LUẬN án TIẾN sĩ QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH cơ cấu LAO ĐỘNG THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VÙNG ĐỒNG BẰNG bắc bộ nước TA - Pdf 39

5

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đồng bằng Bắc Bộ là một vùng châu thổ rộng lớn ở miền Bắc nước
ta,được hình thành do phù sa của hai hệ thống sông Hồng và sông Thái
bình bồi đắp; đây cũng là nơi khai sinh ra nền văn minh sông Hồng rực rỡ
với cây lúa nước nổi tiếng. Trải qua các thời kỳ lịch sử, đến nay ĐBBB đã
vươn lên trở thành vùng lãnh thổ có vai trò rất quan trọng trong đời sống
kinh tế - xã hội của đất nước. Với những tiềm năng và thế mạnh của mình,
vùng không chỉ trở thành một trong hai vựa lúa chính của cả nước mà còn
có những đóng góp đáng kể vào giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của
nền kinh tế quốc dân.
Trong những năm qua, nhờ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, ĐBBB
nói chung và khu vực nông nghiệp, nông thôn của vùng nói riêng đã có sự
phát triển vượt bậc, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của vùng đã chuyển đổi
tích cực theo hướng: Giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp xây dựng và dịch vụ. Có thể nói, đây là sự chuyển biến rất đáng mừng, phù
hợp với xu hướng vận động có tính quy luật của quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, cơ cấu lao động đã từng diễn ra ở các nước trên thế giới.
Tuy vậy, cho đến nay, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao
động nông nghiệp, nông thôn của vùng vẫn còn diễn ra khá chậm. Điều này
được thể hiện không chỉ ở qui mô, tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề;
trình độ trang bị kỹ thuật - công nghệ; chất lượng của nguồn lao động... mà
còn ở cả trình độ tổ chức sản xuất và tổ chức lao động. Những yếu kém trên
trong thực tế đã trở thành các lực cản không nhỏ làm chậm quá trình tăng
trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Chính vì vậy, đẩy nhanh quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn của
vùng theo hướng CNH, HĐH để đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong




7
...
Ngoài ra, còn có một số bài của các tác giả khác viết về vấn đề chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đã được đăng tải trên tạp chí như:
- "Mấy vấn đề về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn vùng đồng bằng sông Hồng" - Bạch Hồng Việt, Tạp chí Nghiên cứu
kinh tế, 4/1996.
- "Những biện pháp tích cực nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ở đồng bằng sông Hồng" - Vũ Phạm Quyết Thắng, Tạp
chí Nghiên cứu kinh tế, 4/1996.
- "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Thực trạng 1996 - 1998,
triển vọng 1999 - 2000" - Nguyễn Lâm, Tạp chí Thông tin tài chính, 12/1998.
v.v...
Nhưng các công trình trên hoặc chỉ đi sâu xem xét riêng từng vấn
đề trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; hoặc chỉ giới hạn lại
trong phạm vi nghiên cứu đã định, chưa có luận án Phó tiến sĩ hay Tiến sĩ
nào đi sâu nghiên cứu vấn đề chuyển đổi cơ cấu lao động trên cơ sở có sự
gắn kết chặt chẽ với quá trình phát triển của CNH, HĐH đã và đang diễn ra
ở vùng ĐBBB nước ta. Vì vậy, đây là một đề tài mới, không trùng với một
đề tài luận án Phó tiến sĩ hoặc Tiến sĩ nào đã bảo vệ trước đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án: Làm rõ vị trí, vai trò, tiềm năng và thực trạng
quá trình CDCCLĐ theo hướng CNH, HĐH trong nông nghiệp, nông thôn
vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay. Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và
các giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh quá trình CDCCLĐ theo hướng CNH,
HĐH trong nông nghiệp, nông thôn của vùng thời gian tới.
Nhiệm vụ của luận án:



CNH, HĐH trong nông nghiệp, nông thôn ĐBBB trong thời gian tới.
- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình CDCCLĐ theo
hướng CNH, HĐH trong nông nghiệp, nông thôn ĐBBB thời gian tới.
6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự CDCCLĐ theo hướng
CNH, HĐH ở vùng ĐBBB, bao gồm 11 tỉnh thành phố là: Hà Nội, Hải Phòng,
Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Tây, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nam Định,
Thái Bình và Ninh Bình.
- Phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ dừng lại ở trong khu vực nông
nghiệp, nông thôn của vùng ĐBBB, bởi đây là địa bàn rộng, có quy mô dân số
lớn nhưng CCLĐ còn lạc hậu và chuyển dịch chậm.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
được kết cấu thành 3 chương, 10 tiết.


