Truyền thuyết Nguyễn Minh Không và lễ hội đền Thánh Nguyễn ở Ninh Bình (LV thạc sĩ) - Pdf 50

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

ĐINH THỊ TUYẾT LAN

TRUYỀN THUYẾT NGUYỄN MINH KHÔNG VÀ
LỄ HỘI ĐỀN THÁNH NGUYỄN Ở NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS NGUYỄN THỊ HUẾ

Thái Nguyên - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

ĐINH THỊ TUYẾT LAN

TRUYỀN THUYẾT NGUYỄN MINH KHÔNG VÀ
LỄ HỘI ĐỀN THÁNH NGUYỄN Ở NINH BÌNH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS NGUYỄN THỊ HUẾ


1. Lý do chọn đề tài
Văn học dân gian nảy sinh và tồn tại như một bộ phận hợp thành của sinh
hoạt văn hóa của nhân dân. Đời sống sinh hoạt nhân dân là môi trường sống của
tác phẩm văn học dân gian. Văn học dân gian luôn được diễn xướng bằng nhiều
hình thức khác nhau ở những môi trường sinh hoạt dân gian khác nhau (nghi lễ,
lao động, sinh hoạt). Mỗi thể loại văn học dân gian lại gắn với một hình thức
diễn xướng khác nhau. Môi trường diễn xướng của truyền thuyết thường gắn
liền với lễ hội.
Nguyễn Minh Không là nhân vật lịch sử để lại dấu ấn quan trọng trong
lịch sử dân tộc và được nhân dân yêu quý, được người đời dệt nên những truyền
thuyết đẹp. Truyền thuyết về Nguyễn Minh Không là hệ thống truyện kể dân
gian được lưu truyền và gắn bó mật thiết với tín ngưỡng, lễ hội ở Ninh Bình đặc
biệt ở huyện Gia Viễn - quê hương ông.
Trước nay, việc sưu tầm, nghiên cứu về truyền thuyết Nguyễn Minh
Không ở Ninh Bình còn chưa được quan tâm đúng mức, chưa xứng với vị thế
của ông đối với quê hương và trong lịch sử dân tộc.
Vì vậy, việc nghiên cứu truyền thuyết Nguyễn Minh Không và lễ hội đền
Thánh Nguyễn ở Ninh Bình là việc làm cần thiết, góp phần khẳng định vị trí của
Nguyễn Minh Không cùng lễ hội về ông trong tâm thức người dân Ninh Bình
nói riêng và cả nước nói chung. Đồng thời, đây sẽ là một đóng góp cụ thể cho
hướng giữ gìn và giảng dạy văn học dân gian địa phương theo hướng tích hợp.
Là một người con của quê hương Ninh Bình - nơi có nhiều lễ hội truyền
thống, nơi được coi là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, tôi mong muốn đóng góp
một phần công sức vào việc giữ gìn và phát triển di sản văn hoá dân gian trên
quê hương mình. Việc nghiên cứu và giới thiệu về truyền thuyết Nguyễn Minh
Không và lễ hội đền Thánh Nguyễn ở Ninh Bình sẽ giúp tôi có thêm những hiểu
biết về văn hoá dân gian địa phương, có ý nghĩa thiết thực cho công tác giảng
dạy của tôi hiện nay.
Với những lý do mang tính lý luận và thực tế trên, chúng tôi đã lựa chọn
nghiên cứu đề tài: Truyền thuyết Nguyễn Minh Không và lễ hội đền Thánh

Bình Trị, Kiều Thu Hoạch và nhiều nhà nghiên cứu khác quan niệm truyền
thuyết là một thể loại tự sự dân gian.
Bộ giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của trường Đại học sư phạm Hà
Nội, (Đỗ Bình Trị chủ biên, năm 1961) bước đầu khẳng định truyền thuyết là
một thể loại “Truyền thuyết là những truyện cổ có dính líu đến lịch sử mà lại có
sự kì diệu - là lịch sử hoang đường, là những truyện tưởng tượng ít nhiều có gắn
với sự thực lịch sử”
Trong cuốn Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian
Việt Nam (NXB KHXH, 1970), Kiều Thu Hoạch, có tới ba bài viết khẳng định
truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian. Ông chỉ ra: Truyền thuyết là một
thể tài truyện kể truyền miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian; nội dung cốt
truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc
các phong vật theo quan niệm nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là
khoa trương phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kỳ
như cổ tích và thần thoại…
Vào đầu những năm 80, trong cuốn Từ điển văn học (NXB Thế giới,
1984), mục từ “Truyền thuyết” do Chu Xuân Diên viết, cũng đã khẳng định
truyền thuyết là một trong những thể loại tự sự dân gian, có quan hệ gần gũi với
các thể loại tự sự dân gian khác như thần thoại và truyện cổ tích.
Các cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, tập II (Hoàng Tiến Tựu
NXB Giáo dục, 1990), Văn học dân gian Việt Nam (Lê Chí Quế chủ biên, NXB


