truyện để rút ra
nhận xét thông qua những con số cụ thể.
5.2. Phƣơng pháp điền dã
+ Trực tiếp gặp gỡ và trao đổi với các cụ già thƣờng xuyên đến lễ ở đền.
+ Đến xóm làng, khu phố để tìm hiểu qua các cụ cao niên
+ Trực tiếp dự lễ hội để có thể tƣờng trình, mô tả diễn biến, những nét
riêng của lễ hội Vũ Thành ở đền Hả.
5.3. Phƣơng pháp tiếp cận hệ thống
Xem xét truyền thuyết Vũ Thành là một hệ thống các bản kể.
+ Đặt các bản kể trong sự đối sánh với nhau và cả hệ thống văn hoá dân
gian Lục Ngạn, giải quyết vấn đề theo một cái nhìn lịch sử (từ Vũ Thành đến
Thân Cảnh Phúc).
5.4. Phƣơng pháp so sánh loại hình

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 16 of 166.




Header Page 17 of 166.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 17 of 166.




Header Page 18 of 166.

13

Chƣơng 1: Văn hoá dân gian Lục Ngạn - cái nôi của truyền thuyết Vũ
Thành và lễ hội đền Hả.
Chƣơng 2: Truyền thuyết Vũ Thành ở Lục Ngạn - Bắc Giang.
Chƣơng 3: Lễ hội đền Hả ở Lục Ngạn - Bắc Giang.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 18 of 166.




Header Page 19 of 166.

14

PHẦN NỘI DUNG

Chƣơng I





Header Page 20 of 166.

15

Vị thế và đặc điểm lịch sử xã hội đặc biệt đó đã khiến xứ Bắc - Kinh
Bắc trở thành một trong những vùng đất tiêu biểu của nền văn hiến Việt cổ,
sớm tạo nhân cách Việt Nam, với những sắc thái, đặc trƣng riêng, phản ánh
trong truyền thống của con ngƣời vùng Kinh Bắc.Ở đây tinh thần đoàn kết
cộng đồng đƣợc hình thành sớm và bền chặt, sớm có lòng yêu nƣớc và tinh
thần cách mạng, tính cần cù, năng động, truyền thống hiếu học và khoa bảng,
lòng say mê và sáng tạo trong các hoạt động văn hoá nghệ thuật, tinh thần
nhân ái và tình nghĩa trong ứng xử "tứ hải giao tình"; "tình chung một khắc,
nghĩa dài trăm năm”.
Trong không gian văn hoá vùng Kinh Bắc, Bắc Giang có những đặc
trƣng riêng độc đáo, quyến rũ. Tìm hiểu về truyền thuyết Vũ Thành và lễ
hội đền Hả không thể bỏ qua sự so sánh, đối chiếu với những đặc điểm của
văn hoá Bắc Giang. Bởi một lẽ, truyền thuyết Vũ Thành vừa là sản phẩm
của quá trình sáng tạo văn hoá vùng Kinh Bắc, vừa là sự kết tinh cho nét
đẹp về đời sống tâm hồn của nhân dân Lục Ngạn nói riêng, nhân dân tỉnh
Bắc Giang nói chung.
1.2. Lục Ngạn - Bắc Giang - vùng văn hoá dân gian đặc sắc, cái nôi của
truyền thuyết Vũ Thành
Là ngƣời con của mảnh đất Lục Ngạn - Bắc Giang, Vũ Thành đã hội tụ
trong mình khí thiêng sông núi quê hƣơng. Sự toả sáng của ông trong lịch sử
dân tộc cũng chính là sự thăng hoa của văn hoá vùng Bắc Giang. Làm nên nét
đặc trƣng cho văn hoá nơi đây trƣớc hết phải kể đến yếu tố tạo nên điều kiện

chạy qua xã Quý Sơn đến Đồng Giao, sang Mịn Con, Sây To, Hồ Sen đi qua
Kiên Lao đến Đông Triều - Quảng Ninh nơi có dòng sông Lục chạy qua tạo
điều kiện cho việc phát triển kinh tế văn hoá của cả vùng.
Huyện Lục Ngạn cũng là vùng đất có nhiều danh lam thắng cảnh có
thể tạo nên những điểm tham quan du lịch hấp dẫn cho những ai muốn tìm
hiểu về ngọn nguồn lịch sử. Đó là cửa Nội Bàng, ải Xa Lý với các di tích và
danh lam thắng cảnh đẹp nhƣ đền Hả, hồ Cấm Sơn, hồ Khuôn Thần và Núi
Am Vãi - nơi in dấu bàn chân Phật.
Núi Am Vãi (còn gọi núi Am Ni, núi Quan Âm) thuộc địa phận các xã
Nam Dƣơng, Tân Mộc, Tân Lập, Nghĩa Hồ huyện Lục Ngạn, nằm ở bên trái
bờ sông Lục Nam, thuộc sơn phận Yên Tử. Trên núi có nhiều ngọn nối tiếp
nhau, cao nhất là ngọn chùa Am Ni ở địa phận ba xã: Nam Dƣơng, Tân Lập

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 21 of 166.




Header Page 22 of 166.