10

Chương 1
NHỮNG LUẬN CỨ KHOA HỌC CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA TRONG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM

1.1. VỊ TRÍ CỦA NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẤT NƯỚC

Như lịch sử đã cho thấy, sau khi diễn ra cuộc cách mạng phân công
lao động xã hội lần thứ hai với nội dung cơ bản là: Tách thủ công ra khỏi
nông nghiệp thì thành thị đã ra đời. Kể từ mốc lịch sử trên, nền sản xuất xã
hội đã chính thức hình thành nên hai khu vực là: Kinh tế đô thị và kinh tế

chung có những đặc trưng cơ bản sau:
- Là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng dân cư, trong
đó chủ yếu là nông dân. Ở góc độ dân số và lao động, đây chính là địa bàn
tập trung sinh sống của một bộ phận dân cư làm nghề nông.Vì vậy, ngoài
việc là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm và một số sản phẩm cần thiết
khác cho đời sống xã hội ra, nông thôn còn là nơi cung cấp lao động và đầu
vào cho công nghiệp, dịch vụ để các ngành này có điều kiện đầu tư trở lại
vào nông thôn hoặc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình.
- Là khu vực có kết cấu hạ tầng, trình độ phát triển sản xuất
hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường thấp hơn so với đô thị. Đặc
trưng này cho thấy, trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn nói
chung và trong các nước đang phát triển nói riêng, còn kém hơn so với đô
thị. Do đó, trong nông thôn thường tồn tại những mâu thuẫn phản ánh sự mất
cân đối giữa quy mô của dân số với khả năng đáp ứng nhu cầu về việc làm,
thu nhập từ các ngành nghề. Vì vậy, nếu không quan tâm đến đầu tư phát triển
nông nghiệp và kinh tế nông thôn thì những mâu thuẫn nói trên sẽ ngày càng


12
trở nên gay gắt hơn, làm phát sinh các nhân tố gây mất ổn định về kinh tế - xã
hội cho khu vực.
- Nông thôn cũng là nơi có đời sống, trình độ văn hóa và khoa
học - công nghệ thấp hơn đô thị. Thực tế cho thấy, do trình độ phát triển
kinh tế - xã hội nói chung của nông thôn thường thấp hơn so với đô thị, nên
đời sống vật chất, tinh thần của dân cư ở đây chưa theo kịp với mức sống
chung của xã hội. Chính vì vậy trình độ văn hóa cũng như khả năng tiếp
nhận, triển khai những thành tựu khoa học - công nghệ vào đời sống và
sản xuất ở nông thôn có nhiều hạn chế. Do có sự chênh lệch này nên dân
cư sinh sống ở nông thôn thường xuyên phải chịu tác động của lực hút
rất mạnh từ đô thị. Đây chính là nguyên nhân cơ bản của tình trạng di

phòng của đất nước.
Nhận thức được vị trí quan trọng của nông thôn nên thời gian qua,
Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn,
thể hiện sự quan tâm sâu sắc của mình đến khu vực kinh tế này. Tuy vậy
cho đến nay, nông thôn nước ta về cơ bản vẫn đang còn ở trong tình trạng
lạc hậu so với nông thôn của nhiều quốc gia trên thế giới. Điều đó được thể
hiện qua các đặc điểm nổi bật sau:
- Cơ cấu kinh tế nông thôn còn mang nặng tính thuần nông. Đặc
điểm này được thể hiện khá rõ ở cả trong cơ cấu sản phẩm, tỷ trọng lao
động, cơ cấu đầu tư cho đến hình thức tổ chức sản xuất... Tính đến năm
1998, cơ cấu GDP của khu vực nông thôn như sau:
Nông nghiệp: 70,30%
Công nghiệp: 15,90%
Dịch vụ:

13,80% [42]