ĐHQG, 1990), Văn học dân gian (Phạm Thu Yến chủ biên, NXB ĐHSP,
2002… đều dành một chương cho việc nghiên cứu truyền thuyết với tư cách là
một thể loại độc lập.
Cuốn Từ điển tiếng Việt, định nghĩa “Truyền thuyết là truyện dân gian
truyền miệng về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử, thường mang
nhiều yếu tố thần kì”. [50, tr.1053].
Còn các tác giả trong Từ điển thuật ngữ văn học, định nghĩa: “Truyền

biết ơn và bày tỏ nguyện vọng cùng sự cầu mong của mình đối với tổ tiên và các
thế lực siêu nhiên trong vũ trụ; phân bố theo không gian; có khuynh hướng thiên
về tinh thần; mang đặc tính mở (lôi cuốn mọi người tìm đến); mục đích nhằm


duy trì quan hệ bình đẳng giữa các thành viên trong làng xã”
Các tác giả trong Từ điển Bách khoa Việt Nam (Hội đồng Quốc gia chỉ
đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 2, NXB Hà Nội 2002, tr. 674)
đưa quan niệm: “Lễ hội là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng
tôn kinh của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng
của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện”.
Trong Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Vietlex (Nxb Đà Nẵng
- Trung tâm Từ điển, 2008, tr.694 các tác giả Hoàng Phê, Vũ Xuân Lương, Hoàng
Thị Tuyền Linh, Phạm Thị Thủy, Đào Thị Minh Thu, Đặng Thanh Hòa) quan niệm
lễ hội là: “Cuộc vui chung có tổ chức, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa
truyền thống”.
Từ các khái niệm trên, chúng tôi nhận thấy các tác giả khi bàn về khái
niệm lễ hội đều có những quan niệm tương đồng về lễ và hội. Trong một lễ hội
có hai hệ thống đan quyện và giao thoa với nhau: phần lễ và phần hội.“Lễ là
phần tín ngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người, là phần
đạo”. [66, tr.32].“Hội là phần tập hợp vui chơi, giải trí, là đời sống văn hóa
thường nhật, phần đời của mỗi con người, của cộng đồng”.[66, tr.32]. Các trò
diễn, trò chơi, cuộc thi tài trong phần hội làm cho nội dung lễ hội thêm phong
phú, làm sáng tỏ thêm chủ đề của lễ hội.
Khái niệm trên đã phản ánh bản chất và những nội dung của lễ hội truyền
thống Việt Nam. Trước hết, lễ hội là sinh hoạt văn hoá cộng đồng, bởi vì đây là
hoạt động văn hoá của tập thể, thuộc về tập thể, do tập thể tổ chức. Dù ở bất cứ
đâu, vào bất cứ thời gian nào lễ hội cũng phải do đông đảo quần chúng nhân dân
tiến hành. Chính họ là những người sáng tạo chân chính những giá trị bắt nguồn
từ cuộc sống lao động sản xuất và chiến đấu. Họ là chủ nhân, đồng thời là người

Tạp chí Nghiên cứu Hán - Nôm (số 1 - 2/1984) đã nói rất rõ về cuộc đời và hành
trạng của đức Thánh Nguyễn.
Lê Xuân Quang với cuốn Truyện Đức Không Lộ - Minh Không (2000) đã
sưu tầm khá đầy đủ những truyền thuyết về Dương Không Lộ và Minh Không,
trong đó có bài diễn ca xâu chuỗi toàn bộ truyền thuyết về Đức Thánh Tổ Khổng
Minh Không. Tác giả cho rằng hai vị thiền sư là một và được đồng nhất với
danh xưng Khổng Minh Không.
Trương Đình Tưởng với Truyện cổ dân gian Ninh Bình (1995), đã sưu
tầm, biên soạn giới thiệu 6 truyện về ông Khổng Lồ Nguyễn Minh Không.
Cuốn Địa chí Ninh Bình, (UBND, Tỉnh ủy Ninh Bình, 2010), phần Văn
hóa, tôn giáo - Tín ngưỡng đã giới thiệu về phật giáo thời Lý và vai trò của
Quốc sư Nguyễn Minh Không.
Trương Đình Tưởng với cuốn Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình,
(2004), trong phần IV: “Truyện kể dân gian” đã giới thiệu một số thể loại văn
học dân gian chính ở Ninh Bình trong đó có thần thoại về ông Khổng Lồ
Nguyễn Minh Không và một bài ca về Thánh Nguyễn với phép thần thông
quảng đại.
Trương Đình Tưởng trong cuốn Bái Đính ngàn năm tâm linh và huyền
thoại, NXB Thế giới (2010) đã giới thiệu khá chi tiết về Nguyễn Minh Không,
Quốc sư triều Lý - ông tổ khai sinh “sinh dược” và “chùa Bái Đính cổ tự” trên
đỉnh non thần.
Qua việc tổng hợp tài liệu trên đây về nhân vật và truyền thuyết Nguyễn
Minh Không, cho thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều vấn đề đã được
đề cập tới, chủ yếu các sử gia, các nhà khoa học ít nhiều đã chú tâm nghiên cứu
nhân vật lịch sử này dưới góc độ sử học và văn hóa. Và truyền thuyết về nhân
vật Nguyễn Minh Không đã được các nhà nghiên cứu văn học dân gian ghi lại