17

và Nghĩa Hồ. Thế núi đồ sộ, hoành tráng. Mạch từ dãy Yên Tử kéo về nổi cao
giữa thung lũng sông Lục Nam. Cảnh sắc hữu tình, có vị thế chiến lƣợc lâu
dài về quân sự.
Trong các ngọn núi, tuỳ theo sơn phận mà có núi, có rừng nhiều tầng
hoặc rừng hoang sơ, cây chịu cạn. Tại sơn phận xã Nam Dƣơng chủ yếu là
rừng hoang cỏ cây chịu hạn. Đất đá lẫn lộn, lô xô chen lẫn nhau. Đá ở núi Am


18

ra gạch ngói có hoa văn dây cúc từ thời Lý - Trần. Khi khai quật đã phát hiện
dấu tích nhƣ Hoàng Thành Thăng Long. Trong cuộc kháng chiến chống xâm
lƣợc Nguyên Mông Trần Hƣng Đạo đã cho xây dựng phòng Tuyến xa Lý Nội Hoàng và đặt đại bản doanh ở Nội Bàng.
Ải Xa Lý còn có tên là ải Khả Lý nằm trên con đƣờng mòn từ Xa Lý
sang đất Lộc Bình- Lạng Sơn. Từ đây có thể xuống thung lũng sông Lục Nam
để về Kinh Bắc xƣa theo con đƣờng Xa Lý- Kim Sơn-Biển Động- Chũ. Ải
này nằm trên eo của núi Ải, đoạn thắt lại rất hiểm trở nên thƣờng gọi là đèo
Ải. Đèo có độ cao khoảng 500m. Trong khe Ải có suối chảy vào sông Xa Lý.
Sông này chảy quanh co qua Cooc Nhi, Cooc Vặn, rồi nhập vào sông Lục
Nam ở khu vực bản động. Đỉnh đèo là cửa ải Xa Lý. Đứng ở đây có thể quan
sát đƣợc đất Lộc Bình và cả vùng đất Lục Ngạn. ở khu vực đỉnh đèo Ải có
đắp luỹ đất. Lũy cao chừng 4 m chân rộng tới hơn 20 m. Luỹ ăn sát vào vách
núi, ở giữa có lối ra vào do đèo cao, lối đứng, đƣờng xá đi lại khó khăn, lại
mắc luỹ chắn nên việc ra vào ải càng khó. Con sông xa Lý đƣợc khởi nguồn
từ các suối nhỏ trong dãy núi Thái Hoà, tạo ra nguồn chính bắt đầu từ Bản
Đồn, núi Ải từ đó chảy qua làng Mòng, làng Xé, Cooc Nhi, Cooc Vặn rồi đổ
vào đất Khuôn vi và rộng dần ra, sau chảy vào đất Động bản (Biển động) rồi
đổ vào sông Lục Nam ở khu vực Cẩm Đàn, Phú Nhuận. Lòng sông này có
nhiều loại cuội đá kết màu sắc vân rất đẹp. Dọc theo đôi bờ sông có nhiều
dấu tích cƣ trú của ngƣời xƣa. Thế kỷ XIII, quân dân nhà Trần đã tổ chức
chặn đánh đại quân Nguyên Mông ở phòng tuyến Xa Lý - Biển Động - Nội
Bàng. đến các triều đại phong kiến tiếp theo, ải Xa Lý vẫn đƣợc bồi đắp và
phòng giữ.
Khu di tích Khuôn Thần có tổng diện tích là 2000ha, trong đó rừng
tự nhiên 500ha, rừng thông 500ha và hồ Khuôn thần 140ha mặt nƣớc. Hồ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

dân gian bay bổng, diệu kỳ.
Nhƣ vậy, có thể nói, điều kiện tự nhiên đã góp phần vào sự ra đời của
hệ thống truyền thuyết dân gian ở vùng đất phía Đông Bắc tổ quốc.
1.2.2. Điều kiện lịch sử
Vũ Thành là ngƣời anh hùng địa phƣơng. Trong quá trình lƣu truyền
tên tuổi ông đã mở rộng nhƣ anh hùng dân tộc. Đƣợc sinh thành bảo lƣu và
phát triển chủ yếu là ở quê hƣơng Lục Ngạn nhƣng truyền thuyết và lễ hội Vũ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 24 of 166.




Header Page 25 of 166.

20

Thành vẫn mang những nét chung từ đặc điểm truyền thuyết và lễ hội Bắc
Giang, mở rộng ra là ảnh hƣởng của văn hoá Kinh Bắc. Vì vậy, khi nghiên
cứu về điều kiện lịch sử tác động đến đối tƣợng nghiên cứu của luận văn,
chúng tôi nhận thấy, trƣớc hết cần khảo sát từ lịch sử quê hƣơng Bắc Giang,
thứ đến là lịch sử của mảnh đất Lục Ngạn, cái nôi của truyền thuyết Vũ
Thành.
Nằm ở vị trí phía Bắc của tổ quốc, Bắc Giang là một miền đất cổ , ngay
từ buổi bình minh của lịch sử, đã có nhiều gắn bó với các miền đất khác trong
cả nƣớc.
Các di chỉ khảo cổ học nổi tiếng nhƣ di tích văn hoá Sơn Vi (đồ đá cũ)
phát hiện đƣợc ở Bố Hạ, Chũ, An Châu, Khe Tám (có niên đại cách ngày nay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status