14
Các tỷ lệ trên cho thấy, tỷ trọng sản xuất công nghiệp và dịch vụ là
các ngành phản ánh quy mô, trình độ CNH, HĐH trong nông nghiệp, nông
thôn còn thấp. Mặt khác, cơ cấu kinh tế như trên cũng cho thấy trình độ
phát triển của bản thân ngành nông nghiệp nước ta hiện cũng đang còn ở
trong tình trạng lạc hậu và có tỷ suất hàng hóa nhỏ bé.
- Kết cấu hạ tầng và trình độ trang bị kỹ thuật còn yếu kém, chưa
đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của sản xuất và đời sống trong khu vực
kinh tế nông thôn. Đặc điểm này đã gây ảnh hưởng không nhỏ cho quá
trình tích tụ, tập trung tư liệu sản xuất và làm chậm quá trình CDCCKT,
CCLĐ nông nghiệp, nông thôn.
- Tỷ lệ gia tăng dân số còn ở mức độ khá cao, nên đã tạo ra áp lực

kinh tế nông thôn, diễn ra trong một khoảng thời gian, không gian và điều
kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Như vậy, về mặt bản chất, CCKT nông thôn phản ánh sự vận
động, phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nông thôn
thông qua việc xem xét trình độ phát triển của phân công lao động cũng
như quan hệ sở hữu và phân phối trong nội bộ khu vực nông thôn.
Là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ phát triển của phân công
lao động, nên CCKT nông thôn có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là, CCKT nông thôn mang tính khách quan. Đặc trưng này thể
hiện việc hình thành và phát triển của CCKT nông thôn là do kết quả của sự
vận động nội tại, bên trong của bản thân lực lượng sản xuất trong nông thôn
quy định.
Hai là, CCKT nông thôn mang tính lịch sử, xã hội tương đối đậm
nét, phản ánh trình độ phát triển kinh tế của xã hội trong mỗi giai đoạn lịch
sử nhất định.
Tính lịch sử của CCKT nông thôn thể hiện ở chỗ, tương ứng với
mỗi giai đoạn phát triển của xã hội sẽ có một CCKT đặc trưng, phản ánh
những điều kiện kinh tế - xã hội tương ứng giai đoạn lịch sử đó. Khi những


16
điều kiện này thay đổi sẽ làm cho các thành tố của CCKT nông thôn thay đổi
theo.
Tính xã hội của CCKT nông thôn biểu hiện thông qua sự tồn tại và
phát triển của một cơ cấu ngành, nghề với mục đích nhằm để thỏa mãn
những nhu cầu tiêu dùng đa dạng của con người trong từng giai đoạn nhất
định. Chính nhờ cơ cấu đó mà các quan hệ tỷ lệ phân bố sức lao động giữa
các ngành nghề đã hình thành, tạo nên một CCLĐ phù hợp trong khu vực
kinh tế nông thôn.
Ba là, CCKT nông thôn luôn luôn vận động và phát triển theo chiều

động dịch vụ phi nông nghiệp.
+ Các phân ngành hẹp hơn, như trong nông nghiệp có: Trồng trọt,
chăn nuôi...
Trong công nghiệp có: Công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp
cơ khí nông nghiệp...
Trong dịch vụ có: Dịch vụ sản xuất, dịch vụ bảo vệ thực vật...
Từ các phân ngành hẹp như trên, tùy theo quy mô và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn, các phân ngành
đó lại được tiếp tục phân chia thành các ngành nhỏ hẹp hơn nữa. Kết quả
cuối cùng sẽ hình thành nên một tổ hợp ngành nghề đa dạng và phức tạp
trong khu vực kinh tế nông thôn.
- Cơ cấu kinh tế vùng:
Có thể hiểu đó là quan hệ tỷ lệ về kinh tế và xu hướng vận động
giữa các vùng và trong nội bộ vùng lãnh thổ của một quốc gia. Cơ sở
kinh tế để hình thành CCKT vùng là do sự phát triển của phân công lao
động theo lãnh thổ quy định.
Như trên đã nêu, do nông thôn là khu vực rộng lớn với những đặc
điểm về kinh tế, xã hội, cũng như điều kiện tự nhiên... hết sức đa dạng,
nên không chỉ tạo ra sự phát triển khác biệt về kinh tế giữa các vùng, mà


18
còn tạo ra sự phát triển khác biệt ngay ở cả trong nội bộ vùng, làm hình
thành nên các tiểu vùng lãnh thổ. Chính sự phát triển này đã tạo nên sự
đan xen giữa phân công lao động theo ngành, nghề với phân công lao
động theo lãnh thổ trong nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, phân công
lao động theo ngành, nghề sẽ đóng vai trò quyết định đến việc hình
thành và phát triển của CCLĐ theo vùng lãnh thổ; bởi lẽ, vùng lãnh thổ
chính là địa bàn triển khai, bố trí cơ cấu ngành, nghề đã hình thành trong
những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể.