thành văn trong quá trình sưu tầm, điền dã. Song chưa có một công trình nào
nghiên cứu về Truyền thuyết Nguyễn Minh Không và lễ hội đền Thánh

nói riêng và người dân Việt Nam nói chung.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài Truyền thuyết Nguyễn Minh Không và
lễ hội đền Thánh Nguyễn ở Ninh Bình, luận văn chủ yếu sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê: Khảo sát, tập hợp và thống kê các tư liệu liên
quan đến truyền thuyết về Nguyễn Minh Không.
Phương pháp điền dã: Tiến hành điền dã trên địa bàn huyện Gia Viễn,


Yên Mô, Thị xã Tam Điệp, thành phố Ninh Bình tỉnh Ninh Bình tham quan các
di tích lịch sử có liên quan đến Nguyễn Minh Không. Gặp gỡ, trao đổi với
những cán bộ văn hoá, cán bộ quản lí di tích lịch sử, những nhà nghiên cứu,
những người dân địa phương đã nhiều năm tìm hiểu thu thập tư liệu về Nguyễn
Minh Không.
Phương pháp liên ngành: Do văn học dân gian nói chung, truyền thuyết
nói riêng có đặc trưng là tính nguyên hợp, tính chất sinh hoạt thực hành nên khi
tiến hành đề tài này chúng tôi đã vận dụng những tri thức thuộc nhiều lĩnh vực
khác nhau như lịch sử, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng… để lí giải một số vấn đề có
liên quan đến đề tài.
Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng nhằm
tiếp cận đối tượng nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết, đồng thời để có được sự
đánh giá một cách toàn vẹn, khái quát.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi địa lý: Các địa phương của Ninh Bình có lưu truyền truyền
thuyết về Nguyễn Minh Không và lễ hội đền Thánh Nguyễn ở Ninh Bình.
Phạm vi tư liệu:
Những truyền thuyết về Nguyễn Minh Không và lễ hội Thánh Nguyễn
đã được sưu tập, giới thiệu trong các cuốn Truyện cổ dân gian Ninh Bình (1995)
Bái Đính ngàn năm tâm linh và huyền thoại (2009) do tác giả Trương Đình

tỉnh nằm ở cực nam đồng bằng Bắc Bộ, 19º50’ đến 20º27’ độ Vĩ Bắc, 105º32’
đến 106º27’ độ Kinh Đông. Dãy núi Tam Điệp chạy theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam, làm ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hoá. Phía Đông
và Đông Bắc có sông Đáy bao quanh, giáp với hai tỉnh Hà Nam và Nam Định,
phía Bắc giáp tỉnh Hoà Bình, phía Nam là biển Đông. Ninh Bình có vị trí chiến
lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa lưu vực sông
Hồng với lưu vực sông Mã, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng núi rừng Tây
Bắc của Tổ quốc. Ninh Bình là một điểm nút giao thông quan trọng từ miền Bắc
vào miền Trung và miền Nam. Có nhiều lợi thế phát triển kinh tế chính trị xã hội
vì có đủ cả giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy.
Ninh Bình ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng
nên địa hình phân chia thành ba vùng tương đối rõ nét. Vùng đồng bằng, vùng
đồi núi bán sơn địa và vùng ven biển. Mỗi vùng có tiềm năng và thế mạnh riêng,
song ba vùng có thể bổ sung hỗ trợ nhau để phát triển nền kinh tế hàng hoá.
Cùng với tiềm năng về công, nông, lâm nghiệp Ninh Bình còn có thế mạnh phát
triển đa dạng các loại hình du lịch với nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch
sử văn hoá nổi tiếng như: Cố đô Hoa Lư, khu du lịch Tam Cốc - Bích Động,
Vườn Quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, động Vân
Trình, nước nóng Kênh Gà, Quần thể di sản thiên nhiên thế giới Tràng An …
Với vị trí địa lý đặc biệt, thiên nhiên đa dạng phong phú, Ninh Bình trở
thành nơi chuyển tải các ảnh hưởng văn hóa từ lưu vực sông Mã ra phía bắc, từ
lưu vực sông Hồng vào phía nam, từ vùng núi xuống vùng biển.
1.1.2. Đặc điểm lịch sử
Theo kết quả của các công trình khảo cổ học, sử sách ghi lại Ninh Bình là
vùng đất cổ, là địa bàn cư trú của của người Việt cổ. Trải qua hàng nghìn năm
xây dựng, phát triển và trưởng thành với nhiều thăng trầm, Ninh Bình được đổi
tên gọi nhiều lần, mỗi thời đại có cải cách và tên gọi khác nhau.
“Ninh Bình xưa cùng với Thanh Hóa thuộc bộ Quân Ninh, nước Văn
Lang. Thời thuộc Hán thuộc quận Giao Chỉ, thời thuộc Đông Ngô về sau
thuộc Giao Châu, thuộc Lương là châu Trường Yên.