nước ta nói riêng thường chậm phát triển hơn so với đô thị. Vì vậy, về mặt
kỹ thuật, trong nông nghiệp và nông thôn đã hình thành CCKT mang đậm
nét cổ truyền với hình thức tổ chức và kỹ thuật sản xuất lạc hậu, manh
mún.
Chính những đặc tính kỹ thuật trên đã tạo nên tâm lý, tập quán đặc
thù của dân cư nông thôn và chi phối phương thức sản xuất kinh doanh của
họ.
1.2.2. Cơ cấu lao động nông thôn
Như đã nêu, CCKT nông thôn hình thành và phát triển là do sự vận
động của lực lượng sản xuất; tiếp đó, nó lại trở thành yếu tố chi phối sự
hình thành và phát triển của CCLĐ nông thôn. Do vậy có thể hiểu CCLĐ
nông thôn như sau:
CCLĐ nông thôn là một phạm trù kinh tế, được hình thành, phát
triển trên cơ sở của CCKT nông thôn và phản ánh quan hệ tỷ lệ cũng như
xu hướng vận động, phát triển của các yếu tố, bộ phận tạo nên nguồn lao
động nông thôn.
Về nội dung, CCLĐ nông thôn được phân chia thành CCLĐ xã hội
và CCLĐ thực tế.


20
- CCLĐ xã hội:
Là việc quan sát cơ cấu của nguồn lao động nông thôn ở khía cạnh
xã hội, trong đó bao gồm các nội dung:
+ CCLĐ theo giới tính và độ tuổi:
Theo cách phân chia này, lao động nông thôn sẽ chia thành:


Lao động nam và nữ




Lao động ngành nghề khác


21
Trong nội bộ từng ngành, lao động lại được chia thành những ngành hẹp
hơn, như:


Trong lao động nông nghiệp có: Lao động trồng trọt, lao động

chăn nuôi.


Lao động công nghiệp, xây dựng lại chia thành: Lao động tiểu thủ

công nghiệp, lao động công nghiệp chế biến, lao động cơ khí...
Từ các ngành hẹp, lao động nông thôn lại tiếp tục được phân chia
thành các nghề với chuyên môn hẹp hơn nữa.... Kết quả cuối cùng của sự
phân công lao động trên là tạo nên một CCLĐ ngành nghề rất đa dạng với
chuyên môn sâu, thậm chí rất sâu trong nông thôn. Đây chính là điều kiện
cơ bản để phát triển kỹ năng nghề nghiệp và nâng cao năng suất lao động
của các ngành, nghề.
+ CCLĐ theo vùng lãnh thổ:
Là các quan hệ tỷ lệ cũng như xu hướng vận động, phát triển của
nguồn lao động giữa các vùng và trong nội bộ vùng lãnh thổ ở nông thôn.
Việc hình thành và phát triển CCLĐ theo vùng lãnh thổ là kết quả của sự
phân công lao động theo vùng và trong nội bộ từng vùng. Ưu thế cơ bản
của sự phân công này là đã tạo điều kiện để phát huy các lợi thế so sánh

động của các bộ phận cấu thành trong nguồn lao động nông thôn. Theo đó,
CCLĐ nông thôn sẽ bao gồm:
- Dân số hoạt động kinh tế ở nông thôn:
Là những người từ 15 tuổi trở lên đang hoặc không có việc làm,
nhưng có nhu cầu làm việc. Đây chính là lực lượng lao động nông thôn, bộ
phận này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn lao động hiện có ở
thời điểm báo cáo.


23
- Dân số không hoạt động kinh tế, gồm những người từ 15 tuổi trở lên
không thuộc bộ phận có việc làm và không có việc làm vì các lý do sau
đây:


Đang đi học

• Làm
• Già


nội trợ gia đình

cả, ốm đau, tàn tật mất sức lao động

Đang ở các tình trạng khác.

+ CCLĐ theo trình độ chuyên môn kỹ thuật:
Là quan hệ tỷ lệ cũng như xu hướng biến động giữa các loại lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật khác nhau trong khu vực nông thôn.