phương. Đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của Ninh Bình vô cùng phong
phú, đa dạng biểu hiện ở nhiều phương diện trong cuộc sống của cả người Kinh
và người Mường. (Ninh Bình có ngót 92 vạn dân, trong đó có tới hơn 200 ngàn
người Mường).
Đối với người dân Ninh Bình, tín ngưỡng dân gian ngàn xưa đã ăn sâu bắt
rễ trong tư tưởng, tình cảm, nếp nghĩ, trong đời sống sinh hoạt… Người dân
Ninh Bình quan niệm:
“Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn
Nước có nguồn bể rộng sông sâu”
Thờ tổ tiên là sự thể hiện lòng thành kính, biết ơn, đồng thời cũng là sự
thể hiện niềm tin vào sự che chở, bảo hộ, trợ giúp của tổ tiên. Đó là hoạt động
dưới dạng hành lễ và được qui định bởi quan niệm, phong tục, tập quán của mỗi
cộng đồng, dân tộc. Ngoài tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người dân Ninh Bình thờ
thần tự nhiên như thờ thần Núi, thần Biển, thần Sông, thần Cây… mà còn thờ


Phật. Mọi địa phương trong tỉnh đều có những ngôi chùa thờ Phật.
Thờ vua đã là một đặc trưng trong tín ngưỡng dân gian Ninh Bình, càng
ngày càng thấm sâu vào ý thức hệ tư tưởng của người dân, làm thức dậy những
tình cảm sâu lắng nhất trong mỗi người dân, khắc ghi đạo lí “uống nước nhớ
nguồn”. Một mặt con cháu bày tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên, mặt khác thể hiện
trách nhiệm liên tục và lâu dài của con cháu đối ơn đức của của tổ tiên đã có
công dựng nước. Để tưởng nhớ công ơn của vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại
Hành người dân Ninh Bình đã lập đền thờ ngay trên nền đất kinh đô Hoa Lư xưa
và còn được thờ nhiều nơi trong tỉnh. Ở Ninh Bình không chỉ thờ vua Đinh Tiên
Hoàng, vua Lê Đại Hành mà còn thờ các vua khác như Phùng Hưng, Lý Thái
Tông, Trần Thái Tông… Tín ngưỡng thờ vua của người Ninh Bình được cụ thể
hóa trong trong quan niệm “cây có gốc”, “nước có nguồn”, “chim tìm tổ”,
“người tìm tông” và qua các hành vi sống (giữ gìn danh dự và tiếp tục truyền
thống của gia đình, dòng họ, đất nước) mà còn ở trong các hành vi cúng tế cụ

nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày. Nó trở thành
một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất. Phong tục của
người Ninh Bình rất đa dạng được thể hiện ở hệ thống phong tục liên quan đến
vòng đời của con người, như phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng
thọ và lên lão... Khi người phụ nữ mang thai không được bước qua thừng trâu.
Người dân quan niệm như vậy người mẹ sẽ bị chửa lên tháng. Khi đứa trẻ mới
được sinh ra không để người lạ vào vì sợ phải vía, không cho đứa trẻ đến đám
ma vì sợ bị sài quấy khóc, lười ăn. Trong trường hợp đứa trẻ bị sài người dân tin
vào việc tắm sài, khêu sài ăn ngon, ngủ ngon. Ngoài ra còn rất nhiều phong tục
khác như tục ăn trầu, xông đất, mừng tuổi đầu năm, xem tuổi làm nhà... Hệ
thống phong tục liên quan đến hoạt động của con người theo chu kỳ thời
tiết trong năm, hệ thống phong tục liên quan đến chu kỳ lao động của con người.
Ninh Bình còn là vùng quê có vốn ca nhạc cổ truyền phong phú mang đặc
trưng vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ninh Bình từng là kinh đô của nước Đại Cồ Việt
- nơi phát tích của nghệ thuật Chèo, Xẩm. Đây là những loại hình nghệ thuật cổ
truyền tiêu biểu của miền Bắc Việt Nam. Chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa
dân gian, nhất là trò nhại trong nghệ thuật Chèo bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ X.
Người sáng lập nghệ thuật Chèo - bà Phạm Thị Trân, một vũ ca tài ba trong
hoàng cung nhà Đinh. Bà được suy tôn là bà tổ của nghệ thuật hát chèo. Hát
Xẩm là một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo ra đời cách đây
hơn 700 năm. Bên cạnh giá trị nghệ thuật, hát Xẩm còn là loại hình âm nhạc dân
gian mang đậm tính nhân văn. Xẩm được coi là một nghề để kiếm sống của
người lao động nên tính chất âm nhạc, lời ca hết sức mộc mạc chân thành, song
nó cũng chứa đựng những nội dung tư tưởng sâu sắc, hàm chứa những triết lý,
những lời răn dạy đạo lý ở đời. Ninh Bình hiện nay còn lưu giữ nhiều làn điệu
Xẩm cổ. Một trong những người có công lớn trong việc gìn giữ, bảo tồn hát
Xẩm là nghệ nhân Hà Thị Cầu (1928 – 2013) ở huyện Yên Mô. Bà được xem là
nghệ nhân hát xẩm cuối cùng của thế kỷ XX và từng được mệnh danh là "báu
vật nhân văn sống".
Văn hoá ẩm thực Ninh Bình có những nét đặc thù riêng của nền văn minh

thuyết. Hầu như mỗi con sông, ngọn núi, ngôi làng đều gắn liền với những
truyền thuyết đẹp.Truyền thuyết ở Ninh Bình rất phong phú: truyền thuyết địa
danh, truyền thuyết về các nhân vật lịch sử, truyền thuyết dân gian của người
Mường, truyền thuyết về nữ thần, truyền thuyết chống giặc ngoại xâm…
Truyền thuyết dân gian luôn gắn với một vùng đất, vì thế trong các truyền
thuyết được sưu tầm, ta bắt gặp hầu hết các địa danh trong tỉnh Ninh Bình. Có
truyền thuyết kể về lai lịch tên đất, tên làng như truyền thuyết Hai anh em họ
Quách, Bắn phải voi quý của nhà vua…Địa danh Hang Múa ở xã Ninh Xuân Hoa Lư được nhân dân kể lại những truyền thuyết cổ xưa “khi vua Trần chọn
vùng đất Hoa Lư này làm Am Thái Vi, người thường tới đây xem các mỹ nữ múa
hát, do đó nhân dân gọi vùng này là hang Múa”. Truyền thuyết địa danh ở Ninh
Bình còn gắn với các di tích, khu danh thắng nổi tiếng, đền chùa trong tỉnh như
Đền Vực Vông, đền Dâu… Mỗi mỗi truyền thuyết đều thể hiện niềm tự hào,
lòng biết ơn, tình cảm tôn vinh của nhân dân dành cho những con người có
nhiều đóng góp và hy sinh cho cộng đồng…
Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành đã dựng lên một thời đại vẻ vang trong
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Công lao “khai sơn phá thạch” của
hai vị vua được lưu danh sử sách và được nhân dân đời đời biết ơn, tôn kính.
Đinh Bộ Lĩnh và Lê Đại Hành đi vào truyền thuyết dân gian với lòng sùng kính
thiêng liêng. Tác giả dân gian sử dụng các yếu tố hoang đường kỳ ảo, mô típ sinh


nở thần kỳ làm cho truyền thuyết về Đinh Tiên Hoàng thêm lung linh.“Trời đang
nắng to bỗng một trận mưa rào ập đến. Bà Đàm thị bèn lánh vào trong một hang
núi trước mặt. Bà hứng những giọt nước long lanh ngũ sắc từ một cây nhũ đá rỏ
xuống. Uống xong bà thấy buồn ngủ nhíu mắt lại. Thấy giữa hang có một tảng đá
to, nhẵn như một chiếc sập gụ, bà ngả lưng xuống ngủ thiếp lúc nào không biết.
Cơn mưa vừa tạnh, bà Đàm Thị vừa tỉnh giấc, bất thần thấy có một con rái cá
hình nhân to tướng nằm bên cạnh, một chân vắt qua bụng bà (….) Hôm ấy, trời
đang nắng chang chang bỗng sấm chớp nổi lên ầm ầm, mây chuyển vần vũ. Bà
Đàm Thị trở dạ sinh một đứa bé khôi ngô tuấn tú. Đứa bé mới sinh đã ngồi nhổm

hiện thái độ của mình qua câu: "Đền Đinh thượng miếu, đền Lê hạ từ". Câu


phương ngôn này có nhiều tầng nghĩa. Thứ nhất, chữ "thượng" và chữ "hạ" ở
đây có liên quan đến địa danh làng Yên Thượng (nơi có đền thờ vua Đinh) và
làng Yên Hạ (nơi có đền vua Lê). Cả hai đều thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa
Lư. Thứ hai, chữ "thượng" và chữ "hạ" ngụ ý đền vua Đinh được xây cất cao
hơn đền vua Lê. Thứ ba, trong dân gian người ta vẫn coi vua Lê là bầy tôi của
vua Đinh, do đó so sánh về vị thế, vua Đinh vẫn được đánh giá ở ngôi cao hơn
vua Lê.
Trong lao động sản xuất, trong quá trình đấu tranh thiên nhiên người dân
Ninh Bình đã đúc rút kinh nghiệm. Những kinh nghiệm ấy được phản ánh vào
những câu tục ngữ ngắn gọn, trở thành tri thức khoa học kỹ thuật dân gian.
“Kiến đen tha trứng lên cao
Thế nào cũng có mưa rào rất to”
Quan sát loài côn trùng nhỏ bé này, dân gian rút ra kinh nghiệm hết sức
quí báu: khi nhìn thấy kiến đen tha trứng lên cao là lúc sắp có mưa rào. Nhờ
kinh nghiệm này, chúng ta sẽ tránh được những thiệt hại trong sản xuất và sinh
hoạt.
Tục ngữ Ninh Bình đã đúc rút kinh nghiệm chọn trâu - nguồn sức kéo
chính của nhà nông. Một con trâu tốt phải hội đủ các tiêu chuẩn.
“Tam tinh, khoáy sọ thì chừa
Đốm đuôi nát chủ thì đưa vào nồi”
Văn học dân gian Ninh Bình còn có thể loại văn học vô cùng đặc sắc đó là
ca dao. Ninh Bình phong cảnh hữu tình, con người tài hoa trở thành nguồn cảm
hứng vô tận của người nghệ sĩ dân gian. Những câu ca dao vừa mộc mạc vừa
chan chứa tình người ca ngợi cảnh đẹp quê hương, tình yêu lứa đôi, tình cảm gia
đình...
“Ai về qua đất Ninh Bình
Mà xem phong cảnh hữu tình nên thơ