Riêng đối với lao động có chuyên môn kỹ thuật lại có thể được
phân chia thành các loại như:
• Lao

động có trình độ công nhân kỹ thuật

• Lao

động có trình độ sơ cấp


24
• Lao

động có trình độ trung học chuyên nghiệp

• Lao

động có trình độ cao đẳng và đại học

• Lao

động có trình độ trên đại học

Trong mỗi loại trình độ nói trên, tùy theo mức độ lành nghề khác
nhau, lao động lại tiếp tục được chia thành các nhóm có trình độ chuyên
môn cao, trung bình và thấp. Nếu theo cách phân chia như hiện nay, tỷ lệ
lao động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật ở nông thôn nước ta mới chỉ
ở mức 9,3%, trong đó:


Trong nông nghiệp, nông thôn, với điều kiện lao động bình thường,
khi quỹ thời gian làm việc trong kỳ chưa được sử dụng hết thì chúng còn là
một tiềm năng để nâng cao năng suất lao động. Tác động của yếu tố này tới
sự biến thiên của năng suất lao động trong nông nghiệp, nông thôn có thể
được lượng hóa bằng hệ thức sau:
Wngày = Wh x th
Wn = Wngày x tn
Hay:

Wn = Wh x th x tn

Trong đó: Wn: Năng suất lao động bình quân tháng hoặc năm
Wngày: Năng suất lao động bình quân ngày.
Wh: Năng suất lao động bình quân giờ
th: Số giờ làm việc thực tế trong ngày
tn: Số ngày làm việc thực tế trong tháng hoặc năm.
Theo các hệ thức trên, nếu mức năng suất lao động bình quân giờ
không thay đổi thì khi thay đổi số giờ công, ngày công làm việc trong ngày,
trong tháng hoặc năm sẽ làm thay đổi mức năng suất lao động trong kỳ.
Nội dung kinh tế này đã cho thấy tầm quan trọng của việc phân tích CCLĐ
thực tế đối với sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, khi mà việc sử
dụng lao động ở đây bị ảnh hưởng nhiều bởi tính thời vụ của sản xuất nông
nghiệp.
Từ những phân tích trên có thể rút ra được các nhận định sau đây:
Một là, CCLĐ được hình thành trên cơ sở CCKT và phụ thuộc vào
xu hướng biến đổi của CCKT. Tuy nhiên, CCLĐ cũng có tính độc lập


26
tương đối, thể hiện: Một CCLĐ tiên tiến, hợp lý sẽ có tác động tích cực trở

v.v...
Với những cách tiếp cận trên, chúng tôi cho rằng cách đặt vấn đề
trong khái niệm thứ ba là cách hiểu đúng đắn nhất về bản chất và mục đích
của CNH, HĐH là nhằm tăng năng suất lao động xã hội, yếu tố quyết định
nhất cho sự tồn tại của một chế độ xã hội. Tại hội nghị Ban chấp hành
Trung ương lần thứ 7 (khóa VII) của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng
đã khẳng định:
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội
từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương
pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và
tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao
[17 ].
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) cũng
đã đưa ra định nghĩa về CNH như sau:
CNH là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình
này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân
được động viên để phát triển một cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở
trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm CCKT này là có một
bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản
xuất và hàng tiêu dùng có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền
kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm tới sự tiến bộ về kinh
tế - xã hội [36].


28
Qua các quan niệm về CNH nêu trên, ta có thể thấy một số điểm
cần chú ý như sau:
- Xét về mặt mục tiêu, thực hiện CNH là nhằm đưa nền kinh tế

động.
- Về hình thức biểu hiện, có thể nhận biết được sự hiện diện của CNH
qua các dấu hiệu sau:
+ Có sự thay đổi của qui mô sản xuất từ chỗ chỉ lấy qui mô sản xuất
gia đình là chủ yếu, chuyển sang qui mô sản xuất theo kiểu công xưởng
lớn.
+ Tỷ trọng sản xuất nông nghiệp giảm đi, tỷ trọng sản xuất công
nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng lên.
+ CCLĐ có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động
nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, dịch vụ...
+ Tốc độ đô thị hóa tăng lên, thể hiện thông qua việc gia tăng tỷ lệ
dân cư tập trung tại các đô thị và khu công nghiệp.
+ Sử dụng rộng rãi năng lượng cơ học vào trong quá trình sản xuất.
+ Một số ngành, nghề mới được hình thành trên cơ sở của hệ thống
cơ sở hạ tầng và thông tin liên lạc phát triển.
+ Các yếu tố của thị trường ngày càng được hoàn thiện và phát
triển.
+ Có sự áp dụng rộng rãi các phát minh mới vào sản xuất.
v.v...
Còn hiện đại hóa được hiểu là việc trang bị, sử dụng những yếu tố
của công nghệ tiên tiến vào trong quá trình sản xuất.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status