Tứ thời bát tiết anh ơi,
Ổ rơm cũng ấm, ngô khoai cũng bùi”.
Cuộc sống nhiều khó khăn, bất trắc đã được người dân gửi gắm qua
những câu ca dao than thân.
“Đắng cay tột đỉnh trời ơi
Cái nghèo cái khổ chẳng rời tôi ra”
Lời than cất lên từ những bất hạnh, gian nan trở thành một bài ca tổng kết
nỗi khổ đau của người lao động.
Ca dao không chỉ là nơi người dân Ninh Bình gửi gắm tình yêu quê
hương đất nước, tình yêu lứa đôi mà còn thể hiện tinh thần phản kháng mạnh
mẽ. Ca dao là tiếng nói tố cáo bản chất thối nát của một bộ phận quan lại: ra sức
vơ vét của cải, đục khoét, bóc lột nhân dân.
“Chém cha cái lũ áo dài
Ăn no đến tận mang tai vẫn lần
Nó lần đến bẹn khố dân
Trong ngoài bòn sạch không phân thứ gì
Ăn no rồi lại nằm khì
Mặc dân rên xiết khốn nguy nhọc nhằn”
Ca dao Ninh Bình còn thể hiện được bản sắc văn hóa làng xã ở sự công
kích, chê bai giữa làng này với làng kia.
“Con gái dù đẹp như tiên,
Lấy chồng Đông Hội như thuyền chở phân”.
Ca dao không chỉ “công kích” những làng, xã, thôn, bản có nhiều bất lợi
về địa lý, mà còn đả phá những thói hư tật xấu của một số người, một số địa


phương trong tỉnh.
"Ai ơi chớ lấy gái La,
Vừa lười canh cửi, lại la mắng chồng".
Bằng những hình ảnh được nhân hoá, nghệ thuật ẩn dụ khéo léo và tài

Trong hoạt động đối ngoại, triều đình luôn có chính sách mềm dẻo, linh
hoạt, chủ trương giao hảo với các nước lân bang, nhưng thực hiện một nguyên
tắc không thể nhân nhượng đó là độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Nếu
nguyên tắc đó bị vi phạm, nhà Lý kiên quyết chống trả các thế lực ngoại xâm để
bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ.
Cùng với sự lớn mạnh về chính trị và kinh tế, văn hóa Đại Việt thời Lý


trở nên phong phú và phát triển ở một tầm cao mới qua một quá trình tiếp biến
và tích hợp văn hóa. Trên cơ sở cốt lõi của nền văn hóa Việt cổ, nhà Lý chủ
động tiếp thu và cải biến những yếu tố của văn hóa Đông Á Trung Hoa, văn hóa
Chămpa và chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ. Tuy nhiên, những ảnh hưởng
văn hóa ngoại sinh du nhập còn ở mức độ hạn chế, được gạn lọc, luyện hợp
thành những yếu tố nội sinh.
Nhà Lý đã chủ trương một chính sách khoan dung hòa hợp giữa các tín
ngưỡng, tôn giáo như tín ngưỡng dân gian, Phật, Đạo, Nho. Đó chính là hiện
tượng Tam giáo đồng nguyên. Các tín ngưỡng dân gian cổ truyền như tín
ngưỡng thần linh, vật linh, tục thờ Mẫu, tục sùng bái anh hùng, pha trộn với Đạo
giáo đã được tự do phát triển và khuyến khích
Đạo Phật là tôn giáo thịnh đạt nhất trong xã hội thời Lý, và được coi là
Quốc giáo. Hầu hết các vua Lý (Thái Tổ, Thái Tông…) đều sùng đạo Phật. Nhà
vua cho dựng chùa tháp, tô tượng, đúc chuông, dịch kinh Phật, soạn sách Phật…
Đông đảo quần chúng bình dân trong làng xã nô nức theo đạo Phật. Nơi nào có
nhà ở là ắt có chùa chiền. Dân chúng quá nửa nước là sư.
Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ đầu thời Bắc thuộc dưới một
phương thức giao lưu văn hóa cưỡng chế. Đến thời Lý, nó đã trở thành một nhu
cầu tư tưởng thiết yếu cho việc xây dựng một thiết chế quân chủ tập quyền. Nho
giáo trở thành nguyên lý cơ bản của phép trị nước, trong đó một biện pháp chiến
lược là chế độ khoa cử. Tuy nhiên, ở các làng xã, quá trình Nho giáo hóa lại mờ
nhạt. Dân chúng vẫn sống theo những phong tục cổ truyền, chưa bị ràng buộc bởi

điền trang, thái ấp của các quan lại được thành lập như điền trang bên núi Kiếm
Lĩnh của Tô Hiến Thành, bến thuyền Trường Yên, Phúc Thành hải cảng sầm
uất. Nhà lý quan tâm đến giao thông đường thủy qua hệ thống sông ngòi tự
nhiên như sông Vân Sàng, sông Trinh Nữ, sông Đáy. Bên cạnh đó, triều đình
còn cho mở rộng, nạo vét dòng chảy các dòng tự nhiên và đào thêm những con
sông mới như sông Lẫm ở Yên Mô. Từ đó, nhiều làng mạc dân cư trù phú được
hình thành như Bến Ngự, Bến Chợ, chợ Mo, cánh đồng Bể tạo thế thuận lợi cho
giao thông, phát triển kinh tế, quân sự và chống úng lụt. Ninh Bình - vùng đất
kinh đô Hoa Lư xưa đã trở thành trung tâm kinh tế chính trị của một vùng.
Phật giáo ở Ninh Bình vào thời Lý phát triển mạnh mẽ, vai trò của các
nhà sư được đề cao. Nhà sư được tham gia việc triều chính, trở thành các nhà
hoạt động chính trị tham gia giúp vua trị vì đất nước. Trong đó phải kể đến vai
trò của thiền sư Vạn Hạnh - một trong những người đã giúp cho Lý Công Uẩn
lên ngôi vua. Vào cuối thời Tiền Lê, vua Lê Long Đĩnh hoang dâm tàn bạo, triều
chính rối ren, đời sống nhân dân cực khổ, lòng dân oán hận. Đây là điều kiện
thuận lợi cho việc vận động nhân dân chấp nhận việc thay ngôi đổi chúa. Sau
một thời gian trị vì tàn bạo, Lê Long Đĩnh (Ngọa Triều) chết vào năm 1009.
Trong sách Văn học đời Lý (bản in năm 1957, Sài Gòn, nhà xuất bản Hướng
Dương), tác giả Lê Văn Siêu viết: “Cuộc đảo chánh năm 1010 của Vạn Hạnh,
sau cuộc đảo chánh năm 980 của Lê Hoàn, không mất một giọt máu, không gây
một oan cừu, dầu muốn dầu không cũng đã là một tác phẩm nghệ thuật” (trang
107)… “Sư Vạn Hạnh khi thành công đã không chịu nhận một chức tước gì
trong triều của ông vua vốn là học trò của mình, mà ngai vàng lại đã do chính
tay mình đem đến, tư cách ấy nào khác gì với tư cách của Phù Đổng Thiên
Vương” (trang 111). Lý Công Uẩn lên ngôi ngày 2/11 năm Kỷ Dậu, tức ngày
21/11/1009 tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình). Ông là người sáng lập vương triều
Nhà Lý, lấy hiệu là Lý Thái Tổ, đặt niên hiệu là Thuận Thiên.
Ở thời Lý, Ninh Bình còn có thiền sư Nguyễn Minh Không. Ngài được
mệnh danh là ông tổ của nhiều nghề, nhà tu hành mộ đạo, một dược sư nổi
tiếng. Một trong những kỳ tích của ông được sử sách ghi lại là chữa thành công

Minh Không (Lý Quốc Sư) và còn nhiều danh nhân tiêu biểu khác như: Tể
tướng Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, Thượng Thư Trịnh Tú…
Đền Đinh Bộ Lĩnh ở xã Gia Phương huyện Gia Viễn còn có tên là đền
Văn Bòng. Tương truyền, đây chính là quê gốc của Đinh Bộ Lĩnh. Ngôi đền
không có ghi chép cụ thể được xây dựng năm nào. Trong dân gian truyền lại,
khi Đinh Tiên Hoàng còn ở ngôi cho lập sinh từ ở quê hương. Năm Kỷ Mão
799, sau khi nhà vua băng hà, nhân dân làng Đại Hữu đã rước bài vị của vua
Đinh Tiên Hoàng về thờ. Tuy cùng thờ vua Đinh Tiên Hoàng nhưng cách thức
suy tôn và tín ngưỡng ở ngôi đền này và đền vua Đinh Tiên Hoàng ở khu di
tích cố đô Hoa Lư là không giống nhau. Về đối tượng phối thờ, ở đây không thờ
các con của ông là Đinh Liễn, Đinh Hạng Lang, Đinh Toàn mà thờ bà ngoại là
Phạm Thị Tuyên, thân mẫu Đàm thị và các trung thần khác là bạn vua từ thuở


nhỏ như Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ.
Đền Thánh Nguyễn là một ngôi đền cổ thuộc làng Điềm, Phủ Tràng An
nay là hai xã Gia Tiếng, Gia Thắng thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đền
thờ Nguyễn Minh Không, là danh nhân được sinh ra trên đất này. Sử sách ghi
lại, sau khi tu hành đắc đạo Nguyễn Minh Không về quê hương Đàm Xá xây
dựng chùa Viên Quang để thờ Phật vào năm 1121. Khi ông mất, nhân dân Đàm
Xá biến chùa Viên Quang thành đền thờ Thánh Nguyễn. Nhân dân đã xây dựng
năm gian ở phía Tây thờ Phật. Từ đó về sau nơi thờ đức Thánh Nguyễn và thờ
Phật được gọi tên là đền Thánh Nguyễn.
Chùa Bái Đính cổ đã được xây dựng dưới thời nhà Lý. Nơi đây đã kể lại
nhiều sự tích, giai thoại về đức Thánh Nguyễn. Khi lên núi tìm thuốc chữa bệnh
cho dân, ông đã lập ngôi chùa này. Ngôi chùa được bắt đầu được xây dựng trong
những hang đá. Bái là cúng bái, lễ bái trời đất, còn đính nghĩa là đỉnh, ở trên
cao. Chùa Bái Đính cổ tọa lạc trên một ngọn núi cao gần trên đỉnh của một vùng
rừng núi khá yên tĩnh. Chùa được tạo dựng theo lối kiến trúc chùa động khá phổ
biến ở Ninh Bình.

Kinh Bắc”. [48, tr.1]. Sùng công ở nhà Dương Công Tiệp được vài năm, Dương
công thấy Sùng công ngôn ngữ nhu hòa, cử chỉ cẩn thận tinh thông văn tự nên
đã gả con gái cho. Vừa qua một năm, vợ chồng Dương Công Tiệp bị bệnh qua
đời. Sùng công là con rể nhưng mai táng cúng tế như cha mẹ mình. Công việc
tang ma đã xong, vợ chồng trở về cố hương Đàm Xá.
Nhà tuy nghèo túng nhưng ông bà đều lấy sự bố thí rộng rãi thể hiện tấm
lòng và lấy sự từ bi làm tâm niệm, thấy người đói rét thì cứu giúp, gia tâm làm
việc phúc. Ông bà sinh được sáu người con: bốn con trai là Nguyễn Chí Cần,
Nguyễn Chí Đức, Nguyễn Chí Thành, Nguyễn Chí Thiện và hai con gái là
Nguyễn Thị Cúc, Nguyễn Thị Quỳ. Ông bà làm nghề đánh cá, đơm đó kiếm
sống nuôi các con. Cha mẹ mất sớm, Chí Thành làm ngư dân đánh bắt cá, sinh
sống trên sông Hoàng Long. Chí Thành nuôi chí lớn, đi chu du thiên hạ.
Nguyễn Minh Không được sử sách ghi lại là nhân vật lịch sử để lại dấu ấn
quan trọng ở thời nhà Lý. Khi nhắc đến thiền sư, hậu thế không chỉ biết đến ông
với tư cách là nhà tu hành mộ đạo - một thày thuốc tài ba - vị tổ sư của nhiều
nghề.
Thứ nhất, Nguyễn Minh Không là nhà tu hành, thiền sư nổi tiếng thời Lý.
Sau khi tu hành đắc đạo, thiền sư đã đem tài đức của mình phò vua, hết lòng vì
dân vì nước. Quốc sư Minh Không là vị thiền sư sáng lập nên nhiều ngôi chùa
nhất - 500 ngôi chùa trên đất Đại Việt. Nhiều ngôi chùa lớn còn tồn tại đến ngày
nay như chùa Bái Đính, chùa Cổ Lễ, chùa Non Nước, chùa Địch Lộng, chùa
Quỳnh Lâm, chùa Am Tiên, chùa Trông, chùa Kim Liên, chùa Hàm Long...
Nguyễn Minh Không được vua phong Lý Quốc sư - tên gọi theo quốc tính họ vua
do nhà Lý ban cho ghép với chức danh pháp lý cao nhất của một vị thiền sư từng
là dược sư, pháp sư. Thiền sư còn được nhân dân tôn là đức Thánh Nguyễn. Một
số ghi chép xưa xếp ông là vị thánh trong tứ bất tử.
Thứ hai, Nguyễn Minh Không là một thày thuốc tài ba: Hậu thế biết đến
và ghi nhận công lao của thiền sư không chỉ là nhà tu hành mộ đạo mà còn là
một thày thuốc tài ba, tận tâm chữa bệnh cho dân, cứu nhân độ thế. Ông đi nhiều
nơi chữa bệnh và để dấu ấn nhiều nhất trên chính quê hương. Không chỉ hái cây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status